Trang này gom hình thờ của Phật giáo qua các nước: thờ vị nào, nhận ra bằng dấu gì, bày trên ban thờ ra sao. Thư viện dùng ảnh chụp tượng và tranh thật đang ở chùa hay bảo tàng, không vẽ lại chân dung các bậc thánh. Hình vẽ duy nhất trên trang là một sơ đồ. Dưới mỗi ảnh có tên người chụp và giấy phép. Phần chùa Việt theo các nguồn của Phật giáo Việt Nam và giới nghiên cứu trong nước. Trang đang được bổ sung, nước nào chưa có sẽ thêm dần.
IThuở Đầu Chưa Tạc Hình Phật
Trong nghệ thuật Phật giáo sớm nhất, Đức Phật không hiện ra bằng hình người. Chỗ của Ngài được chỉ bằng một dấu hiệu: đôi dấu chân, một tòa ngồi để trống, hay khoảng trống dưới chiếc lọng. Cội Bồ đề, bánh xe Pháp và ngôi tháp cũng thuộc nhóm dấu hiệu này, thấy nhiều trên phù điêu ở Sanchi, Bharhut và Amaravati.
Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Buddhism and Buddhist Art. Bảo tàng Anh, phòng Amaravati. Smarthistory, The stupa.



Dấu chân Phật (buddhapada) vẫn được tôn kính sau khi đã có tượng. Britannica ghi rằng dấu chân và các dấu tích khác của Đức Phật tiếp tục là đối tượng lễ bái bên cạnh xá lợi, tháp và tượng.
Nguồn: Britannica, Buddhism: Popular religious practices.Cách hiểu cũ cho rằng người Phật tử thời đầu cố ý tránh tạc hình Phật và dùng biểu tượng thay vào. Năm 1990, Susan L. Huntington phản bác: theo bà, nhiều phù điêu không phải cảnh đời Phật bị thay bằng biểu tượng, mà là cảnh người đời hành hương, lễ bái ở chính các thánh tích. Năm 1991, Vidya Dehejia đáp lại rằng các biểu tượng ấy mang nhiều lớp nghĩa cùng lúc: một cội cây có thể vừa chỉ Đức Phật, vừa chỉ thánh địa, vừa chỉ một ý của giáo pháp. Câu hỏi này tới nay chưa ngã ngũ. Thư viện ghi cả hai phía và không chọn bên nào.
Nguồn: Susan L. Huntington, Early Buddhist Art and the Theory of Aniconism, Art Journal 49 số 4, 1990. Vidya Dehejia, Aniconism and the Multivalence of Emblems, Ars Orientalis 21, 1991 (thư mục).
IINhững Pho Tượng Phật Đầu Tiên
Hình Phật trong dáng người xuất hiện vào thời Quý Sương (Kushan), quanh thế kỷ 1 Công nguyên. Hai trung tâm cùng tạo ra kiểu tượng riêng của mình rồi ảnh hưởng qua lại: Gandhara ở tây bắc (nay thuộc Pakistan và Afghanistan) và Mathura ở trung bắc Ấn Độ. Các nguồn đã đọc không khẳng định nơi nào làm trước.
Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Kushan Empire. Britannica, Gandhara art. Britannica, Mathura art.Gandhara
Nhận ra: Mặt trẻ, tóc gợn sóng, áo dày nhiều nếp phủ hai vaiChịu ảnh hưởng Hy Lạp và La Mã rõ nhất. Britannica so gương mặt với thần Apollo, Bảo tàng Metropolitan so tấm áo với áo toga La Mã. Chất liệu là đá phiến xanh xám, từ thế kỷ 3 dùng nhiều vữa stucco. Tượng vốn được tô màu và thếp vàng.

Mathura
Nhận ra: Vai rộng, ngực nở, áo mỏng để trần vai phải, tay phải giơ ấn vô úyTạc bằng sa thạch đỏ đốm của vùng này, nối theo truyền thống tượng yaksha bản địa. Pho tượng ngồi nổi tiếng từ Katra mang hình Phật nhưng chính bài minh khắc trên tượng lại gọi là Bồ tát.

Gupta
Nhận ra: Tóc xoắn ốc nhỏ, mắt nhìn xuống, áo mỏng như dính vào thânThời Gupta (thế kỷ 4 tới 6) gom nét của Gandhara và Mathura thành kiểu tượng mà Bảo tàng Metropolitan gọi là hình mẫu lý tưởng. Kiểu này về sau thành khuôn cho Nepal, Sri Lanka, Thái Lan, Indonesia và Trung Hoa. Pho nổi tiếng nhất là tượng Phật thuyết bài pháp đầu tiên ở Sarnath, thế kỷ 5: tay kết ấn chuyển pháp luân, dưới bệ có bánh xe và đôi hươu.

