VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Hình Thờ Trong Phật Giáo

· Tượng và tranh thờ qua các nước

Ảnh chụp hiện vật thật, có giấy phép mở và ghi tên người chụp. Mỗi ý đều ghi nguồn. Chỗ nào thư viện chưa chắc thì nói rõ là chưa chắc.

Ảnh
105
ảnh chụp hiện vật thật, không vẽ lại
Nước và vùng
17
từ Ấn Độ tới Nhật Bản, đang thêm dần
Nguồn
149
bảo tàng, UNESCO, báo và tạp chí Phật giáo

Trang này gom hình thờ của Phật giáo qua các nước: thờ vị nào, nhận ra bằng dấu gì, bày trên ban thờ ra sao. Thư viện dùng ảnh chụp tượng và tranh thật đang ở chùa hay bảo tàng, không vẽ lại chân dung các bậc thánh. Hình vẽ duy nhất trên trang là một sơ đồ. Dưới mỗi ảnh có tên người chụp và giấy phép. Phần chùa Việt theo các nguồn của Phật giáo Việt Nam và giới nghiên cứu trong nước. Trang đang được bổ sung, nước nào chưa có sẽ thêm dần.

IThuở Đầu Chưa Tạc Hình Phật

Trong nghệ thuật Phật giáo sớm nhất, Đức Phật không hiện ra bằng hình người. Chỗ của Ngài được chỉ bằng một dấu hiệu: đôi dấu chân, một tòa ngồi để trống, hay khoảng trống dưới chiếc lọng. Cội Bồ đề, bánh xe Pháp và ngôi tháp cũng thuộc nhóm dấu hiệu này, thấy nhiều trên phù điêu ở Sanchi, Bharhut và Amaravati.

Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Buddhism and Buddhist Art. Bảo tàng Anh, phòng Amaravati. Smarthistory, The stupa.
Phù điêu Bharhut: người đời lễ tòa ngồi trống dưới cội Bồ đề, không có hình Phật. Bảo tàng Ấn Độ, Kolkata.
Phù điêu Bharhut: người đời lễ tòa ngồi trống dưới cội Bồ đề, không có hình Phật. Bảo tàng Ấn Độ, Kolkata.Ảnh: Ken Kawasaki, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Phù điêu Bharhut: lễ bánh xe Pháp. Sa thạch, khoảng thế kỷ 2 trước Công nguyên. Bảo tàng Ấn Độ, Kolkata.
Phù điêu Bharhut: lễ bánh xe Pháp. Sa thạch, khoảng thế kỷ 2 trước Công nguyên. Bảo tàng Ấn Độ, Kolkata.Ảnh: Biswarup Ganguly, CC BY 3.0, Wikimedia Commons
Phù điêu Bharhut: chư thiên bay quanh một ngôi tháp. Bảo tàng Ấn Độ, Kolkata.
Phù điêu Bharhut: chư thiên bay quanh một ngôi tháp. Bảo tàng Ấn Độ, Kolkata.Ảnh: Anandajoti, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Dấu chân Phật (buddhapada) từ đại tháp Amaravati. Bảo tàng Anh, London.
Dấu chân Phật (buddhapada) từ đại tháp Amaravati. Bảo tàng Anh, London.Ảnh: Jl FilpoC, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Dấu chân Phật (buddhapada) vẫn được tôn kính sau khi đã có tượng. Britannica ghi rằng dấu chân và các dấu tích khác của Đức Phật tiếp tục là đối tượng lễ bái bên cạnh xá lợi, tháp và tượng.

Nguồn: Britannica, Buddhism: Popular religious practices.
Giới học giả chưa thống nhất

Cách hiểu cũ cho rằng người Phật tử thời đầu cố ý tránh tạc hình Phật và dùng biểu tượng thay vào. Năm 1990, Susan L. Huntington phản bác: theo bà, nhiều phù điêu không phải cảnh đời Phật bị thay bằng biểu tượng, mà là cảnh người đời hành hương, lễ bái ở chính các thánh tích. Năm 1991, Vidya Dehejia đáp lại rằng các biểu tượng ấy mang nhiều lớp nghĩa cùng lúc: một cội cây có thể vừa chỉ Đức Phật, vừa chỉ thánh địa, vừa chỉ một ý của giáo pháp. Câu hỏi này tới nay chưa ngã ngũ. Thư viện ghi cả hai phía và không chọn bên nào.

Nguồn: Susan L. Huntington, Early Buddhist Art and the Theory of Aniconism, Art Journal 49 số 4, 1990. Vidya Dehejia, Aniconism and the Multivalence of Emblems, Ars Orientalis 21, 1991 (thư mục).
Lễ tòa ngồi trống, đá Mathura, thời Quý Sương, khoảng năm 100 tới 300. Bảo tàng Victoria và Albert, London. Cảnh lễ biểu tượng vẫn được tạc khi đã có tượng Phật.
Lễ tòa ngồi trống, đá Mathura, thời Quý Sương, khoảng năm 100 tới 300. Bảo tàng Victoria và Albert, London. Cảnh lễ biểu tượng vẫn được tạc khi đã có tượng Phật.Ảnh: Ethan Doyle White, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

IINhững Pho Tượng Phật Đầu Tiên

Hình Phật trong dáng người xuất hiện vào thời Quý Sương (Kushan), quanh thế kỷ 1 Công nguyên. Hai trung tâm cùng tạo ra kiểu tượng riêng của mình rồi ảnh hưởng qua lại: Gandhara ở tây bắc (nay thuộc Pakistan và Afghanistan) và Mathura ở trung bắc Ấn Độ. Các nguồn đã đọc không khẳng định nơi nào làm trước.

Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Kushan Empire. Britannica, Gandhara art. Britannica, Mathura art.

Gandhara

Nhận ra: Mặt trẻ, tóc gợn sóng, áo dày nhiều nếp phủ hai vai

Chịu ảnh hưởng Hy Lạp và La Mã rõ nhất. Britannica so gương mặt với thần Apollo, Bảo tàng Metropolitan so tấm áo với áo toga La Mã. Chất liệu là đá phiến xanh xám, từ thế kỷ 3 dùng nhiều vữa stucco. Tượng vốn được tô màu và thếp vàng.

Tượng Phật đứng, đá phiến, vùng Gandhara gần Peshawar, thế kỷ 2 tới 3. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.
Tượng Phật đứng, đá phiến, vùng Gandhara gần Peshawar, thế kỷ 2 tới 3. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.Ảnh: Daderot, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Gandhara art. Bảo tàng Metropolitan, Gandhara. Bảo tàng Metropolitan, Buddhism and Buddhist Art.

Mathura

Nhận ra: Vai rộng, ngực nở, áo mỏng để trần vai phải, tay phải giơ ấn vô úy

Tạc bằng sa thạch đỏ đốm của vùng này, nối theo truyền thống tượng yaksha bản địa. Pho tượng ngồi nổi tiếng từ Katra mang hình Phật nhưng chính bài minh khắc trên tượng lại gọi là Bồ tát.

Tượng ngồi từ Katra, sa thạch đỏ Mathura, thời Quý Sương, tay phải giơ ấn vô úy. Bài minh trên tượng gọi là Bồ tát. Bảo tàng Mathura.
Tượng ngồi từ Katra, sa thạch đỏ Mathura, thời Quý Sương, tay phải giơ ấn vô úy. Bài minh trên tượng gọi là Bồ tát. Bảo tàng Mathura.Ảnh: Biswarup Ganguly, CC BY 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Mathura art. Bảo tàng Metropolitan, Buddhism and Buddhist Art.

Gupta

Nhận ra: Tóc xoắn ốc nhỏ, mắt nhìn xuống, áo mỏng như dính vào thân

Thời Gupta (thế kỷ 4 tới 6) gom nét của Gandhara và Mathura thành kiểu tượng mà Bảo tàng Metropolitan gọi là hình mẫu lý tưởng. Kiểu này về sau thành khuôn cho Nepal, Sri Lanka, Thái Lan, Indonesia và Trung Hoa. Pho nổi tiếng nhất là tượng Phật thuyết bài pháp đầu tiên ở Sarnath, thế kỷ 5: tay kết ấn chuyển pháp luân, dưới bệ có bánh xe và đôi hươu.

Phật thuyết bài pháp đầu tiên, sa thạch, Sarnath, thế kỷ 5, thời Gupta. Hai tay kết ấn chuyển pháp luân. Bảo tàng Sarnath.
Phật thuyết bài pháp đầu tiên, sa thạch, Sarnath, thế kỷ 5, thời Gupta. Hai tay kết ấn chuyển pháp luân. Bảo tàng Sarnath.Ảnh: พระมหาเทวประภาส วชิรญาณเมธี (Tevaprapas Makklay), CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Buddhism and Buddhist Art. Britannica, Mathura art. Wikipedia, Buddha Preaching his First Sermon (Sarnath). Đại học Washington, Silk Road Seattle, tượng Phật thời Gupta.

IIICách Nhận Ra Một Pho Tượng Phật

Tướng trên thân

Truyền thống kể Đức Phật có ba mươi hai tướng của bậc đại nhân, chép trong kinh Lakkhana (Trường Bộ 30) và kinh Brahmayu (Trung Bộ 91). Tượng không tạc đủ cả ba mươi hai tướng. Ba tướng hay gặp nhất là nhục kế (ushnisha, chỗ nhô trên đỉnh đầu), bạch hào (urna, điểm giữa hai chân mày, kinh tả là một chòm lông trắng) và dái tai dài, nhắc tới đôi hoa tai nặng mà thái tử đã tháo bỏ khi xuất gia. Các học giả còn bàn về thời điểm danh sách ba mươi hai tướng thành hình.

Nguồn: Asia Society Museum, The Image of the Buddha. Frank L. Chance, Which Buddha Is This Anyway, Education About Asia 17 số 1, 2012.

Phật mặc y của người xuất gia, không đeo trang sức. Bồ tát thì mặc y phục và trang sức sang trọng. Đây là cách phân biệt nhanh nhất giữa hai nhóm tượng.

Nguồn: Đại học Washington, Silk Road Seattle, tượng Phật thời Gupta.
Đầu tượng Phật thời Gupta, Sarnath, thế kỷ 5: nhục kế trên đỉnh đầu, tóc xoắn ốc, dái tai dài. Bảo tàng Quốc gia New Delhi.
Đầu tượng Phật thời Gupta, Sarnath, thế kỷ 5: nhục kế trên đỉnh đầu, tóc xoắn ốc, dái tai dài. Bảo tàng Quốc gia New Delhi.Ảnh: Gary Todd, CC0, Wikimedia Commons

Bốn tư thế

Tượng Phật có bốn tư thế căn bản: ngồi, đứng, đi và nằm. Ngồi thường là xếp bằng kiết già, cũng có tượng ngồi buông hai chân như ngồi ghế. Phật nằm nghiêng bên phải là cảnh Ngài sắp nhập Niết bàn. Phật đi là sáng tạo riêng của nghệ thuật Sukhothai ở Thái Lan từ thế kỷ 14, Britannica ghi rằng kiểu này không có ở Ấn Độ.

Nguồn: Wikipedia, Iconography of Gautama Buddha in Laos and Thailand. Wikipedia, Reclining Buddha. Britannica, Sukhothai style.
Ấn thiền định: hai tay đặt trong lòng. Tượng tạc vào vách đá Gal Vihara, Polonnaruwa, Sri Lanka, thế kỷ 12.
Ấn thiền định: hai tay đặt trong lòng. Tượng tạc vào vách đá Gal Vihara, Polonnaruwa, Sri Lanka, thế kỷ 12.Ảnh: Philip Nalangan, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Phật đứng: tượng đồng Sultanganj, Ấn Độ. Bảo tàng Birmingham, Anh.
Phật đứng: tượng đồng Sultanganj, Ấn Độ. Bảo tàng Birmingham, Anh.Ảnh: Birmingham Museums, CC0, Wikimedia Commons
Phật đi: tượng đồng Sukhothai, thế kỷ 14. Bảo tàng Quốc gia Bangkok.
Phật đi: tượng đồng Sukhothai, thế kỷ 14. Bảo tàng Quốc gia Bangkok.Ảnh: Photo Dharma from Sadao, Thailand, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Phật nằm nhập Niết bàn, tạc vào vách hang 26, Ajanta, Ấn Độ.
Phật nằm nhập Niết bàn, tạc vào vách hang 26, Ajanta, Ấn Độ.Ảnh: Photo Dharma from Sadao, Thailand, CC BY 2.0, Wikimedia Commons

Thủ ấn, thế tay của tượng

Thủ ấnHình dángÝ nghĩa theo nguồn
Xúc địa (bhumisparsha)Ngồi, tay phải buông qua gối, đầu ngón chạm đấtGiây phút thành đạo, sự vững chãi không lay chuyển
Thiền định (dhyana)Ngồi, hai tay ngửa đặt trong lòng, tay phải trên tay tráiThiền định
Chuyển pháp luân (dharmachakra)Hai tay ngang ngực, ngón cái và ngón trỏ mỗi tay chạm nhauThuyết pháp, bài pháp đầu tiên ở Sarnath
Vô úy (abhaya)Tay phải giơ lên, lòng tay hướng raKhông sợ hãi, che chở
Thí nguyện (varada)Bàn tay buông xuống, lòng tay hướng raBan cho, lòng từ
Thuyết pháp (vitarka)Tay giơ lên, ngón cái chạm ngón trỏGiảng giải, luận bàn giáo pháp
Hiệp chưởng (anjali)Hai lòng tay chắp trước ngựcCung kính. Thường là thế tay của người lễ và của Bồ tát
Nguồn: Smarthistory, bài về thủ ấn. BuddhaNet, Mudras. Britannica, mudra. Frank L. Chance, Which Buddha Is This Anyway, Education About Asia 17 số 1, 2012.

Ấn thí nguyện có nguồn tả bằng tay trái, có nguồn tả bằng tay phải. Cả hai đều gặp trên tượng, nên thư viện không ghi một tay nào làm lệ.

Ấn xúc địa: tay phải chạm đất. Tượng đồng Nalanda, thời Pala, khoảng thế kỷ 9 tới 10. Bảo tàng Ấn Độ, Kolkata.
Ấn xúc địa: tay phải chạm đất. Tượng đồng Nalanda, thời Pala, khoảng thế kỷ 9 tới 10. Bảo tàng Ấn Độ, Kolkata.Ảnh: Biswarup Ganguly, CC BY 3.0, Wikimedia Commons
Phật thuyết bài pháp đầu tiên, sa thạch, Sarnath, thế kỷ 5, thời Gupta. Hai tay kết ấn chuyển pháp luân. Bảo tàng Sarnath.
Phật thuyết bài pháp đầu tiên, sa thạch, Sarnath, thế kỷ 5, thời Gupta. Hai tay kết ấn chuyển pháp luân. Bảo tàng Sarnath.Ảnh: พระมหาเทวประภาส วชิรญาณเมธี (Tevaprapas Makklay), CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Tượng ngồi từ Katra, sa thạch đỏ Mathura, thời Quý Sương, tay phải giơ ấn vô úy. Bài minh trên tượng gọi là Bồ tát. Bảo tàng Mathura.
Tượng ngồi từ Katra, sa thạch đỏ Mathura, thời Quý Sương, tay phải giơ ấn vô úy. Bài minh trên tượng gọi là Bồ tát. Bảo tàng Mathura.Ảnh: Biswarup Ganguly, CC BY 3.0, Wikimedia Commons
Ấn thí nguyện: bàn tay buông xuống, lòng tay hướng ra. Đá bazan, Nalanda, thế kỷ 8 tới 9. Bảo tàng Khảo cổ Nalanda.
Ấn thí nguyện: bàn tay buông xuống, lòng tay hướng ra. Đá bazan, Nalanda, thế kỷ 8 tới 9. Bảo tàng Khảo cổ Nalanda.Ảnh: Sumitsurai, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Ấn thuyết pháp (vitarka): ngón cái chạm ngón trỏ. Tượng Dvaravati, Thái Lan, thế kỷ 7. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.
Ấn thuyết pháp (vitarka): ngón cái chạm ngón trỏ. Tượng Dvaravati, Thái Lan, thế kỷ 7. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.Ảnh: Cleveland Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Hiệp chưởng (chắp tay): một vị Bồ tát chắp tay. Tranh nhỏ trên ván từ Khara Khoto, thế kỷ 13. Bảo tàng Hermitage, Saint Petersburg.
Hiệp chưởng (chắp tay): một vị Bồ tát chắp tay. Tranh nhỏ trên ván từ Khara Khoto, thế kỷ 13. Bảo tàng Hermitage, Saint Petersburg.Ảnh: Không rõ tác giả, Bảo tàng Hermitage, Public domain, Wikimedia Commons

Lệ của người Thái: mỗi ngày trong tuần một dáng Phật

Ở Thái Lan và Lào có tục coi một dáng tượng Phật là hợp với người sinh vào một ngày trong tuần. Đây là tục sống trong dân gian, không phải điều kinh dạy. Ba nguồn đã đọc khớp nhau về danh sách dưới đây nhưng không nguồn nào thuộc giới nghiên cứu.