IIICách Nhận Ra Một Pho Tượng Phật
Tướng trên thân
Truyền thống kể Đức Phật có ba mươi hai tướng của bậc đại nhân, chép trong kinh Lakkhana (Trường Bộ 30) và kinh Brahmayu (Trung Bộ 91). Tượng không tạc đủ cả ba mươi hai tướng. Ba tướng hay gặp nhất là nhục kế (ushnisha, chỗ nhô trên đỉnh đầu), bạch hào (urna, điểm giữa hai chân mày, kinh tả là một chòm lông trắng) và dái tai dài, nhắc tới đôi hoa tai nặng mà thái tử đã tháo bỏ khi xuất gia. Các học giả còn bàn về thời điểm danh sách ba mươi hai tướng thành hình.
Nguồn: Asia Society Museum, The Image of the Buddha. Frank L. Chance, Which Buddha Is This Anyway, Education About Asia 17 số 1, 2012.Phật mặc y của người xuất gia, không đeo trang sức. Bồ tát thì mặc y phục và trang sức sang trọng. Đây là cách phân biệt nhanh nhất giữa hai nhóm tượng.
Nguồn: Đại học Washington, Silk Road Seattle, tượng Phật thời Gupta.
Bốn tư thế
Tượng Phật có bốn tư thế căn bản: ngồi, đứng, đi và nằm. Ngồi thường là xếp bằng kiết già, cũng có tượng ngồi buông hai chân như ngồi ghế. Phật nằm nghiêng bên phải là cảnh Ngài sắp nhập Niết bàn. Phật đi là sáng tạo riêng của nghệ thuật Sukhothai ở Thái Lan từ thế kỷ 14, Britannica ghi rằng kiểu này không có ở Ấn Độ.
Nguồn: Wikipedia, Iconography of Gautama Buddha in Laos and Thailand. Wikipedia, Reclining Buddha. Britannica, Sukhothai style.



Thủ ấn, thế tay của tượng
Ấn thí nguyện có nguồn tả bằng tay trái, có nguồn tả bằng tay phải. Cả hai đều gặp trên tượng, nên thư viện không ghi một tay nào làm lệ.






Lệ của người Thái: mỗi ngày trong tuần một dáng Phật
Ở Thái Lan và Lào có tục coi một dáng tượng Phật là hợp với người sinh vào một ngày trong tuần. Đây là tục sống trong dân gian, không phải điều kinh dạy. Ba nguồn đã đọc khớp nhau về danh sách dưới đây nhưng không nguồn nào thuộc giới nghiên cứu.
Nguồn: Buddhistdoor, Buddha images for the seven days of the week. Tạp chí Silpa Wattanatham (Thái Lan), về tượng Phật ngày thứ Hai. Wikipedia, Iconography of Gautama Buddha in Laos and Thailand.IVChư Phật Trên Ban Thờ
Phật giáo Nam truyền thờ Phật Thích Ca là chính. Phật giáo Bắc truyền và Kim Cương thừa thờ thêm nhiều vị Phật khác. Dưới đây là các vị gặp nhiều nhất và dấu để nhận ra từng vị.
Thích Ca Mâu Ni
Śākyamuni · 釋迦牟尼 · ShakaNhận ra: Y người xuất gia, thường kết ấn xúc địa, thiền định hoặc chuyển pháp luânĐức Phật lịch sử, được mọi truyền thống tôn thờ. Ngoài tượng thành đạo và thuyết pháp còn có ba dạng tượng theo từng chặng đời. Tượng đản sinh: hài nhi đứng, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất. Ở Nhật, ngày lễ Phật đản người ta rưới trà ngọt lên tượng này. Ở chùa miền Bắc Việt Nam, tượng sơ sinh đứng giữa chín con rồng, gọi là Tòa Cửu Long. Tượng Tuyết Sơn: Thích Ca gầy trơ xương trong sáu năm khổ hạnh trước khi thành đạo, chùa Keo, chùa Tây Phương, chùa Bút Tháp đều có. Cùng chặng đời ấy, nghệ thuật Gandhara có pho tượng khổ hạnh nổi tiếng ở Bảo tàng Lahore, tên đúng hơn là thái tử Tất Đạt Đa khổ hạnh vì khi ấy Ngài chưa thành Phật.




A Di Đà
Amitābha · 阿彌陀佛 · Amida · འོད་དཔག་མེད་Nhận ra: Thường đi cùng Quán Thế Âm và Đại Thế Chí thành bộ baGiáo chủ cõi Tây phương Cực Lạc, trung tâm của pháp môn Tịnh Độ ở Đông Á. Trong Kim Cương thừa, Ngài là một trong năm vị Phật, thân màu đỏ, tay kết ấn thiền định. Bộ ba A Di Đà, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí gọi là Tây Phương Tam Thánh hay Di Đà Tam Tôn. Ở Việt Nam, tượng A Di Đà bằng đá của chùa Phật Tích (Bắc Ninh), dựng năm 1057 thời Lý, là bảo vật quốc gia. Ở Nhật có Đại Phật Kamakura khởi đúc năm 1252, cao khoảng 11,3 mét, và tượng của Jōchō ở chùa Byōdō-in năm 1053.




Dược Sư
Bhaiṣajyaguru · Yakushi NyoraiNhận ra: Tay cầm bát thuốc. Tranh tượng Tây Tạng vẽ thân xanh lam, cầm thêm nhánh quả myrobalanVị Phật chữa bệnh, giáo chủ cõi tịnh độ phương Đông, có mười hai vị thần tướng dạ xoa theo hầu. Được thờ rộng ở Tây Tạng, Trung Hoa và Nhật Bản.


Tỳ Lô Giá Na, Đại Nhật
Vairocana · Dainichi NyoraiNhận ra: Thân trắng, tay kết ấn chuyển pháp luân, biểu tượng là bánh xeNhiều truyền thống Bắc truyền ở Đông Á, Tây Tạng, Nepal và Java coi Ngài là vị Phật tối thượng. Có khi Ngài được kể là một trong năm vị Phật (Tỳ Lô Giá Na, A Súc, Bảo Sinh, A Di Đà, Bất Không Thành Tựu), có khi là nguồn của cả năm. Năm vị được tạc gần giống nhau, phân biệt bằng màu thân, biểu tượng, thủ ấn và phương hướng. Đại Phật ở khám Phụng Tiên, Long Môn (năm 673 tới 675) và Đại Phật chùa Tōdai-ji ở Nara (khai nhãn năm 752) đều là Tỳ Lô Giá Na. Ở Nhật, Ngài là vị được tôn kính nhất của Chân Ngôn tông dưới tên Đại Nhật.



Di Lặc
Maitreya · Metteyya · 彌勒 · Miroku · བྱམས་པ་Nhận ra: Dạng Bồ tát đội mũ miện, hoặc dạng Phật ngồi buông hai chân. Ở Trung Hoa và Việt Nam là vị sư bụng lớn cười hiềnVị Phật tương lai, hiện là Bồ tát ở cung trời Đâu Suất. Britannica ghi Di Lặc là vị Bồ tát duy nhất được Phật giáo Nam truyền tôn kính rộng rãi. Ở Triều Tiên và Nhật Bản thế kỷ 6 tới 7 có kiểu tượng Bồ tát bán già tư duy, một chân gác lên gối, ngón tay chạm má, thường được cho là Di Lặc. Lạc Sơn Đại Phật ở Tứ Xuyên, cao 71 mét, tạc từ năm 713 tới 803, là Di Lặc. Hình vị sư bụng lớn là Bố Đại, một nhà sư Trung Hoa thế kỷ 10, tên Khế Thử (契此), hay mang chiếc túi vải. Người Trung Hoa tin ông là hóa thân của Di Lặc, nên tượng Bố Đại được thờ làm Di Lặc. Vị Phật cười này không phải Phật Thích Ca.




Tam Thế Phật
三世佛Nhận ra: Ba pho tượng Phật ngồi giống nhau, cùng cỡ, xếp một hàng ở lớp cao nhấtỞ chùa miền Bắc Việt Nam, ba pho Tam Thế ngồi trên tòa sen ở lớp trên cùng của Phật điện, tượng cho chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai. Ba pho thường không mang tên riêng. Truyền thống Himalaya và Trung Hoa thì gọi tên ba vị là Nhiên Đăng (quá khứ), Thích Ca (hiện tại) và Di Lặc (vị lai). Bộ Tam Thế chùa Côn Sơn (thế kỷ 17) và bộ ở chùa Bút Tháp là bảo vật quốc gia. Các nguồn Việt Nam giảng về ba pho này không giống nhau, xem mục Những điều thư viện chưa chắc.

VCác Vị Bồ Tát
Quán Thế Âm
Avalokiteśvara · 觀音 Guanyin · Kannon · སྤྱན་རས་གཟིགས་ ChenrezigNhận ra: Trên mũ có tượng A Di Đà nhỏ. Ở Đông Á thường cầm bình nước và cành dươngVị Bồ tát của lòng từ bi, được thờ ở khắp các nước Bắc truyền dưới nhiều tên. Ở Ấn Độ, Ngài là Liên Hoa Thủ (Padmapani), dáng một vương tử cầm hoa sen. Ở Trung Hoa, trước thời Tống tượng mang dáng nam, tới khoảng thế kỷ 12 thì phần lớn mang dáng nữ, với các dạng Bạch Y Quan Âm, Thủy Nguyệt Quan Âm, Quan Âm Tống Tử. Hòa thượng Thích Thanh Từ giảng rằng Bồ tát không phải nam cũng không phải nữ, hình người mẹ là để nói lòng thương. Ở Tây Tạng, Ngài là Chenrezig thân trắng bốn tay: hai tay chắp trước ngực, hai tay kia cầm tràng hạt pha lê và hoa sen. Ở Nhật có nhiều dạng Kannon, trong đó có dạng mười một mặt. Pho Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), gỗ, cao 3,7 mét, mười một đầu, tạc năm 1656, là bảo vật quốc gia.