Nguồn: Buddhistdoor, Buddha images for the seven days of the week. Tạp chí Silpa Wattanatham (Thái Lan), về tượng Phật ngày thứ Hai. Wikipedia, Iconography of Gautama Buddha in Laos and Thailand.
NgàyTên TháiDáng tượng
Chủ nhậtPang Thawai Net (ปางถวายเนตร)Đứng, hai tay bắt chéo trước bụng, mắt nhìn về cội Bồ đề
Thứ HaiPang Ham Yat (ปางห้ามญาติ)Đứng, tay phải giơ lên: Phật can hai họ thôi tranh nước sông Rohini
Thứ BaPang Sai Yat (ปางไสยาสน์)Nằm nghiêng bên phải
Thứ Tư, ban ngàyPang Um Bat (ปางอุ้มบาตร)Đứng, hai tay ôm bình bát
Thứ Tư, ban đêmPang Pa Lelai (ปางป่าเลไลยก์)Phật ở rừng, có voi và khỉ hầu
Thứ NămPang Samathi (ปางสมาธิ)Ngồi thiền, hai tay trong lòng
Thứ SáuPang Ram Phueng (ปางรำพึง)Đứng, hai tay bắt chéo trước ngực
Thứ BảyPang Nak Prok (ปางนาคปรก)Ngồi thiền dưới tán đầu rắn thần Mucalinda

IVChư Phật Trên Ban Thờ

Phật giáo Nam truyền thờ Phật Thích Ca là chính. Phật giáo Bắc truyền và Kim Cương thừa thờ thêm nhiều vị Phật khác. Dưới đây là các vị gặp nhiều nhất và dấu để nhận ra từng vị.

Thích Ca Mâu Ni

Śākyamuni · 釋迦牟尼 · ShakaNhận ra: Y người xuất gia, thường kết ấn xúc địa, thiền định hoặc chuyển pháp luân

Đức Phật lịch sử, được mọi truyền thống tôn thờ. Ngoài tượng thành đạo và thuyết pháp còn có ba dạng tượng theo từng chặng đời. Tượng đản sinh: hài nhi đứng, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất. Ở Nhật, ngày lễ Phật đản người ta rưới trà ngọt lên tượng này. Ở chùa miền Bắc Việt Nam, tượng sơ sinh đứng giữa chín con rồng, gọi là Tòa Cửu Long. Tượng Tuyết Sơn: Thích Ca gầy trơ xương trong sáu năm khổ hạnh trước khi thành đạo, chùa Keo, chùa Tây Phương, chùa Bút Tháp đều có. Cùng chặng đời ấy, nghệ thuật Gandhara có pho tượng khổ hạnh nổi tiếng ở Bảo tàng Lahore, tên đúng hơn là thái tử Tất Đạt Đa khổ hạnh vì khi ấy Ngài chưa thành Phật.

Phật đản sinh (tanjōbutsu), đồng mạ vàng, Nhật Bản, thời Asuka, thế kỷ 7. Phòng trưng bày Freer, Washington.
Phật đản sinh (tanjōbutsu), đồng mạ vàng, Nhật Bản, thời Asuka, thế kỷ 7. Phòng trưng bày Freer, Washington.Ảnh: Daderot, Public domain, Wikimedia Commons
Thích Ca sơ sinh đứng giữa vòng rồng, kiểu Tòa Cửu Long, Việt Nam, thế kỷ 19. Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh.
Thích Ca sơ sinh đứng giữa vòng rồng, kiểu Tòa Cửu Long, Việt Nam, thế kỷ 19. Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Tuyết Sơn, gỗ sơn, theo tượng chùa Tây Phương (nhãn bảo tàng ghi năm 1794). Ảnh chụp hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, thư viện chưa rõ đây là tượng gốc hay bản làm lại.
Tuyết Sơn, gỗ sơn, theo tượng chùa Tây Phương (nhãn bảo tàng ghi năm 1794). Ảnh chụp hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, thư viện chưa rõ đây là tượng gốc hay bản làm lại.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Thái tử Tất Đạt Đa khổ hạnh (thường gọi là Phật nhịn ăn), tìm thấy ở Sikri, nghệ thuật Gandhara. Bảo tàng Lahore, Pakistan.
Thái tử Tất Đạt Đa khổ hạnh (thường gọi là Phật nhịn ăn), tìm thấy ở Sikri, nghệ thuật Gandhara. Bảo tàng Lahore, Pakistan.Ảnh: Patrik Germann, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Buddhism and Buddhist Art. JAANUS, tanjoubutsu. TS. Lê Tâm Đắc (Viện Nghiên cứu Tôn giáo), Bàn về đối tượng thờ trong các ngôi chùa Việt ở miền Bắc. Báo Thế giới và Việt Nam, Báu vật gần 400 tuổi ở chùa Keo. Majid Sheikh, báo Dawn, 15/03/2020, về tượng khổ hạnh ở Bảo tàng Lahore.

A Di Đà

Amitābha · 阿彌陀佛 · Amida · འོད་དཔག་མེད་Nhận ra: Thường đi cùng Quán Thế Âm và Đại Thế Chí thành bộ ba

Giáo chủ cõi Tây phương Cực Lạc, trung tâm của pháp môn Tịnh Độ ở Đông Á. Trong Kim Cương thừa, Ngài là một trong năm vị Phật, thân màu đỏ, tay kết ấn thiền định. Bộ ba A Di Đà, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí gọi là Tây Phương Tam Thánh hay Di Đà Tam Tôn. Ở Việt Nam, tượng A Di Đà bằng đá của chùa Phật Tích (Bắc Ninh), dựng năm 1057 thời Lý, là bảo vật quốc gia. Ở Nhật có Đại Phật Kamakura khởi đúc năm 1252, cao khoảng 11,3 mét, và tượng của Jōchō ở chùa Byōdō-in năm 1053.

BẢN SAO tượng A Di Đà chùa Phật Tích (tượng gốc bằng đá, năm 1057, thời Lý), trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Thư viện chưa tìm được ảnh có giấy phép mở của tượng gốc trong chùa.
BẢN SAO tượng A Di Đà chùa Phật Tích (tượng gốc bằng đá, năm 1057, thời Lý), trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Thư viện chưa tìm được ảnh có giấy phép mở của tượng gốc trong chùa.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
A Di Đà cùng hai vị Bồ tát, phù điêu đá vôi từ chùa Bảo Khánh, Tây An, năm 703, thời Đường. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.
A Di Đà cùng hai vị Bồ tát, phù điêu đá vôi từ chùa Bảo Khánh, Tây An, năm 703, thời Đường. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.Ảnh: Daderot, Public domain, Wikimedia Commons
Đại Phật Kamakura (A Di Đà), đồng, khởi đúc năm 1252, chùa Kōtoku-in, Nhật Bản. Ảnh chụp khoảng năm 1900, bộ sưu tập Bảo tàng Metropolitan.
Đại Phật Kamakura (A Di Đà), đồng, khởi đúc năm 1252, chùa Kōtoku-in, Nhật Bản. Ảnh chụp khoảng năm 1900, bộ sưu tập Bảo tàng Metropolitan.Ảnh: Adolph de Meyer, CC0, Wikimedia Commons
A Di Đà của Jōchō, năm 1053, gỗ ghép thếp vàng, Phượng Hoàng Đường chùa Byōdō-in, Nhật Bản. Ảnh công bố năm 1952.
A Di Đà của Jōchō, năm 1053, gỗ ghép thếp vàng, Phượng Hoàng Đường chùa Byōdō-in, Nhật Bản. Ảnh công bố năm 1952.Ảnh: Ken Domon, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Amitabha. JAANUS, Amida sanzon. Báo Tiền Phong, Giải mã bảo vật quốc gia. Znews, Nguồn gốc tên gọi Phật Tích. Báo Thanh Tra, Công nhận bảo vật quốc gia 30 hiện vật. Chùa Kōtoku-in, giới thiệu Đại Phật Kamakura. Chùa Byōdō-in, tượng A Di Đà của Jōchō.

Dược Sư

Bhaiṣajyaguru · Yakushi NyoraiNhận ra: Tay cầm bát thuốc. Tranh tượng Tây Tạng vẽ thân xanh lam, cầm thêm nhánh quả myrobalan

Vị Phật chữa bệnh, giáo chủ cõi tịnh độ phương Đông, có mười hai vị thần tướng dạ xoa theo hầu. Được thờ rộng ở Tây Tạng, Trung Hoa và Nhật Bản.

Dược Sư (Yakushi Nyorai), sơn khô cốt gỗ thếp vàng, Nhật Bản, thời Nara, thế kỷ 8. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.
Dược Sư (Yakushi Nyorai), sơn khô cốt gỗ thếp vàng, Nhật Bản, thời Nara, thế kỷ 8. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.Ảnh: Daderot, Public domain, Wikimedia Commons
Dược Sư, đồng mạ vàng, Tây Tạng, thế kỷ 15. Bảo tàng Mỹ thuật Berkeley.
Dược Sư, đồng mạ vàng, Tây Tạng, thế kỷ 15. Bảo tàng Mỹ thuật Berkeley.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Bhaishajya-guru.

Tỳ Lô Giá Na, Đại Nhật

Vairocana · Dainichi NyoraiNhận ra: Thân trắng, tay kết ấn chuyển pháp luân, biểu tượng là bánh xe

Nhiều truyền thống Bắc truyền ở Đông Á, Tây Tạng, Nepal và Java coi Ngài là vị Phật tối thượng. Có khi Ngài được kể là một trong năm vị Phật (Tỳ Lô Giá Na, A Súc, Bảo Sinh, A Di Đà, Bất Không Thành Tựu), có khi là nguồn của cả năm. Năm vị được tạc gần giống nhau, phân biệt bằng màu thân, biểu tượng, thủ ấn và phương hướng. Đại Phật ở khám Phụng Tiên, Long Môn (năm 673 tới 675) và Đại Phật chùa Tōdai-ji ở Nara (khai nhãn năm 752) đều là Tỳ Lô Giá Na. Ở Nhật, Ngài là vị được tôn kính nhất của Chân Ngôn tông dưới tên Đại Nhật.

Tỳ Lô Giá Na và các vị thị giả, khám chùa Phụng Tiên, hang đá Long Môn, Lạc Dương, năm 673 tới 675, thời Đường.
Tỳ Lô Giá Na và các vị thị giả, khám chùa Phụng Tiên, hang đá Long Môn, Lạc Dương, năm 673 tới 675, thời Đường.Ảnh: Gary Todd, CC0, Wikimedia Commons
Đại Nhật Như Lai (Dainichi) của Unkei, chùa Enjō-ji, Nara, Nhật Bản. Ảnh in năm 1933.
Đại Nhật Như Lai (Dainichi) của Unkei, chùa Enjō-ji, Nara, Nhật Bản. Ảnh in năm 1933.Ảnh: Nara National Museum 奈良帝室博物館 (Showa 8 - 1933), Public domain, Wikimedia Commons
Đại Phật chùa Tōdai-ji (Tỳ Lô Giá Na), Nara, Nhật Bản, khai nhãn năm 752, phần lớn tượng hiện nay là đúc lại về sau.
Đại Phật chùa Tōdai-ji (Tỳ Lô Giá Na), Nara, Nhật Bản, khai nhãn năm 752, phần lớn tượng hiện nay là đúc lại về sau.Ảnh: Gilles Desjardins, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Vairochana. Britannica, Dhyani-Buddha. UNESCO, Longmen Grottoes. Smarthistory, Longmen caves. Chùa Tōdai-ji, Đại Phật điện. Smarthistory, Tōdai-ji.

Di Lặc

Maitreya · Metteyya · 彌勒 · Miroku · བྱམས་པ་Nhận ra: Dạng Bồ tát đội mũ miện, hoặc dạng Phật ngồi buông hai chân. Ở Trung Hoa và Việt Nam là vị sư bụng lớn cười hiền

Vị Phật tương lai, hiện là Bồ tát ở cung trời Đâu Suất. Britannica ghi Di Lặc là vị Bồ tát duy nhất được Phật giáo Nam truyền tôn kính rộng rãi. Ở Triều Tiên và Nhật Bản thế kỷ 6 tới 7 có kiểu tượng Bồ tát bán già tư duy, một chân gác lên gối, ngón tay chạm má, thường được cho là Di Lặc. Lạc Sơn Đại Phật ở Tứ Xuyên, cao 71 mét, tạc từ năm 713 tới 803, là Di Lặc. Hình vị sư bụng lớn là Bố Đại, một nhà sư Trung Hoa thế kỷ 10, tên Khế Thử (契此), hay mang chiếc túi vải. Người Trung Hoa tin ông là hóa thân của Di Lặc, nên tượng Bố Đại được thờ làm Di Lặc. Vị Phật cười này không phải Phật Thích Ca.

Bồ tát Di Lặc đứng, đá phiến xám, Gandhara, khoảng thế kỷ 3. Bảo tàng Mỹ thuật Matsuoka, Tokyo.
Bồ tát Di Lặc đứng, đá phiến xám, Gandhara, khoảng thế kỷ 3. Bảo tàng Mỹ thuật Matsuoka, Tokyo.Ảnh: Daderot, Public domain, Wikimedia Commons
Bồ tát bán già tư duy, đồng mạ vàng, Triều Tiên, thời Tam Quốc, giữa thế kỷ 7. Bảo tàng Metropolitan. Kiểu tượng này thường được cho là Di Lặc, nhãn bảo tàng không khẳng định.
Bồ tát bán già tư duy, đồng mạ vàng, Triều Tiên, thời Tam Quốc, giữa thế kỷ 7. Bảo tàng Metropolitan. Kiểu tượng này thường được cho là Di Lặc, nhãn bảo tàng không khẳng định.Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Lạc Sơn Đại Phật (Di Lặc ngồi buông hai chân), Tứ Xuyên, Trung Quốc, tạc từ năm 713 tới 803, cao 71 mét.
Lạc Sơn Đại Phật (Di Lặc ngồi buông hai chân), Tứ Xuyên, Trung Quốc, tạc từ năm 713 tới 803, cao 71 mét.Ảnh: Calistemon, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Bố Đại, gốm men, Hà Nam, Trung Quốc, năm 1486, thời Minh. Bảo tàng Anh, London.
Bố Đại, gốm men, Hà Nam, Trung Quốc, năm 1486, thời Minh. Bảo tàng Anh, London.Ảnh: Osama Shukir Muhammed Amin FRCP(Glasg), CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Maitreya. Bảo tàng Metropolitan, Pensive bodhisattva. Bảo tàng Metropolitan, Pensive Treasure. Britannica, Leshan Giant Buddha. UNESCO, Mount Emei and Leshan Giant Buddha. JAANUS, Hotei. Bảo tàng Anh, tượng Budai năm 1486. Bảo tàng Bowers, A Budai by Any Other Name.