Văn Thù Sư Lợi
Mañjuśrī · 文殊 Wenshu · Monju · འཇམ་དཔལ་Nhận ra: Tay phải giơ kiếm trí tuệ, tay trái cầm kinh. Ngồi trên sư tửVị Bồ tát của trí tuệ. Núi Ngũ Đài ở Sơn Tây, Trung Quốc, là đạo tràng của Ngài. Ở chùa Việt, Văn Thù cưỡi sư tử xanh thường đứng một bên Phật Thích Ca, bên kia là Phổ Hiền.

Phổ Hiền
Samantabhadra · 普賢 · FugenNhận ra: Ngồi trên voi trắngVị Bồ tát của hạnh nguyện, đạo tràng là núi Nga Mi ở Tứ Xuyên. Britannica tả voi của Ngài có ba đầu, hoặc một đầu sáu ngà. Bộ ba Thích Ca, Văn Thù, Phổ Hiền gặp ở Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam. Ở chùa Việt bộ ba này quen gọi là Hoa Nghiêm Tam Thánh.


Địa Tạng
Kṣitigarbha · 地藏 · Jizō · ས་ཡི་སྙིང་པོ་Nhận ra: Dáng một vị sư đầu cạo, tay cầm tích trượng và viên ngọcVị Bồ tát phát nguyện cứu chúng sinh trong địa ngục. Ở Trung Hoa, Ngài được coi là vị cai quản cõi địa ngục và được cầu cho người sắp mất. Ở Nhật, Jizō là vị che chở người đã khuất, nhất là trẻ nhỏ.


Đại Thế Chí
Mahāsthāmaprāpta · 大勢至 · SeishiNhận ra: Trên mũ có một bình nước, ở chỗ Quán Thế Âm mang tượng A Di ĐàĐược tôn kính nhiều nhất trong các tông Tịnh Độ, đứng cùng Quán Thế Âm hai bên A Di Đà. Ngài tượng cho trí tuệ, Quán Thế Âm tượng cho từ bi.

Tara, Độ Mẫu
Tārā · སྒྲོལ་མ་ DrolmaNhận ra: Tara Xanh ngồi buông chân phải, cầm sen xanh khép. Tara Trắng ngồi kiết già, có thêm mắt trên trán, lòng tay và lòng chânVị nữ Bồ tát được thờ rộng ở Tây Tạng, Nepal và Mông Cổ. Truyền thuyết kể Ngài sinh ra từ giọt nước mắt của Quán Thế Âm. Tranh Tây Tạng hay vẽ hai mươi mốt vị Tara quanh Tara Xanh.


VIHộ Pháp, La Hán Và Tổ Sư
Các vị hộ trì
Tứ Đại Thiên Vương
Shitennō (Nhật)Nhận ra: Bốn vị tướng mặc giáp, mỗi vị giữ một phươngTrì Quốc giữ phương Đông, Tăng Trưởng giữ phương Nam, Quảng Mục giữ phương Tây, Đa Văn giữ phương Bắc. Ở Đông Á, vị phương Đông thường cầm đàn tỳ bà, vị phương Nam cầm kiếm, vị phương Tây cầm rắn hoặc rồng. Vật cầm của vị phương Bắc thì các nguồn ghi khác nhau: lọng hoặc tháp. Ở chùa Trung Hoa, bốn vị đứng trong Thiên Vương điện ngay sau cổng.

Hộ pháp Khuyến Thiện và Trừng Ác
Nhận ra: Hai pho tượng rất lớn ở tiền đường chùa miền Bắc, mặc giáp, ngồi trên lưng sấuDân gian gọi là ông Thiện và ông Ác. Ông Thiện mặt trắng, hiền, tay cầm viên ngọc. Ông Ác mặt đỏ, dữ, tay cầm binh khí. Câu "to như ông Hộ pháp" là nói về hai pho tượng này.


Vi Đà và Tiêu Diện
Skanda · 韋馱 WeituoNhận ra: Vi Đà là vị tướng trẻ mặc giáp, cầm chày kim cương. Tiêu Diện mặt dữTrong chùa Trung Hoa, Vi Đà đứng sau lưng tượng Di Lặc Bố Đại ở Thiên Vương điện, mặt quay về chính điện. Ở Việt Nam, Vi Đà và Tiêu Diện Đại Sĩ là một trong bốn hệ tượng hộ pháp. Tiêu Diện được hiểu là hóa thân của Quán Thế Âm, hiện tướng dữ để hàng phục điều ác.


Niō của Nhật Bản
仁王Nhận ra: Hai vị lực sĩ cởi trần đứng hai bên cổng chùa, một vị há miệng, một vị ngậm miệngVị há miệng là Agyō, vị ngậm miệng là Ungyō, ứng với hai âm "a" và "hūm".