Tam Thế Phật

三世佛Nhận ra: Ba pho tượng Phật ngồi giống nhau, cùng cỡ, xếp một hàng ở lớp cao nhất

Ở chùa miền Bắc Việt Nam, ba pho Tam Thế ngồi trên tòa sen ở lớp trên cùng của Phật điện, tượng cho chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai. Ba pho thường không mang tên riêng. Truyền thống Himalaya và Trung Hoa thì gọi tên ba vị là Nhiên Đăng (quá khứ), Thích Ca (hiện tại) và Di Lặc (vị lai). Bộ Tam Thế chùa Côn Sơn (thế kỷ 17) và bộ ở chùa Bút Tháp là bảo vật quốc gia. Các nguồn Việt Nam giảng về ba pho này không giống nhau, xem mục Những điều thư viện chưa chắc.

Các pho tượng Phật lớn trong thượng điện chùa Bút Tháp, Bắc Ninh, thế kỷ 17. Trang ảnh gốc không ghi tên từng pho.
Các pho tượng Phật lớn trong thượng điện chùa Bút Tháp, Bắc Ninh, thế kỷ 17. Trang ảnh gốc không ghi tên từng pho.Ảnh: Benjamin Smith, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: TS. Lê Tâm Đắc (Viện Nghiên cứu Tôn giáo), Bàn về đối tượng thờ trong các ngôi chùa Việt ở miền Bắc. Phật tử Việt Nam, Cách bố trí tượng thờ trong chùa miền Bắc, 01/11/2007. Bảo tàng Rubin, Buddhas of the Three Times. Báo Văn Hóa, Độc đáo bộ tượng Tam Thế Phật chùa Côn Sơn. Báo Thanh Tra, Nơi lưu giữ 4 bảo vật quốc gia.

VCác Vị Bồ Tát

Quán Thế Âm

Avalokiteśvara · 觀音 Guanyin · Kannon · སྤྱན་རས་གཟིགས་ ChenrezigNhận ra: Trên mũ có tượng A Di Đà nhỏ. Ở Đông Á thường cầm bình nước và cành dương

Vị Bồ tát của lòng từ bi, được thờ ở khắp các nước Bắc truyền dưới nhiều tên. Ở Ấn Độ, Ngài là Liên Hoa Thủ (Padmapani), dáng một vương tử cầm hoa sen. Ở Trung Hoa, trước thời Tống tượng mang dáng nam, tới khoảng thế kỷ 12 thì phần lớn mang dáng nữ, với các dạng Bạch Y Quan Âm, Thủy Nguyệt Quan Âm, Quan Âm Tống Tử. Hòa thượng Thích Thanh Từ giảng rằng Bồ tát không phải nam cũng không phải nữ, hình người mẹ là để nói lòng thương. Ở Tây Tạng, Ngài là Chenrezig thân trắng bốn tay: hai tay chắp trước ngực, hai tay kia cầm tràng hạt pha lê và hoa sen. Ở Nhật có nhiều dạng Kannon, trong đó có dạng mười một mặt. Pho Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), gỗ, cao 3,7 mét, mười một đầu, tạc năm 1656, là bảo vật quốc gia.

Bồ tát Liên Hoa Thủ (Padmapani), tranh tường hang 1, Ajanta, Ấn Độ, cuối thế kỷ 5.
Bồ tát Liên Hoa Thủ (Padmapani), tranh tường hang 1, Ajanta, Ấn Độ, cuối thế kỷ 5.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons
Quan Âm ngồi thế thư thái, gỗ, Trung Quốc, thời Tống, thế kỷ 12. Bảo tàng Dân tộc học Berlin.
Quan Âm ngồi thế thư thái, gỗ, Trung Quốc, thời Tống, thế kỷ 12. Bảo tàng Dân tộc học Berlin.Ảnh: User:FA2010, Public domain, Wikimedia Commons
Bạch Y Quan Âm, sứ Đức Hóa, Trung Quốc, cuối thế kỷ 18, thời Thanh. Bảo tàng Linden, Stuttgart.
Bạch Y Quan Âm, sứ Đức Hóa, Trung Quốc, cuối thế kỷ 18, thời Thanh. Bảo tàng Linden, Stuttgart.Ảnh: Daderot, Public domain, Wikimedia Commons
Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, gỗ sơn thếp, năm 1656, tại chùa Bút Tháp, Bắc Ninh. Bảo vật quốc gia.
Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, gỗ sơn thếp, năm 1656, tại chùa Bút Tháp, Bắc Ninh. Bảo vật quốc gia.Ảnh: Khangoii, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Quán Thế Âm bốn tay (Chenrezig), tranh thangka, Lhasa, cuối thế kỷ 19. Bộ sưu tập Alice S. Kandell, Smithsonian.
Quán Thế Âm bốn tay (Chenrezig), tranh thangka, Lhasa, cuối thế kỷ 19. Bộ sưu tập Alice S. Kandell, Smithsonian.Ảnh: Không rõ tác giả, Smithsonian Institution, Public domain, Wikimedia Commons
Quan Âm mười một mặt (Jūichimen Kannon), gỗ, Nhật Bản, thời Heian, thế kỷ 9. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.
Quan Âm mười một mặt (Jūichimen Kannon), gỗ, Nhật Bản, thời Heian, thế kỷ 9. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.Ảnh: Daderot, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Smarthistory, Bodhisattva Avalokiteshvara (Guanyin). Bảo tàng Mỹ thuật Đại học Michigan, Guanyin with a willow branch and vase. JAANUS, Amida sanzon. Himalayan Art Resources, Avalokiteshvara Chaturbhuja. JAANUS, Juuichimen Kannon. VTC News, Bồ tát Quán Thế Âm là nam hay nữ (dẫn lời Hòa thượng Thích Thanh Từ). Báo Thanh Tra, Nơi lưu giữ 4 bảo vật quốc gia. VietNamNet, A visit to But Thap Pagoda.

Văn Thù Sư Lợi

Mañjuśrī · 文殊 Wenshu · Monju · འཇམ་དཔལ་Nhận ra: Tay phải giơ kiếm trí tuệ, tay trái cầm kinh. Ngồi trên sư tử

Vị Bồ tát của trí tuệ. Núi Ngũ Đài ở Sơn Tây, Trung Quốc, là đạo tràng của Ngài. Ở chùa Việt, Văn Thù cưỡi sư tử xanh thường đứng một bên Phật Thích Ca, bên kia là Phổ Hiền.

Văn Thù ngồi trên sư tử, cẩm thạch, Hà Bắc, Trung Quốc, thời Liêu, khoảng thế kỷ 11. Bảo tàng Mỹ thuật San Diego.
Văn Thù ngồi trên sư tử, cẩm thạch, Hà Bắc, Trung Quốc, thời Liêu, khoảng thế kỷ 11. Bảo tàng Mỹ thuật San Diego.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Manjushri. TS. Lê Tâm Đắc (Viện Nghiên cứu Tôn giáo), Bàn về đối tượng thờ trong các ngôi chùa Việt ở miền Bắc.

Phổ Hiền

Samantabhadra · 普賢 · FugenNhận ra: Ngồi trên voi trắng

Vị Bồ tát của hạnh nguyện, đạo tràng là núi Nga Mi ở Tứ Xuyên. Britannica tả voi của Ngài có ba đầu, hoặc một đầu sáu ngà. Bộ ba Thích Ca, Văn Thù, Phổ Hiền gặp ở Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam. Ở chùa Việt bộ ba này quen gọi là Hoa Nghiêm Tam Thánh.

Phổ Hiền (Fugen) trên voi trắng, tranh lụa, Nhật Bản, thời Heian, thế kỷ 12. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.
Phổ Hiền (Fugen) trên voi trắng, tranh lụa, Nhật Bản, thời Heian, thế kỷ 12. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.Ảnh: Khuyết danh, Public domain, Wikimedia Commons
Thích Ca cùng Phổ Hiền và Văn Thù, tranh Nhật Bản, thời Kamakura. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.
Thích Ca cùng Phổ Hiền và Văn Thù, tranh Nhật Bản, thời Kamakura. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.Ảnh: Khuyết danh, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Samantabhadra. TS. Lê Tâm Đắc (Viện Nghiên cứu Tôn giáo), Bàn về đối tượng thờ trong các ngôi chùa Việt ở miền Bắc.

Địa Tạng

Kṣitigarbha · 地藏 · Jizō · ས་ཡི་སྙིང་པོ་Nhận ra: Dáng một vị sư đầu cạo, tay cầm tích trượng và viên ngọc

Vị Bồ tát phát nguyện cứu chúng sinh trong địa ngục. Ở Trung Hoa, Ngài được coi là vị cai quản cõi địa ngục và được cầu cho người sắp mất. Ở Nhật, Jizō là vị che chở người đã khuất, nhất là trẻ nhỏ.

Địa Tạng (Jizō) của Kaikei, gỗ bách sơn thếp, Nhật Bản, khoảng năm 1202. Bảo tàng Metropolitan.
Địa Tạng (Jizō) của Kaikei, gỗ bách sơn thếp, Nhật Bản, khoảng năm 1202. Bảo tàng Metropolitan.Ảnh: Kaikei, CC0, Wikimedia Commons
Địa Tạng, tranh lụa, Cao Ly, cuối thế kỷ 14. Bảo tàng Metropolitan.
Địa Tạng, tranh lụa, Cao Ly, cuối thế kỷ 14. Bảo tàng Metropolitan.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Kshitigarbha. Bảo tàng Metropolitan, Jizō của Kaikei.

Đại Thế Chí

Mahāsthāmaprāpta · 大勢至 · SeishiNhận ra: Trên mũ có một bình nước, ở chỗ Quán Thế Âm mang tượng A Di Đà

Được tôn kính nhiều nhất trong các tông Tịnh Độ, đứng cùng Quán Thế Âm hai bên A Di Đà. Ngài tượng cho trí tuệ, Quán Thế Âm tượng cho từ bi.

Bồ tát Đại Thế Chí, Trung Quốc, thời Kim, thế kỷ 13. Bảo tàng Metropolitan.
Bồ tát Đại Thế Chí, Trung Quốc, thời Kim, thế kỷ 13. Bảo tàng Metropolitan.Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Mahasthamaprapta. JAANUS, Amida sanzon.

Tara, Độ Mẫu

Tārā · སྒྲོལ་མ་ DrolmaNhận ra: Tara Xanh ngồi buông chân phải, cầm sen xanh khép. Tara Trắng ngồi kiết già, có thêm mắt trên trán, lòng tay và lòng chân

Vị nữ Bồ tát được thờ rộng ở Tây Tạng, Nepal và Mông Cổ. Truyền thuyết kể Ngài sinh ra từ giọt nước mắt của Quán Thế Âm. Tranh Tây Tạng hay vẽ hai mươi mốt vị Tara quanh Tara Xanh.

Tara Trắng và Tara Xanh, tranh trên vải, Tây Tạng miền tây (Guge), khoảng năm 1450 tới 1500. Bảo tàng Metropolitan.
Tara Trắng và Tara Xanh, tranh trên vải, Tây Tạng miền tây (Guge), khoảng năm 1450 tới 1500. Bảo tàng Metropolitan.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons
Tara Xanh, đồng, Tây Tạng, thế kỷ 12. Bảo tàng Mỹ thuật Fitchburg.
Tara Xanh, đồng, Tây Tạng, thế kỷ 12. Bảo tàng Mỹ thuật Fitchburg.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Tara. Bảo tàng Metropolitan, White Tara and Green Tara.

VIHộ Pháp, La Hán Và Tổ Sư

Các vị hộ trì

Tứ Đại Thiên Vương

Shitennō (Nhật)Nhận ra: Bốn vị tướng mặc giáp, mỗi vị giữ một phương

Trì Quốc giữ phương Đông, Tăng Trưởng giữ phương Nam, Quảng Mục giữ phương Tây, Đa Văn giữ phương Bắc. Ở Đông Á, vị phương Đông thường cầm đàn tỳ bà, vị phương Nam cầm kiếm, vị phương Tây cầm rắn hoặc rồng. Vật cầm của vị phương Bắc thì các nguồn ghi khác nhau: lọng hoặc tháp. Ở chùa Trung Hoa, bốn vị đứng trong Thiên Vương điện ngay sau cổng.

Trì Quốc Thiên Vương (Jikokuten), một trong Tứ Thiên Vương ở Giới Đàn Viện chùa Tōdai-ji, Nara. Ảnh in năm 1915.
Trì Quốc Thiên Vương (Jikokuten), một trong Tứ Thiên Vương ở Giới Đàn Viện chùa Tōdai-ji, Nara. Ảnh in năm 1915.Ảnh: Imperial Japanese Commission to the Panama-Pacific International Exposition, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, lokapala. Wikipedia, Four Heavenly Kings. Wikipedia, Hall of Four Heavenly Kings. Đào Thái Sơn, Bốn hệ tượng Hộ pháp trong các ngôi chùa Việt, báo Giác Ngộ, 07/07/2017.

Hộ pháp Khuyến Thiện và Trừng Ác

Nhận ra: Hai pho tượng rất lớn ở tiền đường chùa miền Bắc, mặc giáp, ngồi trên lưng sấu

Dân gian gọi là ông Thiện và ông Ác. Ông Thiện mặt trắng, hiền, tay cầm viên ngọc. Ông Ác mặt đỏ, dữ, tay cầm binh khí. Câu "to như ông Hộ pháp" là nói về hai pho tượng này.

Hộ pháp mặt trắng ngồi trên lưng sấu ở chùa Bút Tháp, Bắc Ninh. Dân gian gọi vị mặt hiền là ông Thiện.
Hộ pháp mặt trắng ngồi trên lưng sấu ở chùa Bút Tháp, Bắc Ninh. Dân gian gọi vị mặt hiền là ông Thiện.Ảnh: Benjamin Smith, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Hộ pháp mặt đỏ ở chùa Bút Tháp, Bắc Ninh. Dân gian gọi vị mặt dữ là ông Ác.
Hộ pháp mặt đỏ ở chùa Bút Tháp, Bắc Ninh. Dân gian gọi vị mặt dữ là ông Ác.Ảnh: Benjamin Smith, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: TS. Lê Tâm Đắc (Viện Nghiên cứu Tôn giáo), Bàn về đối tượng thờ trong các ngôi chùa Việt ở miền Bắc. Phật tử Việt Nam, Cách bố trí tượng thờ trong chùa miền Bắc, 01/11/2007. Đào Thái Sơn, Bốn hệ tượng Hộ pháp trong các ngôi chùa Việt, báo Giác Ngộ, 07/07/2017. Vô Ưu, Hai vị Hộ pháp khuyến thiện trừng ác trong các ngôi chùa Việt, phatgiao.org.vn, 25/07/2020.

Vi Đà và Tiêu Diện

Skanda · 韋馱 WeituoNhận ra: Vi Đà là vị tướng trẻ mặc giáp, cầm chày kim cương. Tiêu Diện mặt dữ

Trong chùa Trung Hoa, Vi Đà đứng sau lưng tượng Di Lặc Bố Đại ở Thiên Vương điện, mặt quay về chính điện. Ở Việt Nam, Vi Đà và Tiêu Diện Đại Sĩ là một trong bốn hệ tượng hộ pháp. Tiêu Diện được hiểu là hóa thân của Quán Thế Âm, hiện tướng dữ để hàng phục điều ác.

Hộ pháp Vi Đà ở chùa Giác Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hộ pháp Vi Đà ở chùa Giác Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh.Ảnh: Phương Huy, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Tiêu Diện Đại Sĩ ở chùa Vĩnh Tràng, Mỹ Tho.
Tiêu Diện Đại Sĩ ở chùa Vĩnh Tràng, Mỹ Tho.Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Skanda (Buddhism). Wikipedia, Hall of Four Heavenly Kings. Đào Thái Sơn, Bốn hệ tượng Hộ pháp trong các ngôi chùa Việt, báo Giác Ngộ, 07/07/2017.