Hộ pháp phẫn nộ của Tây Tạng
DharmapālaNhận ra: Thân sẫm màu, mặt dữ, quanh thân có lửaTướng dữ nói lên sự sẵn sàng che chở người tu, các vị chỉ hiện tướng phẫn nộ vì lợi ích chúng sinh. Mahākāla là vị được biết tới nhiều nhất.

Đệ tử, La Hán và Tổ
Ca Diếp và A Nan
Mahākāśyapa · ĀnandaNhận ra: Hai vị sư đứng hai bên Phật Thích Ca: Ca Diếp mặt già, A Nan mặt trẻCách bày của chùa Bắc truyền. Ở miền Bắc Việt Nam, bộ tượng này gọi là Niêm Hoa: Thích Ca cầm hoa sen, hai bên là Ca Diếp và A Nan. Bộ tượng kể tích Đức Phật đưa cành hoa lên trên núi Linh Thứu, chỉ có Ca Diếp mỉm cười, nên Ca Diếp được coi là sơ tổ Thiền tông Ấn Độ.

Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên
Sāriputta · MoggallānaNhận ra: Hai vị sư chắp tay hai bên PhậtCách bày của chùa Nam truyền. Hai vị là hai đại đệ tử. Theo trưởng lão Nyanaponika, Xá Lợi Phất ở bên tay phải của Phật, Mục Kiền Liên ở bên tay trái, và nhiều chùa ở Sri Lanka có tượng hai vị đứng hai bên tượng Phật.

La Hán
Arhat · 羅漢Nhận ra: Các vị sư mỗi người một dáng, ngồi trên đá, gốc câyKinh sách kể mười sáu vị. Ở Trung Hoa, từ cuối thời Đường người ta thêm hai vị thành Thập bát La Hán, Nhật Bản vẫn giữ mười sáu. Ở chùa Việt, tượng La Hán thường xếp ở hai dãy hành lang, mỗi bên chín vị.


Bộ tượng chùa Tây Phương: La Hán hay Tổ
Nhận ra: Mười mấy pho tượng gỗ mít sơn thếp, cuối thế kỷ 18Báo chí, trang của Cục Di sản văn hóa và bài thơ của Huy Cận gọi đây là các vị La Hán. Một cách hiểu khác cho rằng đây là tượng các vị Tổ Ấn Độ của Thiền tông. Biển tên đặt trước một pho tượng trong chùa, chụp năm 2023, ghi "Tổ Phật Đà Mật Đa". Thư viện ghi cả hai cách gọi. Bộ tượng Phật giáo chùa Tây Phương thời Tây Sơn là bảo vật quốc gia từ năm 2015.


Bồ Đề Đạt Ma
Bodhidharma · DarumaNhận ra: Râu rậm, mắt to, dáng người phương xa, có khi xách một chiếc dépSơ tổ Thiền tông ở Trung Hoa. Ở miền Bắc Việt Nam, Ngài được gọi là Đức Tổ Tây và có mặt trên ban thờ của hầu hết các nhà Tổ.

Liên Hoa Sinh và Tông Khách Ba
Padmasambhava · TsongkhapaNhận ra: Liên Hoa Sinh cầm chày kim cương và bát sọ. Tông Khách Ba đội mũ vàngHai bậc thầy lớn của Phật giáo Tây Tạng. Liên Hoa Sinh là vị đạo sư thế kỷ 8 gắn với việc dựng tu viện Samye, nhân vật trung tâm của phái Nyingma. Tông Khách Ba (khoảng 1357 tới 1419) lập phái Gelug.


VIICách Bài Trí Trên Ban Thờ
Chùa miền Bắc Việt Nam
Phật điện chùa Bắc có nhiều lớp bệ: lớp cao nhất ở sâu trong cùng, sát mái, các lớp sau thấp dần ra phía trước, cuối cùng là hương án. Mọi nguồn đều nhấn rằng thứ tự không cố định, mỗi chùa bày theo cách của mình. Sơ đồ dưới đây ghi những điểm các nguồn khớp nhau.
Nguồn: Wikipedia tiếng Việt, Chùa Việt Nam, mục Bài trí tượng thờ. Phật tử Việt Nam, Cách bố trí tượng thờ trong chùa miền Bắc, 01/11/2007. TS. Lê Tâm Đắc (Viện Nghiên cứu Tôn giáo), Bàn về đối tượng thờ trong các ngôi chùa Việt ở miền Bắc. Nguyễn Quang Khải, Một số đặc điểm chùa Việt, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 3 năm 2012.Sơ đồ do thư viện vẽ để tóm tắt, không phải mặt bằng của một ngôi chùa cụ thể. Bốn nguồn xếp Di Đà Tam Tôn ở lớp thứ hai. Tiến sĩ Lê Tâm Đắc thì ghi bộ Thích Ca thuyết pháp ở "lớp thứ ba hoặc thứ hai". Về tượng đứng cạnh Tòa Cửu Long, có nguồn ghi Đế Thích và Phạm Thiên, có nguồn ghi Ngọc Hoàng với Nam Tào và Bắc Đẩu.