Niō của Nhật Bản

仁王Nhận ra: Hai vị lực sĩ cởi trần đứng hai bên cổng chùa, một vị há miệng, một vị ngậm miệng

Vị há miệng là Agyō, vị ngậm miệng là Ungyō, ứng với hai âm "a" và "hūm".

Niō ngậm miệng (Ungyō) ở cổng Nam Đại Môn chùa Tōdai-ji, Nara, Nhật Bản.
Niō ngậm miệng (Ungyō) ở cổng Nam Đại Môn chùa Tōdai-ji, Nara, Nhật Bản.Ảnh: Bamse, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Nio (Buddhism).

Hộ pháp phẫn nộ của Tây Tạng

DharmapālaNhận ra: Thân sẫm màu, mặt dữ, quanh thân có lửa

Tướng dữ nói lên sự sẵn sàng che chở người tu, các vị chỉ hiện tướng phẫn nộ vì lợi ích chúng sinh. Mahākāla là vị được biết tới nhiều nhất.

Mahākāla, vị hộ pháp phẫn nộ, tranh thangka miền trung Tây Tạng, khoảng năm 1500. Bảo tàng Metropolitan.
Mahākāla, vị hộ pháp phẫn nộ, tranh thangka miền trung Tây Tạng, khoảng năm 1500. Bảo tàng Metropolitan.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Dharmapala.

Đệ tử, La Hán và Tổ

Ca Diếp và A Nan

Mahākāśyapa · ĀnandaNhận ra: Hai vị sư đứng hai bên Phật Thích Ca: Ca Diếp mặt già, A Nan mặt trẻ

Cách bày của chùa Bắc truyền. Ở miền Bắc Việt Nam, bộ tượng này gọi là Niêm Hoa: Thích Ca cầm hoa sen, hai bên là Ca Diếp và A Nan. Bộ tượng kể tích Đức Phật đưa cành hoa lên trên núi Linh Thứu, chỉ có Ca Diếp mỉm cười, nên Ca Diếp được coi là sơ tổ Thiền tông Ấn Độ.

Tôn giả Ca Diếp, đá, hang Hưởng Đường Sơn, Hà Bắc, Trung Quốc, khoảng năm 550, thời Bắc Tề. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.
Tôn giả Ca Diếp, đá, hang Hưởng Đường Sơn, Hà Bắc, Trung Quốc, khoảng năm 550, thời Bắc Tề. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.Ảnh: Cleveland Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Mahavira Hall. TS. Lê Tâm Đắc (Viện Nghiên cứu Tôn giáo), Bàn về đối tượng thờ trong các ngôi chùa Việt ở miền Bắc.

Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên

Sāriputta · MoggallānaNhận ra: Hai vị sư chắp tay hai bên Phật

Cách bày của chùa Nam truyền. Hai vị là hai đại đệ tử. Theo trưởng lão Nyanaponika, Xá Lợi Phất ở bên tay phải của Phật, Mục Kiền Liên ở bên tay trái, và nhiều chùa ở Sri Lanka có tượng hai vị đứng hai bên tượng Phật.

Phật cùng hai đại đệ tử Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, cách bày của Nam truyền. Tượng mới, tu viện Mahabodhi, Hyderabad, Ấn Độ.
Phật cùng hai đại đệ tử Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, cách bày của Nam truyền. Tượng mới, tu viện Mahabodhi, Hyderabad, Ấn Độ.Ảnh: Anandajoti, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Nyanaponika Thera, The Life of Sariputta, Buddhist Publication Society.

La Hán

Arhat · 羅漢Nhận ra: Các vị sư mỗi người một dáng, ngồi trên đá, gốc cây

Kinh sách kể mười sáu vị. Ở Trung Hoa, từ cuối thời Đường người ta thêm hai vị thành Thập bát La Hán, Nhật Bản vẫn giữ mười sáu. Ở chùa Việt, tượng La Hán thường xếp ở hai dãy hành lang, mỗi bên chín vị.

Dãy tượng La Hán ở hành lang bên phải chùa Mía, Đường Lâm, Hà Nội.
Dãy tượng La Hán ở hành lang bên phải chùa Mía, Đường Lâm, Hà Nội.Ảnh: Ngokhong, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
La Hán, gốm tráng men, Trung Quốc, thời Liêu, khoảng năm 1000. Bảo tàng Metropolitan.
La Hán, gốm tráng men, Trung Quốc, thời Liêu, khoảng năm 1000. Bảo tàng Metropolitan.Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Eighteen Arhats. TS. Lê Tâm Đắc (Viện Nghiên cứu Tôn giáo), Bàn về đối tượng thờ trong các ngôi chùa Việt ở miền Bắc. Phật tử Việt Nam, Cách bố trí tượng thờ trong chùa miền Bắc, 01/11/2007.

Bộ tượng chùa Tây Phương: La Hán hay Tổ

Nhận ra: Mười mấy pho tượng gỗ mít sơn thếp, cuối thế kỷ 18

Báo chí, trang của Cục Di sản văn hóa và bài thơ của Huy Cận gọi đây là các vị La Hán. Một cách hiểu khác cho rằng đây là tượng các vị Tổ Ấn Độ của Thiền tông. Biển tên đặt trước một pho tượng trong chùa, chụp năm 2023, ghi "Tổ Phật Đà Mật Đa". Thư viện ghi cả hai cách gọi. Bộ tượng Phật giáo chùa Tây Phương thời Tây Sơn là bảo vật quốc gia từ năm 2015.

Một pho trong bộ tượng chùa Tây Phương, Hà Nội, cuối thế kỷ 18. Biển tên đặt trước tượng ghi "Tổ Phật Đà Mật Đa".
Một pho trong bộ tượng chùa Tây Phương, Hà Nội, cuối thế kỷ 18. Biển tên đặt trước tượng ghi "Tổ Phật Đà Mật Đa".Ảnh: Benjamin Smith, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Pho tượng quen gọi là "La Hán cười" ở chùa Tây Phương, Hà Nội, cuối thế kỷ 18.
Pho tượng quen gọi là "La Hán cười" ở chùa Tây Phương, Hà Nội, cuối thế kỷ 18.Ảnh: Liftold at Vietnamese Wikipedia, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Cục Di sản văn hóa, Di tích kiến trúc nghệ thuật chùa Tây Phương. Wikipedia tiếng Việt, Chùa Tây Phương. Tuổi Trẻ News, Vietnam names another 12 items national treasures. Báo Văn Hóa, Chùa Tây Phương là điểm du lịch di tích quốc gia đặc biệt.

Bồ Đề Đạt Ma

Bodhidharma · DarumaNhận ra: Râu rậm, mắt to, dáng người phương xa, có khi xách một chiếc dép

Sơ tổ Thiền tông ở Trung Hoa. Ở miền Bắc Việt Nam, Ngài được gọi là Đức Tổ Tây và có mặt trên ban thờ của hầu hết các nhà Tổ.

Bồ Đề Đạt Ma (Daruma), tranh mực của thiền sư Hakuin Ekaku, Nhật Bản, thế kỷ 18. Bảo tàng Metropolitan.
Bồ Đề Đạt Ma (Daruma), tranh mực của thiền sư Hakuin Ekaku, Nhật Bản, thế kỷ 18. Bảo tàng Metropolitan.Ảnh: Hakuin Ekaku, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Bodhidharma. TS. Lê Tâm Đắc (Viện Nghiên cứu Tôn giáo), Bàn về đối tượng thờ trong các ngôi chùa Việt ở miền Bắc. Phật tử Việt Nam, Cách bố trí tượng thờ trong chùa miền Bắc, 01/11/2007.

Liên Hoa Sinh và Tông Khách Ba

Padmasambhava · TsongkhapaNhận ra: Liên Hoa Sinh cầm chày kim cương và bát sọ. Tông Khách Ba đội mũ vàng

Hai bậc thầy lớn của Phật giáo Tây Tạng. Liên Hoa Sinh là vị đạo sư thế kỷ 8 gắn với việc dựng tu viện Samye, nhân vật trung tâm của phái Nyingma. Tông Khách Ba (khoảng 1357 tới 1419) lập phái Gelug.

Liên Hoa Sinh (Padmasambhava) cầm chày kim cương và bát sọ, tranh thangka thế kỷ 18. Viện Mỹ thuật Chicago.
Liên Hoa Sinh (Padmasambhava) cầm chày kim cương và bát sọ, tranh thangka thế kỷ 18. Viện Mỹ thuật Chicago.Ảnh: Khuyết danh, Public domain, Wikimedia Commons
Tông Khách Ba (Tsongkhapa) đội mũ vàng, tranh thangka. Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ, New York.
Tông Khách Ba (Tsongkhapa) đội mũ vàng, tranh thangka. Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ, New York.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Padmasambhava. Wikipedia, Je Tsongkhapa.

VIICách Bài Trí Trên Ban Thờ

Chùa miền Bắc Việt Nam

Phật điện chùa Bắc có nhiều lớp bệ: lớp cao nhất ở sâu trong cùng, sát mái, các lớp sau thấp dần ra phía trước, cuối cùng là hương án. Mọi nguồn đều nhấn rằng thứ tự không cố định, mỗi chùa bày theo cách của mình. Sơ đồ dưới đây ghi những điểm các nguồn khớp nhau.

Nguồn: Wikipedia tiếng Việt, Chùa Việt Nam, mục Bài trí tượng thờ. Phật tử Việt Nam, Cách bố trí tượng thờ trong chùa miền Bắc, 01/11/2007. TS. Lê Tâm Đắc (Viện Nghiên cứu Tôn giáo), Bàn về đối tượng thờ trong các ngôi chùa Việt ở miền Bắc. Nguyễn Quang Khải, Một số đặc điểm chùa Việt, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 3 năm 2012.
Lớp trên cùngTam Thế PhậtBa pho giống nhau, cùng cỡ, ngồi một hàng
Lớp kếDi Đà Tam TônA Di Đà ở giữa, hai bên là Quán Thế Âm và Đại Thế Chí. Tượng A Di Đà thường lớn nhất trong điện
Lớp giữaThích Ca thuyết phápHoa Nghiêm Tam Thánh (Thích Ca, Văn Thù, Phổ Hiền) hoặc Niêm Hoa (Thích Ca, Ca Diếp, A Nan). Nhiều chùa có thêm tượng Tuyết Sơn
Lớp dướiTòa Cửu LongThích Ca sơ sinh giữa chín con rồng, đứng ở phía trước, gần hương án

Sơ đồ do thư viện vẽ để tóm tắt, không phải mặt bằng của một ngôi chùa cụ thể. Bốn nguồn xếp Di Đà Tam Tôn ở lớp thứ hai. Tiến sĩ Lê Tâm Đắc thì ghi bộ Thích Ca thuyết pháp ở "lớp thứ ba hoặc thứ hai". Về tượng đứng cạnh Tòa Cửu Long, có nguồn ghi Đế Thích và Phạm Thiên, có nguồn ghi Ngọc Hoàng với Nam Tào và Bắc Đẩu.

Ban thờ nhiều lớp của một ngôi chùa ở Hà Nội, ảnh màu autochrome của Léon Busy, năm 1916. Tòa Cửu Long đứng giữa, phía trước. Lưu trữ Albert Kahn.
Ban thờ nhiều lớp của một ngôi chùa ở Hà Nội, ảnh màu autochrome của Léon Busy, năm 1916. Tòa Cửu Long đứng giữa, phía trước. Lưu trữ Albert Kahn.Ảnh: Busy Léon, CC0, Wikimedia Commons
Cận cảnh Tòa Cửu Long trên ban thờ một ngôi chùa ở Hà Nội, ảnh autochrome của Léon Busy, tháng 4 năm 1916.
Cận cảnh Tòa Cửu Long trên ban thờ một ngôi chùa ở Hà Nội, ảnh autochrome của Léon Busy, tháng 4 năm 1916.Ảnh: Busy Léon, CC0, Wikimedia Commons
Một ban thờ trong chùa Thầy (Thiên Phúc tự), Sài Sơn, ảnh autochrome của Léon Busy, ngày 14 tháng 5 năm 1916.
Một ban thờ trong chùa Thầy (Thiên Phúc tự), Sài Sơn, ảnh autochrome của Léon Busy, ngày 14 tháng 5 năm 1916.Ảnh: Busy Léon, CC0, Wikimedia Commons

Ngoài Phật điện, chùa Bắc còn có hai vị Hộ pháp ở tiền đường, ban Đức Ông (nhiều nguồn giảng là trưởng giả Cấp Cô Độc, người cúng vườn Kỳ Viên), ban Thánh Tăng, tám vị Kim Cương ở hai bên trong các chùa lớn, mười vị Diêm Vương ở một số chùa, và nhà Tổ phía sau thờ Bồ Đề Đạt Ma cùng các vị trụ trì đời trước. Hầu hết chùa miền Bắc có gian thờ Mẫu. Ông Lê Tâm Đắc đọc cách bày này như sự hòa quyện của Thiền, Tịnh, Mật cùng tín ngưỡng bản địa.

Nguồn: TS. Lê Tâm Đắc (Viện Nghiên cứu Tôn giáo), Bàn về đối tượng thờ trong các ngôi chùa Việt ở miền Bắc. Phật tử Việt Nam, Cách bố trí tượng thờ trong chùa miền Bắc, 01/11/2007. Thiện Minh, Đức Ông được thờ trong chùa là ai, phatgiao.org.vn, 13/03/2021. Nguyễn Quang Khải, Một số đặc điểm chùa Việt, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 3 năm 2012.
Nhà Tổ chùa Cổ Pháp, Đình Bảng, Bắc Ninh.
Nhà Tổ chùa Cổ Pháp, Đình Bảng, Bắc Ninh.Ảnh: Phuonghoanghamthu, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Miền Trung, miền Nam, Khất sĩ và Nam tông Khmer

Chùa miền Trung và miền Nam bày giản dị hơn: tượng chính thường là một pho Thích Ca, hoặc bộ Tây Phương Tam Thánh. Ở Huế thường thờ theo lối tiền Phật hậu Tổ, Phật phía trước, Tổ phía sau. Tịnh xá của hệ phái Khất sĩ có chánh điện hình bát giác, tượng Phật ngự trong một tháp gỗ mười ba tầng ở giữa. Chùa Nam tông Khmer ở Nam Bộ chỉ thờ Phật Thích Ca, chánh điện quay mặt về hướng Đông, đời Phật được kể bằng tranh trên tường và trần. Trên bệ thờ Khmer thường có nhiều pho Thích Ca lớn nhỏ trong các tư thế khác nhau.

Nguồn: Khoa Du lịch, Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên, Sơ đồ tượng chùa Bắc, Trung, Nam. ĐĐ.TS. Thích Trung Định, Đặc điểm kiến trúc chùa Huế, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, 2023. Hệ phái Khất sĩ, Nét đặc thù của Khất sĩ qua mô hình kiến trúc tịnh xá. Kim Ngân, Chùa Khmer Nam Bộ, scov.gov.vn, 18/10/2013. Lý Lết, Chùa Nam tông Khmer, Tạp chí Văn hóa Phật giáo, 14/04/2023. TS. Lê Tâm Đắc (Viện Nghiên cứu Tôn giáo), Bàn về đối tượng thờ trong các ngôi chùa Việt ở miền Bắc.
Chánh điện chùa Âng, một ngôi chùa Nam tông Khmer ở Trà Vinh: chỉ thờ Phật Thích Ca, với nhiều pho lớn nhỏ.
Chánh điện chùa Âng, một ngôi chùa Nam tông Khmer ở Trà Vinh: chỉ thờ Phật Thích Ca, với nhiều pho lớn nhỏ.Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Chánh điện một tịnh xá hệ phái Khất sĩ (tịnh xá Ngọc Tín): một tượng Phật trong tháp gỗ giữa điện.
Chánh điện một tịnh xá hệ phái Khất sĩ (tịnh xá Ngọc Tín): một tượng Phật trong tháp gỗ giữa điện.Ảnh: Phương Huy, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Các truyền thống khác

Chùa Nam truyền (Thái Lan, Sri Lanka, Myanmar)

Nhận ra: Một pho tượng Phật Thích Ca chính, có thể có hai đại đệ tử hai bên

Ở chùa Thái, ubosot là nơi truyền giới và là tòa nhà thiêng nhất, wihan là nơi hội chúng. Cả hai đều đặt tượng Phật.