Ngoài Phật điện, chùa Bắc còn có hai vị Hộ pháp ở tiền đường, ban Đức Ông (nhiều nguồn giảng là trưởng giả Cấp Cô Độc, người cúng vườn Kỳ Viên), ban Thánh Tăng, tám vị Kim Cương ở hai bên trong các chùa lớn, mười vị Diêm Vương ở một số chùa, và nhà Tổ phía sau thờ Bồ Đề Đạt Ma cùng các vị trụ trì đời trước. Hầu hết chùa miền Bắc có gian thờ Mẫu. Ông Lê Tâm Đắc đọc cách bày này như sự hòa quyện của Thiền, Tịnh, Mật cùng tín ngưỡng bản địa.
Nguồn: TS. Lê Tâm Đắc (Viện Nghiên cứu Tôn giáo), Bàn về đối tượng thờ trong các ngôi chùa Việt ở miền Bắc. Phật tử Việt Nam, Cách bố trí tượng thờ trong chùa miền Bắc, 01/11/2007. Thiện Minh, Đức Ông được thờ trong chùa là ai, phatgiao.org.vn, 13/03/2021. Nguyễn Quang Khải, Một số đặc điểm chùa Việt, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 3 năm 2012.
Miền Trung, miền Nam, Khất sĩ và Nam tông Khmer
Chùa miền Trung và miền Nam bày giản dị hơn: tượng chính thường là một pho Thích Ca, hoặc bộ Tây Phương Tam Thánh. Ở Huế thường thờ theo lối tiền Phật hậu Tổ, Phật phía trước, Tổ phía sau. Tịnh xá của hệ phái Khất sĩ có chánh điện hình bát giác, tượng Phật ngự trong một tháp gỗ mười ba tầng ở giữa. Chùa Nam tông Khmer ở Nam Bộ chỉ thờ Phật Thích Ca, chánh điện quay mặt về hướng Đông, đời Phật được kể bằng tranh trên tường và trần. Trên bệ thờ Khmer thường có nhiều pho Thích Ca lớn nhỏ trong các tư thế khác nhau.
Nguồn: Khoa Du lịch, Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên, Sơ đồ tượng chùa Bắc, Trung, Nam. ĐĐ.TS. Thích Trung Định, Đặc điểm kiến trúc chùa Huế, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, 2023. Hệ phái Khất sĩ, Nét đặc thù của Khất sĩ qua mô hình kiến trúc tịnh xá. Kim Ngân, Chùa Khmer Nam Bộ, scov.gov.vn, 18/10/2013. Lý Lết, Chùa Nam tông Khmer, Tạp chí Văn hóa Phật giáo, 14/04/2023. TS. Lê Tâm Đắc (Viện Nghiên cứu Tôn giáo), Bàn về đối tượng thờ trong các ngôi chùa Việt ở miền Bắc.

Các truyền thống khác
Chùa Nam truyền (Thái Lan, Sri Lanka, Myanmar)
Nhận ra: Một pho tượng Phật Thích Ca chính, có thể có hai đại đệ tử hai bênỞ chùa Thái, ubosot là nơi truyền giới và là tòa nhà thiêng nhất, wihan là nơi hội chúng. Cả hai đều đặt tượng Phật.

Chùa Trung Hoa
Nhận ra: Đi từ cổng vào: Thiên Vương điện, rồi Đại Hùng Bảo ĐiệnỞ Thiên Vương điện, Di Lặc Bố Đại ngồi quay ra cổng, Vi Đà đứng sau lưng. Ở Đại Hùng Bảo Điện, thường gặp nhất là Thích Ca với Ca Diếp và A Nan, hoặc ba vị Phật: Thích Ca ở giữa, A Di Đà và Dược Sư hai bên. Hai vách bên thường có Thập bát La Hán.

Chùa Nhật Bản
Nhận ra: Vị bản tôn (honzon) đổi theo từng tôngTịnh Độ Chân tông chỉ thờ A Di Đà, bằng tượng, tranh hoặc bức thư pháp danh hiệu. Chân Ngôn tông lấy Đại Nhật Như Lai làm trung tâm giáo pháp và treo hai bức mạn đà la đối nhau. Thiền tông thờ Thích Ca. Các tông Nhật Liên thờ Gohonzon, một bức mạn đà la bằng chữ do Nhật Liên viết lần đầu vào các năm 1271 tới 1274. Một số cộng đồng Nhật Liên không tán thành việc in lại Gohonzon, nên thư viện không đăng ảnh.


Điện thờ Tây Tạng
Nhận ra: Tượng, kinh và tháp cùng trên một ban, phía trước là bảy chén nướcBan thờ tượng cho thân, khẩu, ý của Phật: tượng là thân, kinh là khẩu, tháp là ý. Bảy chén nước cúng xếp thẳng hàng, gần nhau mà không chạm. Đèn bơ tượng cho trí tuệ xua vô minh. Hình thờ chính có thể là một bức thangka thay cho tượng.