Trong chánh điện (ubosot) chùa Wat Ratchabophit, Bangkok: một pho tượng Phật chính trên ngai cao.
Trong chánh điện (ubosot) chùa Wat Ratchabophit, Bangkok: một pho tượng Phật chính trên ngai cao.Ảnh: Photo Dharma from Sadao, Thailand, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Wat. Nyanaponika Thera, The Life of Sariputta, Buddhist Publication Society.

Chùa Trung Hoa

Nhận ra: Đi từ cổng vào: Thiên Vương điện, rồi Đại Hùng Bảo Điện

Ở Thiên Vương điện, Di Lặc Bố Đại ngồi quay ra cổng, Vi Đà đứng sau lưng. Ở Đại Hùng Bảo Điện, thường gặp nhất là Thích Ca với Ca Diếp và A Nan, hoặc ba vị Phật: Thích Ca ở giữa, A Di Đà và Dược Sư hai bên. Hai vách bên thường có Thập bát La Hán.

Đại Hùng Bảo Điện chùa Hải Tràng, Quảng Châu: Thích Ca ở giữa, Dược Sư và A Di Đà hai bên. Tượng mới.
Đại Hùng Bảo Điện chùa Hải Tràng, Quảng Châu: Thích Ca ở giữa, Dược Sư và A Di Đà hai bên. Tượng mới.Ảnh: Huangdan2060, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Hall of Four Heavenly Kings. Wikipedia, Mahavira Hall.

Chùa Nhật Bản

Nhận ra: Vị bản tôn (honzon) đổi theo từng tông

Tịnh Độ Chân tông chỉ thờ A Di Đà, bằng tượng, tranh hoặc bức thư pháp danh hiệu. Chân Ngôn tông lấy Đại Nhật Như Lai làm trung tâm giáo pháp và treo hai bức mạn đà la đối nhau. Thiền tông thờ Thích Ca. Các tông Nhật Liên thờ Gohonzon, một bức mạn đà la bằng chữ do Nhật Liên viết lần đầu vào các năm 1271 tới 1274. Một số cộng đồng Nhật Liên không tán thành việc in lại Gohonzon, nên thư viện không đăng ảnh.

A Di Đà đường chùa Nishi Hongan-ji, Kyoto, tổ đình của Tịnh Độ Chân tông.
A Di Đà đường chùa Nishi Hongan-ji, Kyoto, tổ đình của Tịnh Độ Chân tông.Ảnh: Zairon, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Các pho tượng xếp thành mạn đà la trong Giảng đường chùa Tō-ji, Kyoto, một ngôi chùa Chân Ngôn tông.
Các pho tượng xếp thành mạn đà la trong Giảng đường chùa Tō-ji, Kyoto, một ngôi chùa Chân Ngôn tông.Ảnh: Zairon, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Honzon. Buddhist Churches of America, Naijin (tài liệu về nội trận Tịnh Độ Chân tông). Wikipedia, Shingon Buddhism. JAANUS, Ryoukai mandara. Tào Động tông (Sōtōshū), Butsudan. Wikipedia, Gohonzon.

Điện thờ Tây Tạng

Nhận ra: Tượng, kinh và tháp cùng trên một ban, phía trước là bảy chén nước

Ban thờ tượng cho thân, khẩu, ý của Phật: tượng là thân, kinh là khẩu, tháp là ý. Bảy chén nước cúng xếp thẳng hàng, gần nhau mà không chạm. Đèn bơ tượng cho trí tuệ xua vô minh. Hình thờ chính có thể là một bức thangka thay cho tượng.

Một điện thờ kiểu Tây Tạng dựng lại trong bảo tàng (không phải điện thờ đang dùng), hiện vật thế kỷ 13 tới 20. Phòng trưng bày Arthur M. Sackler, Washington.
Một điện thờ kiểu Tây Tạng dựng lại trong bảo tàng (không phải điện thờ đang dùng), hiện vật thế kỷ 13 tới 20. Phòng trưng bày Arthur M. Sackler, Washington.Ảnh: Daderot, Public domain, Wikimedia Commons
Hàng chén nước cúng trên ban thờ tu viện Thiksey, Ladakh, Ấn Độ.
Hàng chén nước cúng trên ban thờ tu viện Thiksey, Ladakh, Ấn Độ.Ảnh: Vyacheslav Argenberg, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Phỏng vấn Đại đức Tenzin Yignyen, Tibetan Altars, Snow Lion. Museum of International Folk Art, The Tibetan Buddhist Altar.

Ban thờ Phật tại nhà của Phật tử Việt Nam

Thầy Thích Phước Thái viết trên Cổng thông tin Phật giáo rằng chư Tổ khuyên trong nhà thờ một tượng Phật hay một tượng Bồ tát là đủ, vì thờ một tượng thì tâm dễ an định hơn. Người tu Tịnh Độ muốn thờ đủ bộ thì thờ A Di Đà cùng Quán Thế Âm và Đại Thế Chí. Tổ Tư vấn báo Giác Ngộ thì không định con số, và ghi rằng lời "thờ nhiều tượng thì mất cân bằng" là ý của phong thủy, không phải lời Phật dạy. Về thờ Phật chung với gia tiên, báo Giác Ngộ nêu hai lối: tiền Phật hậu linh và thượng Phật hạ linh, bàn thờ gia tiên thấp hơn bàn thờ Phật một bậc.

Nguồn: Thích Phước Thái, Thờ nhiều tượng Phật và Bồ tát có sai trái gì không, phatgiao.org.vn, 28/02/2020. Minh Chính, Phật tử nên thờ tượng Phật nào trong nhà, phatgiao.org.vn, 13/07/2020. Tổ Tư vấn báo Giác Ngộ, Thờ nhiều tượng Phật, 27/03/2012. Tổ Tư vấn báo Giác Ngộ, Thờ Phật và thờ gia tiên.

VIIITượng Phật Qua Từng Nước

Cùng một Đức Phật, mỗi xứ tạc theo gương mặt và chất liệu của mình. Mỗi nước dưới đây có vài dòng về phong cách và một tới bốn ảnh hiện vật tiêu biểu. Danh sách còn thiếu nhiều nước, thư viện sẽ thêm dần.

Ấn Độ

Nơi hình Phật ra đời. Sau Mathura và Gupta, các hang Ajanta (đục thêm vào thế kỷ 5 tới 6) giữ tranh và tượng mà UNESCO gọi là kiệt tác của nghệ thuật Phật giáo. Trong chính điện tháp Đại Giác ở Bồ Đề Đạo Tràng có pho tượng Phật thếp vàng kết ấn xúc địa.

Tượng ngồi từ Katra, sa thạch đỏ Mathura, thời Quý Sương, tay phải giơ ấn vô úy. Bài minh trên tượng gọi là Bồ tát. Bảo tàng Mathura.
Tượng ngồi từ Katra, sa thạch đỏ Mathura, thời Quý Sương, tay phải giơ ấn vô úy. Bài minh trên tượng gọi là Bồ tát. Bảo tàng Mathura.Ảnh: Biswarup Ganguly, CC BY 3.0, Wikimedia Commons
Phật thuyết bài pháp đầu tiên, sa thạch, Sarnath, thế kỷ 5, thời Gupta. Hai tay kết ấn chuyển pháp luân. Bảo tàng Sarnath.
Phật thuyết bài pháp đầu tiên, sa thạch, Sarnath, thế kỷ 5, thời Gupta. Hai tay kết ấn chuyển pháp luân. Bảo tàng Sarnath.Ảnh: พระมหาเทวประภาส วชิรญาณเมธี (Tevaprapas Makklay), CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Phật nằm nhập Niết bàn, tạc vào vách hang 26, Ajanta, Ấn Độ.
Phật nằm nhập Niết bàn, tạc vào vách hang 26, Ajanta, Ấn Độ.Ảnh: Photo Dharma from Sadao, Thailand, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Buddhism and Buddhist Art. UNESCO, Ajanta Caves. UNESCO, Mahabodhi Temple Complex at Bodh Gaya.

Pakistan và Afghanistan

Đất Gandhara xưa. Ở Bamiyan (Afghanistan) từng có hai pho tượng Phật đứng tạc vào vách núi, cao 55 mét và 38 mét, phủ vữa và tô màu, khoảng thế kỷ 6 tới 7. Cả hai bị Taliban phá vào tháng 3 năm 2001.

Tượng Phật đứng, đá phiến, vùng Gandhara gần Peshawar, thế kỷ 2 tới 3. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.
Tượng Phật đứng, đá phiến, vùng Gandhara gần Peshawar, thế kỷ 2 tới 3. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.Ảnh: Daderot, Public domain, Wikimedia Commons
Thái tử Tất Đạt Đa khổ hạnh (thường gọi là Phật nhịn ăn), tìm thấy ở Sikri, nghệ thuật Gandhara. Bảo tàng Lahore, Pakistan.
Thái tử Tất Đạt Đa khổ hạnh (thường gọi là Phật nhịn ăn), tìm thấy ở Sikri, nghệ thuật Gandhara. Bảo tàng Lahore, Pakistan.Ảnh: Patrik Germann, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Tượng Phật nhỏ (38 mét) ở Bamiyan, Afghanistan, nhìn từ chân tượng lên, ảnh chụp ngày 10 tháng 8 năm 1977. Tượng bị phá năm 2001.
Tượng Phật nhỏ (38 mét) ở Bamiyan, Afghanistan, nhìn từ chân tượng lên, ảnh chụp ngày 10 tháng 8 năm 1977. Tượng bị phá năm 2001.Ảnh: Phecda109, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Gandhara art. UNESCO, Bamiyan Valley. Smarthistory, Bamiyan Buddhas.

Sri Lanka

Tượng Phật Sri Lanka điềm tĩnh, gần như không trang sức, chuộng thế ngồi thiền. Pho Samadhi ở Anuradhapura cao khoảng 2,2 mét, niên đại được ghi từ thế kỷ 3 tới thế kỷ 6 tùy nguồn. Avukana là pho tượng đứng tạc vào núi đá, cao gần 12 mét, có nguồn định thế kỷ 5, có nguồn định thế kỷ 8. Gal Vihara ở Polonnaruwa có bốn pho tạc trên một vách đá, làm dưới triều vua Parakramabahu I, thế kỷ 12.

Tượng Samadhi (Phật thiền định), đá, Anuradhapura, Sri Lanka, khoảng thế kỷ 4.
Tượng Samadhi (Phật thiền định), đá, Anuradhapura, Sri Lanka, khoảng thế kỷ 4.Ảnh: Naveen sandeepa sdnsk, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Tượng Phật đứng Avukana tạc vào núi đá, Sri Lanka.
Tượng Phật đứng Avukana tạc vào núi đá, Sri Lanka.Ảnh: Carlos Delgado, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Tượng đứng và tượng nằm ở Gal Vihara, Polonnaruwa, Sri Lanka, thế kỷ 12.
Tượng đứng và tượng nằm ở Gal Vihara, Polonnaruwa, Sri Lanka, thế kỷ 12.Ảnh: Balou46, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: UNESCO, Sacred City of Anuradhapura. UNESCO, Ancient City of Polonnaruwa. Wikipedia, Samadhi Statue. Wikipedia, Avukana Buddha statue. Wikipedia, Gal Vihara.

Myanmar

Bagan (thế kỷ 11 tới 13) là thời cổ điển, UNESCO ghi 3.595 công trình. Ấn xúc địa là thế tay phổ biến nhất. Từ khoảng thế kỷ 17 có phong cách Mandalay, hay tạc bằng cẩm thạch, tới nay vẫn chiếm phần lớn ban thờ Myanmar. Tượng Mahamuni ở Mandalay được đưa từ Arakan về năm 1784.

Tượng Mahamuni ở Mandalay, Myanmar, thân tượng phủ dày vàng lá do người hành hương dát.
Tượng Mahamuni ở Mandalay, Myanmar, thân tượng phủ dày vàng lá do người hành hương dát.Ảnh: Philip Nalangan, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Một trong bốn tượng Phật đứng ở đền Ananda, Bagan, Myanmar.
Một trong bốn tượng Phật đứng ở đền Ananda, Bagan, Myanmar.Ảnh: Vyacheslav Argenberg, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: UNESCO, Bagan. Britannica, Southeast Asian arts: Burma. Wikipedia, Mahamuni Buddha Temple. Sahapedia, Infinite Wisdom: Buddhas of the Ananda Temple.

Thái Lan

Người Môn của Dvaravati (thế kỷ 6 tới 11) làm loạt tượng Phật lớn đầu tiên. Sukhothai (thế kỷ 13 tới 14) tạo ra hình Phật Thái quen thuộc: mặt trái xoan, tay chân dài mịn, áo gần như không nếp, trên nhục kế có ngọn lửa, một nét học từ Sri Lanka. Phật Ngọc ở Bangkok tạc bằng ngọc thạch xanh, được ghi nhận lần đầu vào thế kỷ 15 ở Chiang Rai, mỗi năm được thay y phục theo ba mùa.

Phật thiền định, đá, nghệ thuật Dvaravati, thế kỷ 8. Bảo tàng Quốc gia Bangkok.
Phật thiền định, đá, nghệ thuật Dvaravati, thế kỷ 8. Bảo tàng Quốc gia Bangkok.Ảnh: Photo Dharma from Sadao, Thailand, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Phật đi: tượng đồng Sukhothai, thế kỷ 14. Bảo tàng Quốc gia Bangkok.
Phật đi: tượng đồng Sukhothai, thế kỷ 14. Bảo tàng Quốc gia Bangkok.Ảnh: Photo Dharma from Sadao, Thailand, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Phra Phuttha Chinnarat, chùa Wat Phra Si Rattana Mahathat, Phitsanulok, Thái Lan.
Phra Phuttha Chinnarat, chùa Wat Phra Si Rattana Mahathat, Phitsanulok, Thái Lan.Ảnh: Supanut Arunoprayote, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Phật Ngọc (Phra Kaeo Morakot) ở Bangkok trong ba bộ y phục của ba mùa. Ảnh ghép từ ba ảnh.
Phật Ngọc (Phra Kaeo Morakot) ở Bangkok trong ba bộ y phục của ba mùa. Ảnh ghép từ ba ảnh.Ảnh: Sodacan, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Southeast Asian arts: Thailand and Laos. UNESCO, Historic Town of Sukhothai. Britannica, Sukhothai style. Wikipedia, Phra Phuttha Chinnarat. Britannica, Emerald Buddha.

Lào

Tượng Lào cùng họ với Sukhothai nhưng có nét riêng: đầu hình trứng, mày cong như cánh cung, mũi khoằm, dái tai rất dài. Thế đứng "cầu mưa", hai tay buông thẳng dọc thân, là dáng tiêu biểu của Lào và miền bắc Thái Lan. Thành Luang Prabang lấy tên từ tượng Phra Bang.

Phật đứng thế "cầu mưa", hai tay buông thẳng theo thân, đồng, thế kỷ 18. Haw Phra Kaew, Viêng Chăn, Lào.
Phật đứng thế "cầu mưa", hai tay buông thẳng theo thân, đồng, thế kỷ 18. Haw Phra Kaew, Viêng Chăn, Lào.Ảnh: Mx. Granger, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Đại học Northern Illinois, Treasures of Luang Prabang: Buddha images. Bảo tàng Ferenc Hopp (Budapest), Buddha in calling for rain mudra. UNESCO, Town of Luang Prabang. Wikipedia, Phra Bang.