Ban thờ Phật tại nhà của Phật tử Việt Nam
Thầy Thích Phước Thái viết trên Cổng thông tin Phật giáo rằng chư Tổ khuyên trong nhà thờ một tượng Phật hay một tượng Bồ tát là đủ, vì thờ một tượng thì tâm dễ an định hơn. Người tu Tịnh Độ muốn thờ đủ bộ thì thờ A Di Đà cùng Quán Thế Âm và Đại Thế Chí. Tổ Tư vấn báo Giác Ngộ thì không định con số, và ghi rằng lời "thờ nhiều tượng thì mất cân bằng" là ý của phong thủy, không phải lời Phật dạy. Về thờ Phật chung với gia tiên, báo Giác Ngộ nêu hai lối: tiền Phật hậu linh và thượng Phật hạ linh, bàn thờ gia tiên thấp hơn bàn thờ Phật một bậc.
Nguồn: Thích Phước Thái, Thờ nhiều tượng Phật và Bồ tát có sai trái gì không, phatgiao.org.vn, 28/02/2020. Minh Chính, Phật tử nên thờ tượng Phật nào trong nhà, phatgiao.org.vn, 13/07/2020. Tổ Tư vấn báo Giác Ngộ, Thờ nhiều tượng Phật, 27/03/2012. Tổ Tư vấn báo Giác Ngộ, Thờ Phật và thờ gia tiên.VIIITượng Phật Qua Từng Nước
Cùng một Đức Phật, mỗi xứ tạc theo gương mặt và chất liệu của mình. Mỗi nước dưới đây có vài dòng về phong cách và một tới bốn ảnh hiện vật tiêu biểu. Danh sách còn thiếu nhiều nước, thư viện sẽ thêm dần.
Ấn Độ
Nơi hình Phật ra đời. Sau Mathura và Gupta, các hang Ajanta (đục thêm vào thế kỷ 5 tới 6) giữ tranh và tượng mà UNESCO gọi là kiệt tác của nghệ thuật Phật giáo. Trong chính điện tháp Đại Giác ở Bồ Đề Đạo Tràng có pho tượng Phật thếp vàng kết ấn xúc địa.



Pakistan và Afghanistan
Đất Gandhara xưa. Ở Bamiyan (Afghanistan) từng có hai pho tượng Phật đứng tạc vào vách núi, cao 55 mét và 38 mét, phủ vữa và tô màu, khoảng thế kỷ 6 tới 7. Cả hai bị Taliban phá vào tháng 3 năm 2001.



Sri Lanka
Tượng Phật Sri Lanka điềm tĩnh, gần như không trang sức, chuộng thế ngồi thiền. Pho Samadhi ở Anuradhapura cao khoảng 2,2 mét, niên đại được ghi từ thế kỷ 3 tới thế kỷ 6 tùy nguồn. Avukana là pho tượng đứng tạc vào núi đá, cao gần 12 mét, có nguồn định thế kỷ 5, có nguồn định thế kỷ 8. Gal Vihara ở Polonnaruwa có bốn pho tạc trên một vách đá, làm dưới triều vua Parakramabahu I, thế kỷ 12.



Myanmar
Bagan (thế kỷ 11 tới 13) là thời cổ điển, UNESCO ghi 3.595 công trình. Ấn xúc địa là thế tay phổ biến nhất. Từ khoảng thế kỷ 17 có phong cách Mandalay, hay tạc bằng cẩm thạch, tới nay vẫn chiếm phần lớn ban thờ Myanmar. Tượng Mahamuni ở Mandalay được đưa từ Arakan về năm 1784.


Thái Lan
Người Môn của Dvaravati (thế kỷ 6 tới 11) làm loạt tượng Phật lớn đầu tiên. Sukhothai (thế kỷ 13 tới 14) tạo ra hình Phật Thái quen thuộc: mặt trái xoan, tay chân dài mịn, áo gần như không nếp, trên nhục kế có ngọn lửa, một nét học từ Sri Lanka. Phật Ngọc ở Bangkok tạc bằng ngọc thạch xanh, được ghi nhận lần đầu vào thế kỷ 15 ở Chiang Rai, mỗi năm được thay y phục theo ba mùa.




Lào
Tượng Lào cùng họ với Sukhothai nhưng có nét riêng: đầu hình trứng, mày cong như cánh cung, mũi khoằm, dái tai rất dài. Thế đứng "cầu mưa", hai tay buông thẳng dọc thân, là dáng tiêu biểu của Lào và miền bắc Thái Lan. Thành Luang Prabang lấy tên từ tượng Phra Bang.