Campuchia

Hình Phật riêng của người Khmer là Phật ngồi thiền trên mình rắn thần Mucalinda, bảy đầu rắn xòe che phía sau. Bảo tàng Metropolitan ghi rằng đề tài này có từ trước nhưng chính người Khmer làm cho nó phổ biến, nhất là dưới triều vua Jayavarman VII (trị vì 1181 tới 1218).

Phật ngồi trên mình rắn thần Mucalinda, sa thạch, phong cách Bayon, Campuchia, thế kỷ 12. Bảo tàng Mỹ thuật Honolulu.
Phật ngồi trên mình rắn thần Mucalinda, sa thạch, phong cách Bayon, Campuchia, thế kỷ 12. Bảo tàng Mỹ thuật Honolulu.Ảnh: Hiart, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: UNESCO, Angkor. Bảo tàng Metropolitan, Buddha Sheltered by a Naga.

Indonesia

Borobudur ở Java (thế kỷ 8 tới 9) có 72 tháp rỗng trên các tầng tròn, mỗi tháp chứa một tượng Phật ngồi. Đền Mendut gần đó có pho tượng Phật ngồi buông chân, cao khoảng 3 mét, giữa hai vị Bồ tát. Vương quốc biển Srivijaya để lại nhiều tượng đồng Phật và Quán Thế Âm.

Một tượng Phật trên tầng tròn của Borobudur, Java, Indonesia, thế kỷ 8 tới 9.
Một tượng Phật trên tầng tròn của Borobudur, Java, Indonesia, thế kỷ 8 tới 9.Ảnh: Photo Dharma from Penang, Malaysia, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Trong đền Mendut, Java: tượng Phật ngồi giữa hai vị Bồ tát, đầu thế kỷ 9.
Trong đền Mendut, Java: tượng Phật ngồi giữa hai vị Bồ tát, đầu thế kỷ 9.Ảnh: Chainwit., CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Bồ tát Quán Thế Âm, đồng, nghệ thuật Srivijaya, tìm thấy ở Chaiya. Bảo tàng Quốc gia Bangkok.
Bồ tát Quán Thế Âm, đồng, nghệ thuật Srivijaya, tìm thấy ở Chaiya. Bảo tàng Quốc gia Bangkok.Ảnh: Gunawan Kartapranata, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: UNESCO, Borobudur Temple Compounds. Britannica, Borobudur. Britannica, Southeast Asian arts: Indonesia.

Việt Nam

Việt Nam có ba dòng tượng Phật. Ở đồng bằng sông Cửu Long, văn hóa Óc Eo để lại những pho tượng Phật đứng tạc từ nguyên một thân cây. Ở miền Trung, Chăm Pa đúc tượng đồng quanh Phật viện Đồng Dương (thế kỷ 9 tới 10). Ở miền Bắc, Đại Việt có tượng A Di Đà bằng đá thời Lý và những pho tượng gỗ mít sơn son thếp vàng thế kỷ 17 tới 18 ở Bút Tháp, Tây Phương.

Tượng Phật gỗ từ vùng Tháp Mười, Đồng Tháp, văn hóa Óc Eo. Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh.
Tượng Phật gỗ từ vùng Tháp Mười, Đồng Tháp, văn hóa Óc Eo. Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh.Ảnh: Jacklee, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Tượng Phật Đồng Dương, đồng, Chăm Pa, thế kỷ 8 tới 9. Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Bảo vật quốc gia.
Tượng Phật Đồng Dương, đồng, Chăm Pa, thế kỷ 8 tới 9. Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Bảo vật quốc gia.Ảnh: Damian Vo, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
BẢN SAO tượng A Di Đà chùa Phật Tích (tượng gốc bằng đá, năm 1057, thời Lý), trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Thư viện chưa tìm được ảnh có giấy phép mở của tượng gốc trong chùa.
BẢN SAO tượng A Di Đà chùa Phật Tích (tượng gốc bằng đá, năm 1057, thời Lý), trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Thư viện chưa tìm được ảnh có giấy phép mở của tượng gốc trong chùa.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, gỗ sơn thếp, năm 1656, tại chùa Bút Tháp, Bắc Ninh. Bảo vật quốc gia.
Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, gỗ sơn thếp, năm 1656, tại chùa Bút Tháp, Bắc Ninh. Bảo vật quốc gia.Ảnh: Khangoii, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Pho tượng quen gọi là "La Hán cười" ở chùa Tây Phương, Hà Nội, cuối thế kỷ 18.
Pho tượng quen gọi là "La Hán cười" ở chùa Tây Phương, Hà Nội, cuối thế kỷ 18.Ảnh: Liftold at Vietnamese Wikipedia, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Báo Pháp Luật Việt Nam, Tượng gỗ Phật Thích Ca Mâu Ni 1.500 tuổi. VnExpress, Những bảo vật quốc gia. Báo Thanh Tra, Bảo vật quốc gia 1.200 tuổi ở Sài Gòn. Báo Tiền Phong, Giải mã bảo vật quốc gia. Báo Thanh Tra, Nơi lưu giữ 4 bảo vật quốc gia. Báo Văn Hóa, Chùa Tây Phương là điểm du lịch di tích quốc gia đặc biệt.

Trung Quốc

Có thể theo dõi tượng Phật Trung Hoa qua các quần thể hang đá. Vân Cương (từ khoảng năm 460, thời Bắc Ngụy) có năm hang đầu do sư Đàm Diệu lập, tượng cao tới khoảng 17 mét. Long Môn có Đại Phật Tỳ Lô Giá Na ở khám Phụng Tiên. Đôn Hoàng (Mạc Cao) có hơn hai nghìn tượng đất tô màu. Lạc Sơn Đại Phật cao 71 mét.

Đại Phật hang 20, Vân Cương, Đại Đồng, Trung Quốc, thời Bắc Ngụy, khoảng thập niên 460.
Đại Phật hang 20, Vân Cương, Đại Đồng, Trung Quốc, thời Bắc Ngụy, khoảng thập niên 460.Ảnh: Patrick20242023, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Tỳ Lô Giá Na và các vị thị giả, khám chùa Phụng Tiên, hang đá Long Môn, Lạc Dương, năm 673 tới 675, thời Đường.
Tỳ Lô Giá Na và các vị thị giả, khám chùa Phụng Tiên, hang đá Long Môn, Lạc Dương, năm 673 tới 675, thời Đường.Ảnh: Gary Todd, CC0, Wikimedia Commons
Lạc Sơn Đại Phật (Di Lặc ngồi buông hai chân), Tứ Xuyên, Trung Quốc, tạc từ năm 713 tới 803, cao 71 mét.
Lạc Sơn Đại Phật (Di Lặc ngồi buông hai chân), Tứ Xuyên, Trung Quốc, tạc từ năm 713 tới 803, cao 71 mét.Ảnh: Calistemon, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: UNESCO, Yungang Grottoes. Britannica, Yungang caves. UNESCO, Longmen Grottoes. UNESCO, Mogao Caves. UNESCO, Mount Emei and Leshan Giant Buddha.

Hàn Quốc

Hai tác phẩm tiêu biểu: các pho Bồ tát bán già tư duy bằng đồng mạ vàng (thế kỷ 6 tới 7), và Thạch Quật Am (Seokguram) gần Gyeongju, thế kỷ 8, nơi một pho tượng Phật bằng đá hoa cương trắng cao khoảng 3,5 mét ngồi kết ấn xúc địa, mặt hướng ra biển.

Tượng Phật trong Thạch Quật Am (Seokguram), Gyeongju, Hàn Quốc, năm 751 tới 774, nhìn qua cửa.
Tượng Phật trong Thạch Quật Am (Seokguram), Gyeongju, Hàn Quốc, năm 751 tới 774, nhìn qua cửa.Ảnh: myllissa from Seoul, S. Korea, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Bồ tát bán già tư duy, đồng mạ vàng, Quốc bảo 78. Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc.
Bồ tát bán già tư duy, đồng mạ vàng, Quốc bảo 78. Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc.Ảnh: Suohros, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: UNESCO, Seokguram Grotto and Bulguksa Temple. Britannica, Sokkuram. Bảo tàng Metropolitan, Pensive Treasure.

Nhật Bản

Bộ Thích Ca tam tôn ở Kim đường chùa Hōryū-ji (năm 623), của Tori Busshi, là tượng đồng theo lối Bắc Ngụy. Triều Nara đúc Đại Phật Tōdai-ji. Thời Heian, Jōchō tạo ra kiểu tượng Phật Nhật Bản chuẩn mực với pho A Di Đà chùa Byōdō-in (năm 1053), ghép từ nhiều khối gỗ rỗng. Đại Phật Kamakura ngồi ngoài trời từ khi điện thờ bị bão và động đất phá hủy.

Thích Ca tam tôn trong Kim đường chùa Hōryū-ji, Nhật Bản, năm 623. Ảnh in năm 1915.
Thích Ca tam tôn trong Kim đường chùa Hōryū-ji, Nhật Bản, năm 623. Ảnh in năm 1915.Ảnh: Japanese Temples and their Treasures, The Shimbi Shoin 1915, Public domain, Wikimedia Commons
Đại Phật chùa Tōdai-ji (Tỳ Lô Giá Na), Nara, Nhật Bản, khai nhãn năm 752, phần lớn tượng hiện nay là đúc lại về sau.
Đại Phật chùa Tōdai-ji (Tỳ Lô Giá Na), Nara, Nhật Bản, khai nhãn năm 752, phần lớn tượng hiện nay là đúc lại về sau.Ảnh: Gilles Desjardins, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
A Di Đà của Jōchō, năm 1053, gỗ ghép thếp vàng, Phượng Hoàng Đường chùa Byōdō-in, Nhật Bản. Ảnh công bố năm 1952.
A Di Đà của Jōchō, năm 1053, gỗ ghép thếp vàng, Phượng Hoàng Đường chùa Byōdō-in, Nhật Bản. Ảnh công bố năm 1952.Ảnh: Ken Domon, Public domain, Wikimedia Commons
Đại Phật Kamakura (A Di Đà), đồng, khởi đúc năm 1252, chùa Kōtoku-in, Nhật Bản. Ảnh chụp khoảng năm 1900, bộ sưu tập Bảo tàng Metropolitan.
Đại Phật Kamakura (A Di Đà), đồng, khởi đúc năm 1252, chùa Kōtoku-in, Nhật Bản. Ảnh chụp khoảng năm 1900, bộ sưu tập Bảo tàng Metropolitan.Ảnh: Adolph de Meyer, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: UNESCO, Buddhist Monuments in the Horyu-ji Area. Britannica, Tori style. Smarthistory, Tōdai-ji. Chùa Tōdai-ji, Đại Phật điện. Chùa Byōdō-in, tượng A Di Đà của Jōchō. Chùa Kōtoku-in, giới thiệu Đại Phật Kamakura.

Tây Tạng

Pho tượng thiêng nhất là Jowo Thích Ca trong chùa Jokhang ở Lhasa: Phật không mặc y nhà sư mà đội mũ miện và mang trang sức vương giả. Truyền thống kể tượng được công chúa Trung Hoa đưa tới Lhasa năm 641. Niên đại thật của tượng thì giới nghiên cứu còn bàn. Hình thờ Tây Tạng còn là thangka, tranh cuộn trên vải, vẽ theo tỉ lệ kinh điển định sẵn.

Tượng Jowo Thích Ca đội mũ miện trong chùa Jokhang, Lhasa. Ảnh chụp tháng 8 năm 1999.
Tượng Jowo Thích Ca đội mũ miện trong chùa Jokhang, Lhasa. Ảnh chụp tháng 8 năm 1999.Ảnh: LBM1948, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Phật Thích Ca, tranh thangka Tây Tạng, thế kỷ 18. Bảo tàng Mỹ thuật Rubin.
Phật Thích Ca, tranh thangka Tây Tạng, thế kỷ 18. Bảo tàng Mỹ thuật Rubin.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Bảo tàng Rubin, Jowo Shakyamuni of the Jokhang. UNESCO, Historic Ensemble of the Potala Palace, Lhasa. Bảo tàng Metropolitan, Tibetan Buddhist Art. Britannica, thang-ka.

Nepal, Bhutan và Mông Cổ

Thợ Newar ở thung lũng Kathmandu làm tượng đồng mạ vàng dày, mặt rộng, mắt dài, và làm cho cả Tây Tạng lẫn Trung Hoa. Ở Mông Cổ, Zanabazar (1635 tới 1723), vị Jebtsundamba đầu tiên, cũng là nhà điêu khắc lớn nhất nước này. Thư viện mới có một ảnh thangka của Bhutan, chưa có nguồn chữ về hình thờ Bhutan.

Phật ngồi ấn xúc địa (Thích Ca hoặc A Súc), hợp kim đồng mạ vàng, Nepal, thế kỷ 13. Bảo tàng Norton Simon.
Phật ngồi ấn xúc địa (Thích Ca hoặc A Súc), hợp kim đồng mạ vàng, Nepal, thế kỷ 13. Bảo tàng Norton Simon.Ảnh: Daderot, Public domain, Wikimedia Commons
Bồ tát Di Lặc đứng, cho là của Zanabazar, đồng mạ vàng, Mông Cổ, năm 1650 tới 1700. Bảo tàng Nghệ thuật Harvard.
Bồ tát Di Lặc đứng, cho là của Zanabazar, đồng mạ vàng, Mông Cổ, năm 1650 tới 1700. Bảo tàng Nghệ thuật Harvard.Ảnh: Daderot, Public domain, Wikimedia Commons
Tara Trắng của Zanabazar, thế kỷ 17. Bảo tàng Mỹ thuật Zanabazar, Ulaanbaatar.
Tara Trắng của Zanabazar, thế kỷ 17. Bảo tàng Mỹ thuật Zanabazar, Ulaanbaatar.Ảnh: Lady Anu, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Tranh thangka ghép vải của Bhutan, Phật Thích Ca ở giữa, thế kỷ 19. Bảo tàng Mỹ thuật Rubin.
Tranh thangka ghép vải của Bhutan, Phật Thích Ca ở giữa, thế kỷ 19. Bảo tàng Mỹ thuật Rubin.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Nepalese Sculpture. Bảo tàng Rubin, Maitreya của Zanabazar. Đại học Washington, Silk Road Seattle, Zanabazar.

Con đường tơ lụa

Các vương quốc ốc đảo ở lòng chảo Tarim đưa hình Phật từ Gandhara sang Trung Hoa. Kizil gần Kucha có 236 hang đục từ khoảng thế kỷ 3 tới 8. Khotan làm tượng chủ yếu bằng đất sét.

Phật thuyết pháp, tranh tường hang 206, Kizil, Tân Cương, thế kỷ 4 tới 5. Bảo tàng Dân tộc học Berlin.
Phật thuyết pháp, tranh tường hang 206, Kizil, Tân Cương, thế kỷ 4 tới 5. Bảo tàng Dân tộc học Berlin.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Đầu tượng Phật, đồng mạ vàng, Khotan, thế kỷ 3 tới 4. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.
Đầu tượng Phật, đồng mạ vàng, Khotan, thế kỷ 3 tới 4. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.Ảnh: Daderot, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Kizil Caves. Encyclopaedia Iranica, Khotan: Khotanese art.

IXNhững Điều Thư Viện Chưa Chắc

·Thư viện đọc phần lớn nguồn qua mạng. Ba cuốn sách in về tượng chùa Việt của Bùi Văn Tiến, Trần Lâm Biền và Chu Quang Trứ chưa được đối chiếu. Phần chùa miền Bắc dựa vào bài của Tiến sĩ Lê Tâm Đắc, bài của Nguyễn Quang Khải trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, một bài trên trang Phật tử Việt Nam và Wikipedia tiếng Việt.
·Tam Thế Phật là những vị nào: có nguồn ghi Nhiên Đăng, Thích Ca, Di Lặc. Có nguồn ghi A Di Đà, Thích Ca, Di Lặc, và một nguồn khác nói cách ghi này không đúng. Có nguồn ghi theo không gian là Dược Sư, Thích Ca, A Di Đà. Ông Lê Tâm Đắc còn nhắc rằng bộ này hay bị lẫn với Tam Thân.
·Bên trái, bên phải: các nguồn Việt Nam ghi vị trí của Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, của Văn Thù và Phổ Hiền, của Ca Diếp và A Nan bằng chữ "bên trái, bên phải" mà không nói tính từ người đứng lễ hay từ tượng. Hai nguồn ghi ngược nhau về Quán Thế Âm và Đại Thế Chí. Vì vậy trang này không ghi vị nào đứng bên nào.
·Hoa Nghiêm Tam Thánh: ở chùa Việt, tên này dùng cho bộ Thích Ca, Văn Thù, Phổ Hiền. Thư viện chưa đọc được nguồn giáo lý nói rõ vị ở giữa là Thích Ca hay Tỳ Lô Giá Na.
·Vị trí của tượng Tuyết Sơn và tượng Di Lặc trên các lớp bệ chùa Bắc: mỗi nguồn ghi một khác, nên sơ đồ không xếp hai tượng này vào một lớp riêng.
·Quan Âm chùa Bút Tháp: một nhãn bảo tàng ghi năm 1656, một nhãn ghi 1657. Số tay nhỏ có nguồn ghi 954, có nguồn ghi hơn 900. Tên người tạc mới thấy ghi là họ Trương. Trang này chỉ ghi những số mà hai nguồn trở lên khớp nhau.
·Tượng A Di Đà chùa Phật Tích: các báo ghi chiều cao lệch nhau vài phân (1,85 tới 1,87 mét). Ảnh trên trang là bản sao ở bảo tàng, không phải tượng gốc.
·Mấy ảnh chụp ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (Tuyết Sơn chùa Tây Phương): thư viện chưa rõ hiện vật trưng bày là tượng gốc hay bản làm lại, chú thích ảnh đã ghi rõ.
·Các pho Bồ tát bán già tư duy của Triều Tiên và Nhật Bản thường được cho là Di Lặc, nhưng nhãn của Bảo tàng Metropolitan không khẳng định.
·Lệ mỗi ngày một dáng Phật của người Thái: danh sách khớp giữa ba nguồn nhưng chưa có nguồn nghiên cứu nào của Thái Lan được đọc. Dáng tượng của đêm thứ Tư có nguồn tả ngồi, có nguồn tả đứng.
·Niên đại của nhiều hiện vật lấy theo nhãn bảo tàng do người chụp ảnh chép lại, thư viện chưa đối chiếu với hồ sơ của chính bảo tàng: tượng Gandhara ở Tokyo, dấu chân Phật ở Bảo tàng Anh, tượng Sultanganj, tượng nằm hang 26 Ajanta.
·Ý nghĩa của tòa sen và vầng hào quang: chưa có nguồn đủ tin, nên trang này chưa viết.
·Tên chữ gốc: chữ Hán, chữ Tạng chỉ ghi ở những tên đã thấy trong nguồn. Chữ Devanagari của các tên Phạn chưa được đối chiếu nên trang dùng lối phiên Latinh.
·Nhiều chi tiết về Sri Lanka, Myanmar, Lào, Kizil và về các vị hộ pháp mới dựa vào Wikipedia tiếng Anh. Khi có nguồn của bảo tàng hay cơ quan di sản, thư viện sẽ thay.
·Trang này mới có hình thờ của mười bảy nước và vùng. Còn thiếu ảnh nội thất chùa Sri Lanka, chùa Myanmar, chánh điện chùa Huế, ban thờ Phật tại gia của người Việt, và tượng cẩm thạch Mandalay.

Bạn là Phật tử, tu sĩ hay người nghiên cứu và thấy chỗ chưa đúng, hoặc có ảnh tự chụp muốn góp? Xin gửi kèm nguồn về thayungkhiem@gmail.com. Thư viện sửa và ghi tên người góp.

XẢnh Và Giấy Phép

Mọi ảnh trên trang lấy từ Wikimedia Commons, theo giấy phép Public domain, CC0, CC BY hoặc CC BY-SA. Tác giả và giấy phép ghi đúng như trang tệp gốc, đọc ngày 07/10/2026. Ảnh chỉ được thu nhỏ, không sửa nội dung. Bấm vào tên ảnh để tới trang tệp gốc. Nếu bạn là tác giả và thấy ghi công chưa đúng, xin báo để thư viện sửa.

1Adoration of the Diamond Throne and the Bodhi Tree Bharhut relief.jpg · Ken Kawasaki · CC BY-SA 3.0
2Worship of Chakra - Sandstone - ca 2nd Century BCE - Sunga Period - Bharhut - ACCN 305 - Indian Museum - Kolkata 2016-03-06 1563.JPG · Biswarup Ganguly · CC BY 3.0
3021 Prasenajit Pillar, Devas Flying Over a Stupa.jpg · Anandajoti · CC BY-SA 4.0
4Las huellas de Buda, British Museum.jpg · Jl FilpoC · CC BY-SA 4.0
5The Adoration of the Empty Throne.JPG · Ethan Doyle White · CC BY-SA 4.0
6Standing Buddha, near Peshawar, Pakistan, Kushan dynasty, 100s-200s AD, schist - Tokyo National Museum - Tokyo, Japan - DSC08671.jpg · Daderot · Public domain
7Inscribed Seated Buddha Image in Abhaya Mudra - Kushan Period - Katra Keshav Dev - ACCN A-1 - Government Museum - Mathura 2013-02-24 5972.JPG · Biswarup Ganguly · CC BY 3.0
8Buddha in Sarnath Museum (Dhammajak Mutra).jpg · พระมหาเทวประภาส วชิรญาณเมธี (Tevaprapas Makklay) · CC BY-SA 3.0
9Buddha Head, Gupta, 5th Century AD, Sarnath, Uttar Pradesh.jpg · Gary Todd · CC0
10Buddha in Bhumisparsha Mudra - Bronze - ca 9th-10th Century CE - Pala Period - Nalanda - ACCN 9426-A24290 - Indian Museum - Kolkata 2016-03-06 1725.JPG · Biswarup Ganguly · CC BY 3.0
11Gal Vihara Polonnaruwa.jpg · Philip Nalangan · CC BY 4.0
12Buddha - Varada Mudra - Nalanda Museum - ASI NM 10515.jpg · Sumitsurai · CC BY-SA 4.0
13Thailand, Mon-Dvaravati Period, 7th Century - Buddha with Hands in Gesture of Teaching, Vitarka Mudra - 1958.334 - Cleveland Museum of Art.tif · Cleveland Museum of Art · CC0
14Hermitage Museum XX-2470 Bodhisattva with His Hands in the Anjali Mudra Position.jpg · Không rõ tác giả, Bảo tàng Hermitage · Public domain
15The Sultanganj Buddha.jpg · Birmingham Museums · CC0
16069 Walking Buddha, 14c, Sukhothai (34443573793).jpg · Photo Dharma from Sadao, Thailand · CC BY 2.0
17100 Cave 26, Buddha in Parinirvana (34219037182).jpg · Photo Dharma from Sadao, Thailand · CC BY 2.0
18Buddha at birth (Tanjobutsu), Japan, Asuka period, 600s AD, gilt bronze - Freer Gallery of Art - DSC04782.jpg · Daderot · Public domain
19Newly-born Sakyamuni, Vietnam, 19th century AD, lacquered wood - - Museum of Vietnamese History - Ho Chi Minh City - DSC06021.JPG · Daderot · CC0
20Sakyamuni Buddha on Snowy Mount, Tay Phuong pagoda, Ha Tay province, 1794 AD, lacquered wood - Vietnam National Museum of Fine Arts - Hanoi, Vietnam - DSC05083.JPG · Daderot · CC0
21Fasting buddha at lahore museum.jpg · Patrik Germann · CC BY-SA 4.0
22Amitabha of Phat Tich pagoda (reproduction), Bac Ninh province, 1057 AD DSC04838.JPG · Daderot · CC0
23Amitabha triad in a niche, Baoqingsi temple, Xi'an, Shaanxi province, China, Tang dynasty, dated 703 AD, limestone DSC08704.jpg · Daderot · Public domain
24Daibutsu -Great Buddha-, Kōtoku-in Temple, Kamakura MET DP136185.jpg · Adolph de Meyer · CC0
25Domon Ken - Amida Nyorai (Amitābha) by Jōchō Byōdō-in.jpg · Ken Domon · Public domain
26Seated Yakushi Nyorai (Bhaisajyaguru), Nara period, 8th century, wood-core lacquer with gold leaf - Tokyo National Museum - DSC05091.JPG · Daderot · Public domain
27Bhaishajyaguru or Medicine Buddha, Tibet, 15th century, gilt bronze - Berkeley Art Museum and Pacific Film Archive - DSC04104.JPG · Daderot · CC0
28Ancient Buddhist Grottoes at Longmen- Fengxian Temple Grand Buddha Niche with Colossal Statue of Vairocana Buddha.jpg · Gary Todd · CC0
29Dainichi Nyorai Unkei Enjoji 1.jpg · Nara National Museum 奈良帝室博物館 (Showa 8 - 1933) · Public domain
30Daibutsu Grand bouddha - Tōdai-ji - Nara.jpg · Gilles Desjardins · CC BY-SA 4.0
31금동반가사유상 삼국-金銅半跏思惟像 三國-Pensive bodhisattva MET DT5255.jpg · The Metropolitan Museum of Art · CC0
32Maitreya, standing Boddhisattva, Gandhara, c. 3rd century AD, gray schist - Matsuoka Museum of Art - Tokyo, Japan - DSC07100.JPG · Daderot · Public domain
33Leshan Giant Buddha, March 2000 01.jpg · Calistemon · CC BY-SA 4.0
34Stoneware figure of Budai, Ming Dynasty, 15th century CE, from China. The British Museum.jpg · Osama Shukir Muhammed Amin FRCP(Glasg) · CC BY-SA 4.0
35But Thap Temple - 16.jpg · Benjamin Smith · CC BY-SA 4.0
36Bodhisattva Padmapani, cave 1, Ajanta, India.jpg · Không rõ tác giả · Public domain
37Baiyi Guanyin, China, Qing dynasty, late 18th century AD, Dehua-ware porcelain - Linden-Museum - Stuttgart, Germany - DSC03618.jpg · Daderot · Public domain
38Guanyin 2 EthnM.jpg · User:FA2010 · Public domain
39Quan âm chùa Bút Tháp 01.jpg · Khangoii · CC BY-SA 4.0
40Shadakshari Avalokiteshvara FS-7620 17.jpg · Không rõ tác giả, Smithsonian Institution · Public domain
41Juichimen Kannon Bosatsu (Ekadasamukha, eleven-faced Avalokitesvara), Japan, Heian period, 800s AD, wood - Tokyo National Museum - Tokyo, Japan - DSC08837.jpg · Daderot · Public domain
42Boddhisattva Wenshu (Manjushri) Seated on a Lion, Baoding, Hebei province, China, Liao dynasty, c. 11th century, marble - San Diego Museum of Art - DSC06497.JPG · Daderot · CC0
43Fugen Bosatsu.jpg · Khuyết danh · Public domain
44Japan, Kamakura period - Shaka attended by Fugen and Monju - 1916.1059 - Cleveland Museum of Art.jpg · Khuyết danh · CC0
45地蔵菩薩立像-Jizō Bosatsu MET DT352187.jpg · Kaikei · CC0
46Goryeo-Kshitigarbha (Chijang)-late.14c.jpg · Không rõ tác giả · Public domain
47MET DP164041.jpg · The Metropolitan Museum of Art · CC0
48White Tara and Green Tara.jpg · Không rõ tác giả · Public domain
49Green Tara, Tibet, 12th century AD, bronze with cold gold on face - Fitchburg Art Museum - DSC08842.JPG · Daderot · CC0
50Todaiji Monastery Shitenno of Kaidanin (Jikokuten) (229).jpg · Imperial Japanese Commission to the Panama-Pacific International Exposition · Public domain
51But Thap Temple - 05.jpg · Benjamin Smith · CC BY-SA 4.0
52But Thap Temple - 06.jpg · Benjamin Smith · CC BY-SA 4.0
53Tượng Tiêu Diện Đại Sĩ 2.jpg · Bùi Thụy Đào Nguyên · CC BY-SA 3.0
54Chùa Giác Lâm, tháng 01 năm 2022 (tượng Vi Đà hộ pháp) (1).jpg · Phương Huy · CC BY-SA 4.0
55Nio Ungyo at Todaiji Nandaimon.jpg · Bamse · CC BY-SA 3.0
56Mahakala, Protector of the Tent.jpg · Không rõ tác giả · Public domain
57China, Hebei province, Southern Xiangtangshan caves, Northern Qi dynasty - Standing Disciple Mahakasyapa Holding a Cylindrical Reliquary - 1972.166 - Cleveland Museum of Art.tif · Cleveland Museum of Art · CC0
58059 Buddha with Sariputta and Moggallana.jpg · Anandajoti · CC BY-SA 4.0
59Tây Phương Pagoda - 01.jpg · Benjamin Smith · CC BY-SA 4.0
60Thập Bát La Hán - Chùa tây Phương - La Hán Cười.jpg · Liftold at Vietnamese Wikipedia · CC BY-SA 3.0
61Arhats of Mia Buddhist temple.JPG · Ngokhong · CC BY-SA 3.0
62遼 三彩羅漢像-Arhat (Luohan) MET DP163962.jpg · The Metropolitan Museum of Art · CC0
63Hakuin Ekaku - Portrait of Daruma - 2015.500.9.3 - Metropolitan Museum of Art.jpg · Hakuin Ekaku · Public domain
64Anonymous - Painted Banner (Thangka) of Sage Guru Padmasambhava Seated Holding a Thunderbolt (Vajra) and Skull Cup (Kapala) - 1970.486 - Art Institute of Chicago.jpg · Khuyết danh · Public domain
65Je Tsongkhapa - AMNH - DSC06220.JPG · Daderot · CC0
66Un autel à l'intérieur d'un temple bouddhique (" Lien-thuy ") - A9869.jpg · Busy Léon · CC0
67L'autel du Bouddha Cakyamuni (Siddhartha Gautama) à l'intérieur d'un temple bouddhique (" Lien-thuy ") - A7656.jpg · Busy Léon · CC0
68Un autel à l'intérieur de la pagode Thay dite également de la " Félicité céleste " (Thien Phuc), située au pied du récif calcaire Sai-so'n - A7721.jpg · Busy Léon · CC0
69NHÀ TỔ CHÙA CỔ PHÁP .jpg · Phuonghoanghamthu · CC BY-SA 4.0
70Tượng Phật Thích Ca trong chùa Âng.jpg · Bùi Thụy Đào Nguyên · CC BY-SA 3.0
71Tịnh xá Ngọc Tín (trong chánh điện) (4).jpg · Phương Huy · CC BY-SA 4.0
72012 Ubosot Shrine (9180329603).jpg · Photo Dharma from Sadao, Thailand · CC BY 2.0
73Buddha at the Mahavira Hall, Haichuang Temple.jpg · Huangdan2060 · CC0
74Kyoto To-ji Kodo Innen 1.jpg · Zairon · CC BY-SA 4.0
75Kyoto Nishi Hongan-ji Amidahalle Innen 6.jpg · Zairon · CC BY-SA 4.0
76Tibetan Buddhist Shrine Room, Alice S. Kandell Collection, from Tibet, China, and Mongolia, 13th-20th century, mixed media - Arthur M. Sackler Gallery - DSC05130.jpg · Daderot · Public domain
77Thiksey Monastery, Interior, Ladakh, North India.jpg · Vyacheslav Argenberg · CC BY 4.0
78BamyanBuddha Smaller 1.jpg · Phecda109 · Public domain
79Anuradhapura-Samadhi Statue-hd.jpg · Naveen sandeepa sdnsk · CC BY-SA 4.0
80Buda de Avukana - 02.jpg · Carlos Delgado · CC BY-SA 4.0
81LK-polonnaruwa-gal-vihara-02.jpg · Balou46 · CC BY-SA 3.0
82Mahamuni Buddha Temple 3.jpg · Philip Nalangan · CC BY 4.0
83Bagan, Myanmar, Standing Buddha in Ananda Temple.jpg · Vyacheslav Argenberg · CC BY 4.0
84Phra Phuttha Chinnarat (II).jpg · Supanut Arunoprayote · CC BY 4.0
85The Emerald Buddha adorned with three seasons regalia.jpg · Sodacan · CC BY-SA 4.0
86007 Buddha Meditating, 8c, Dwaravati (35252593525).jpg · Photo Dharma from Sadao, Thailand · CC BY 2.0
87Calling for rain 1.jpg · Mx. Granger · CC0
88Muchilinda Buddha from Cambodia, Angkor kingdom, Bayon style, 12th century, sandstone, HAA.JPG · Hiart · CC0
89Borobudur - Buddha Statue - 042 Buddha Statue looking out (11678884594).jpg · Photo Dharma from Penang, Malaysia · CC BY 2.0
90Candi Mendut - Vairocana Buddha and the two Bodhisattava (2025) - img 01.jpg · Chainwit. · CC BY 4.0
91Avalokiteshvara Srivijaya Art Chaiya.JPG · Gunawan Kartapranata · CC BY-SA 3.0
92Buddha, Tượng Phật Đồng Dương, the Museum of Vietnamese History.jpg · Damian Vo · CC BY-SA 4.0
93Wooden Buddha statue, Museum of Vietnamese History, Ho Chi Minh City - 20121014-01.JPG · Jacklee · CC BY-SA 3.0
94云冈石窟第20窟大佛正面.jpg · Patrick20242023 · CC BY-SA 4.0
95Korea-Gyeongju-Seokguram-Buddha statue-05.jpg · myllissa from Seoul, S. Korea · CC BY 2.0
96Pensive Bodhisattva (National Treasure 78) 33.jpg · Suohros · CC0
97Horyuji Monastery Sakya Trinity of Kondo (178).jpg · Japanese Temples and their Treasures, The Shimbi Shoin 1915 · Public domain
98Lhasa, Jokhang 1999 20.jpg · LBM1948 · CC BY-SA 4.0
99Shakyamuni Buddha - Google Art Project.jpg · Không rõ tác giả · Public domain
100Buddha Shakyamuni or Akshobhya, Nepal, 1200s AD, gilt-copper alloy - Norton Simon Museum - Pasadena, CA - DSC03983.jpg · Daderot · Public domain
101Standing Bodhisattva Maitreya, attributed to Zanabazar, Mongolia, 1650-1700 AD, gilt bronze, pigments - Arthur M. Sackler Museum, Harvard University - DSC01150.jpg · Daderot · Public domain
102White Tara.jpg · Lady Anu · CC BY-SA 3.0
103Bhutanese Drukpa applique Buddhist lineage thonka with Shakyamuni Buddha in center, 19th century, Ruben Museum of Art.jpg · Không rõ tác giả · Public domain
104Buddha Sermon, Kizil, Foot-Washing Cave (Cave 206), 343-411 AD, wall painting- Ethnological Museum, Berlin - DSC01717.JPG · Daderot · CC0
105Head of Buddha, Khotan, China, 3rd-4th century AD, gilt bronze - Tokyo National Museum - Tokyo, Japan - DSC08602.jpg · Daderot · Public domain

XINguồn

1Bảo tàng Metropolitan, Buddhism and Buddhist Art
2Bảo tàng Anh, phòng Amaravati
3Smarthistory, The stupa
4Britannica, Buddhism: Popular religious practices
5Susan L. Huntington, Early Buddhist Art and the Theory of Aniconism, Art Journal 49 số 4, 1990
6Vidya Dehejia, Aniconism and the Multivalence of Emblems, Ars Orientalis 21, 1991 (thư mục)
7Bảo tàng Metropolitan, Kushan Empire
8Britannica, Gandhara art
9Britannica, Mathura art
10Bảo tàng Metropolitan, Gandhara
11Wikipedia, Buddha Preaching his First Sermon (Sarnath)
12Đại học Washington, Silk Road Seattle, tượng Phật thời Gupta
13Asia Society Museum, The Image of the Buddha
14Frank L. Chance, Which Buddha Is This Anyway, Education About Asia 17 số 1, 2012
15Wikipedia, Iconography of Gautama Buddha in Laos and Thailand
16Wikipedia, Reclining Buddha
17Britannica, Sukhothai style
18Smarthistory, bài về thủ ấn
19BuddhaNet, Mudras
20Britannica, mudra
21Buddhistdoor, Buddha images for the seven days of the week
22Tạp chí Silpa Wattanatham (Thái Lan), về tượng Phật ngày thứ Hai
23JAANUS, tanjoubutsu
24TS. Lê Tâm Đắc (Viện Nghiên cứu Tôn giáo), Bàn về đối tượng thờ trong các ngôi chùa Việt ở miền Bắc
25Báo Thế giới và Việt Nam, Báu vật gần 400 tuổi ở chùa Keo
26Majid Sheikh, báo Dawn, 15/03/2020, về tượng khổ hạnh ở Bảo tàng Lahore
27Britannica, Amitabha
28JAANUS, Amida sanzon
29Báo Tiền Phong, Giải mã bảo vật quốc gia
30Znews, Nguồn gốc tên gọi Phật Tích
31Báo Thanh Tra, Công nhận bảo vật quốc gia 30 hiện vật
32Chùa Kōtoku-in, giới thiệu Đại Phật Kamakura
33Chùa Byōdō-in, tượng A Di Đà của Jōchō
34Britannica, Bhaishajya-guru
35Britannica, Vairochana
36Britannica, Dhyani-Buddha
37UNESCO, Longmen Grottoes
38Smarthistory, Longmen caves
39Chùa Tōdai-ji, Đại Phật điện
40Smarthistory, Tōdai-ji
41Britannica, Maitreya
42Bảo tàng Metropolitan, Pensive bodhisattva
43Bảo tàng Metropolitan, Pensive Treasure
44Britannica, Leshan Giant Buddha
45UNESCO, Mount Emei and Leshan Giant Buddha
46JAANUS, Hotei
47Bảo tàng Anh, tượng Budai năm 1486
48Bảo tàng Bowers, A Budai by Any Other Name
49Phật tử Việt Nam, Cách bố trí tượng thờ trong chùa miền Bắc, 01/11/2007
50Bảo tàng Rubin, Buddhas of the Three Times
51Báo Văn Hóa, Độc đáo bộ tượng Tam Thế Phật chùa Côn Sơn
52Báo Thanh Tra, Nơi lưu giữ 4 bảo vật quốc gia
53Smarthistory, Bodhisattva Avalokiteshvara (Guanyin)
54Bảo tàng Mỹ thuật Đại học Michigan, Guanyin with a willow branch and vase
55Himalayan Art Resources, Avalokiteshvara Chaturbhuja
56JAANUS, Juuichimen Kannon
57VTC News, Bồ tát Quán Thế Âm là nam hay nữ (dẫn lời Hòa thượng Thích Thanh Từ)
58VietNamNet, A visit to But Thap Pagoda
59Britannica, Manjushri
60Britannica, Samantabhadra
61Britannica, Kshitigarbha
62Bảo tàng Metropolitan, Jizō của Kaikei
63Britannica, Mahasthamaprapta
64Britannica, Tara
65Bảo tàng Metropolitan, White Tara and Green Tara
66Britannica, lokapala
67Wikipedia, Four Heavenly Kings
68Wikipedia, Hall of Four Heavenly Kings
69Đào Thái Sơn, Bốn hệ tượng Hộ pháp trong các ngôi chùa Việt, báo Giác Ngộ, 07/07/2017
70Vô Ưu, Hai vị Hộ pháp khuyến thiện trừng ác trong các ngôi chùa Việt, phatgiao.org.vn, 25/07/2020
71Wikipedia, Skanda (Buddhism)
72Wikipedia, Nio (Buddhism)
73Wikipedia, Dharmapala
74Wikipedia, Mahavira Hall
75Nyanaponika Thera, The Life of Sariputta, Buddhist Publication Society
76Wikipedia, Eighteen Arhats
77Cục Di sản văn hóa, Di tích kiến trúc nghệ thuật chùa Tây Phương
78Wikipedia tiếng Việt, Chùa Tây Phương
79Tuổi Trẻ News, Vietnam names another 12 items national treasures
80Báo Văn Hóa, Chùa Tây Phương là điểm du lịch di tích quốc gia đặc biệt
81Wikipedia, Bodhidharma
82Wikipedia, Padmasambhava
83Wikipedia, Je Tsongkhapa
84Wikipedia tiếng Việt, Chùa Việt Nam, mục Bài trí tượng thờ
85Nguyễn Quang Khải, Một số đặc điểm chùa Việt, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 3 năm 2012
86Thiện Minh, Đức Ông được thờ trong chùa là ai, phatgiao.org.vn, 13/03/2021
87Khoa Du lịch, Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên, Sơ đồ tượng chùa Bắc, Trung, Nam
88ĐĐ.TS. Thích Trung Định, Đặc điểm kiến trúc chùa Huế, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, 2023
89Hệ phái Khất sĩ, Nét đặc thù của Khất sĩ qua mô hình kiến trúc tịnh xá
90Kim Ngân, Chùa Khmer Nam Bộ, scov.gov.vn, 18/10/2013
91Lý Lết, Chùa Nam tông Khmer, Tạp chí Văn hóa Phật giáo, 14/04/2023
92Wikipedia, Wat
93Wikipedia, Honzon
94Buddhist Churches of America, Naijin (tài liệu về nội trận Tịnh Độ Chân tông)
95Wikipedia, Shingon Buddhism
96JAANUS, Ryoukai mandara
97Tào Động tông (Sōtōshū), Butsudan
98Wikipedia, Gohonzon
99Phỏng vấn Đại đức Tenzin Yignyen, Tibetan Altars, Snow Lion
100Museum of International Folk Art, The Tibetan Buddhist Altar
101Thích Phước Thái, Thờ nhiều tượng Phật và Bồ tát có sai trái gì không, phatgiao.org.vn, 28/02/2020
102Minh Chính, Phật tử nên thờ tượng Phật nào trong nhà, phatgiao.org.vn, 13/07/2020
103Tổ Tư vấn báo Giác Ngộ, Thờ nhiều tượng Phật, 27/03/2012
104Tổ Tư vấn báo Giác Ngộ, Thờ Phật và thờ gia tiên
105UNESCO, Ajanta Caves
106UNESCO, Mahabodhi Temple Complex at Bodh Gaya
107UNESCO, Bamiyan Valley
108Smarthistory, Bamiyan Buddhas
109UNESCO, Sacred City of Anuradhapura
110UNESCO, Ancient City of Polonnaruwa
111Wikipedia, Samadhi Statue
112Wikipedia, Avukana Buddha statue
113Wikipedia, Gal Vihara
114UNESCO, Bagan
115Britannica, Southeast Asian arts: Burma
116Wikipedia, Mahamuni Buddha Temple
117Sahapedia, Infinite Wisdom: Buddhas of the Ananda Temple
118Britannica, Southeast Asian arts: Thailand and Laos
119UNESCO, Historic Town of Sukhothai
120Wikipedia, Phra Phuttha Chinnarat
121Britannica, Emerald Buddha
122Đại học Northern Illinois, Treasures of Luang Prabang: Buddha images
123Bảo tàng Ferenc Hopp (Budapest), Buddha in calling for rain mudra
124UNESCO, Town of Luang Prabang
125Wikipedia, Phra Bang
126UNESCO, Angkor
127Bảo tàng Metropolitan, Buddha Sheltered by a Naga
128UNESCO, Borobudur Temple Compounds
129Britannica, Borobudur
130Britannica, Southeast Asian arts: Indonesia
131Báo Pháp Luật Việt Nam, Tượng gỗ Phật Thích Ca Mâu Ni 1.500 tuổi
132VnExpress, Những bảo vật quốc gia
133Báo Thanh Tra, Bảo vật quốc gia 1.200 tuổi ở Sài Gòn
134UNESCO, Yungang Grottoes
135Britannica, Yungang caves
136UNESCO, Mogao Caves
137UNESCO, Seokguram Grotto and Bulguksa Temple
138Britannica, Sokkuram
139UNESCO, Buddhist Monuments in the Horyu-ji Area
140Britannica, Tori style
141Bảo tàng Rubin, Jowo Shakyamuni of the Jokhang
142UNESCO, Historic Ensemble of the Potala Palace, Lhasa
143Bảo tàng Metropolitan, Tibetan Buddhist Art
144Britannica, thang-ka
145Bảo tàng Metropolitan, Nepalese Sculpture
146Bảo tàng Rubin, Maitreya của Zanabazar
147Đại học Washington, Silk Road Seattle, Zanabazar
148Wikipedia, Kizil Caves
149Encyclopaedia Iranica, Khotan: Khotanese art

Các trang trên được đọc trong tháng 10 năm 2026. Trang nào đổi địa chỉ, xin báo để thư viện cập nhật.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tượng Phật cười bụng lớn có phải Phật Thích Ca không

Không. Đó là Bố Đại, một nhà sư Trung Hoa thế kỷ 10 được tin là hóa thân của Di Lặc, vị Phật tương lai. Phật Thích Ca được tạc trong y người xuất gia, thân cân đối, thường kết ấn xúc địa, thiền định hoặc chuyển pháp luân.

Làm sao phân biệt tượng Phật với tượng Bồ tát

Phật mặc y của người xuất gia, không đeo trang sức, trên đỉnh đầu có nhục kế. Bồ tát mặc y phục sang trọng, đội mũ miện, đeo trang sức. Địa Tạng là ngoại lệ: Ngài mang dáng một vị sư đầu cạo.

Vì sao Quán Thế Âm có nơi là nam, có nơi là nữ

Ở Ấn Độ, Ngài mang dáng một vương tử. Ở Trung Hoa, tới khoảng thế kỷ 12 tượng phần lớn mang dáng nữ. Kinh Pháp Hoa nói Bồ tát hiện ra trong bất cứ thân nào. Hòa thượng Thích Thanh Từ giảng rằng Bồ tát không phải nam cũng không phải nữ.

Chùa miền Bắc bày tượng theo thứ tự nào

Các nguồn khớp nhau ở mấy điểm: Tam Thế Phật ở lớp cao nhất, Di Đà Tam Tôn ở lớp kế, một bộ Thích Ca thuyết pháp ở giữa, Tòa Cửu Long ở phía trước. Thứ tự chi tiết thì mỗi chùa một khác và các nguồn cũng ghi khác nhau.

Trong nhà nên thờ mấy tượng Phật

Thầy Thích Phước Thái viết rằng chư Tổ khuyên thờ một tượng Phật hay một tượng Bồ tát là đủ. Tổ Tư vấn báo Giác Ngộ thì không định con số và nhấn rằng việc tu tập quan trọng hơn số tượng.

Vì sao trang này dùng ảnh chụp mà không vẽ lại

Hình thờ đúng hay sai nằm ở chi tiết: thế tay, vật cầm, y phục. Ảnh chụp hiện vật thật, có ghi nơi giữ và niên đại, giữ được những chi tiết ấy. Thư viện không vẽ chân dung các bậc thánh. Hình vẽ trên trang chỉ là sơ đồ.

›Đọc Tiếp