Campuchia
Hình Phật riêng của người Khmer là Phật ngồi thiền trên mình rắn thần Mucalinda, bảy đầu rắn xòe che phía sau. Bảo tàng Metropolitan ghi rằng đề tài này có từ trước nhưng chính người Khmer làm cho nó phổ biến, nhất là dưới triều vua Jayavarman VII (trị vì 1181 tới 1218).

Indonesia
Borobudur ở Java (thế kỷ 8 tới 9) có 72 tháp rỗng trên các tầng tròn, mỗi tháp chứa một tượng Phật ngồi. Đền Mendut gần đó có pho tượng Phật ngồi buông chân, cao khoảng 3 mét, giữa hai vị Bồ tát. Vương quốc biển Srivijaya để lại nhiều tượng đồng Phật và Quán Thế Âm.



Việt Nam
Việt Nam có ba dòng tượng Phật. Ở đồng bằng sông Cửu Long, văn hóa Óc Eo để lại những pho tượng Phật đứng tạc từ nguyên một thân cây. Ở miền Trung, Chăm Pa đúc tượng đồng quanh Phật viện Đồng Dương (thế kỷ 9 tới 10). Ở miền Bắc, Đại Việt có tượng A Di Đà bằng đá thời Lý và những pho tượng gỗ mít sơn son thếp vàng thế kỷ 17 tới 18 ở Bút Tháp, Tây Phương.





Trung Quốc
Có thể theo dõi tượng Phật Trung Hoa qua các quần thể hang đá. Vân Cương (từ khoảng năm 460, thời Bắc Ngụy) có năm hang đầu do sư Đàm Diệu lập, tượng cao tới khoảng 17 mét. Long Môn có Đại Phật Tỳ Lô Giá Na ở khám Phụng Tiên. Đôn Hoàng (Mạc Cao) có hơn hai nghìn tượng đất tô màu. Lạc Sơn Đại Phật cao 71 mét.



Hàn Quốc
Hai tác phẩm tiêu biểu: các pho Bồ tát bán già tư duy bằng đồng mạ vàng (thế kỷ 6 tới 7), và Thạch Quật Am (Seokguram) gần Gyeongju, thế kỷ 8, nơi một pho tượng Phật bằng đá hoa cương trắng cao khoảng 3,5 mét ngồi kết ấn xúc địa, mặt hướng ra biển.


Nhật Bản
Bộ Thích Ca tam tôn ở Kim đường chùa Hōryū-ji (năm 623), của Tori Busshi, là tượng đồng theo lối Bắc Ngụy. Triều Nara đúc Đại Phật Tōdai-ji. Thời Heian, Jōchō tạo ra kiểu tượng Phật Nhật Bản chuẩn mực với pho A Di Đà chùa Byōdō-in (năm 1053), ghép từ nhiều khối gỗ rỗng. Đại Phật Kamakura ngồi ngoài trời từ khi điện thờ bị bão và động đất phá hủy.




Tây Tạng
Pho tượng thiêng nhất là Jowo Thích Ca trong chùa Jokhang ở Lhasa: Phật không mặc y nhà sư mà đội mũ miện và mang trang sức vương giả. Truyền thống kể tượng được công chúa Trung Hoa đưa tới Lhasa năm 641. Niên đại thật của tượng thì giới nghiên cứu còn bàn. Hình thờ Tây Tạng còn là thangka, tranh cuộn trên vải, vẽ theo tỉ lệ kinh điển định sẵn.


Nepal, Bhutan và Mông Cổ
Thợ Newar ở thung lũng Kathmandu làm tượng đồng mạ vàng dày, mặt rộng, mắt dài, và làm cho cả Tây Tạng lẫn Trung Hoa. Ở Mông Cổ, Zanabazar (1635 tới 1723), vị Jebtsundamba đầu tiên, cũng là nhà điêu khắc lớn nhất nước này. Thư viện mới có một ảnh thangka của Bhutan, chưa có nguồn chữ về hình thờ Bhutan.




Con đường tơ lụa
Các vương quốc ốc đảo ở lòng chảo Tarim đưa hình Phật từ Gandhara sang Trung Hoa. Kizil gần Kucha có 236 hang đục từ khoảng thế kỷ 3 tới 8. Khotan làm tượng chủ yếu bằng đất sét.


IXNhững Điều Thư Viện Chưa Chắc
Bạn là Phật tử, tu sĩ hay người nghiên cứu và thấy chỗ chưa đúng, hoặc có ảnh tự chụp muốn góp? Xin gửi kèm nguồn về thayungkhiem@gmail.com. Thư viện sửa và ghi tên người góp.
XẢnh Và Giấy Phép
Mọi ảnh trên trang lấy từ Wikimedia Commons, theo giấy phép Public domain, CC0, CC BY hoặc CC BY-SA. Tác giả và giấy phép ghi đúng như trang tệp gốc, đọc ngày 07/10/2026. Ảnh chỉ được thu nhỏ, không sửa nội dung. Bấm vào tên ảnh để tới trang tệp gốc. Nếu bạn là tác giả và thấy ghi công chưa đúng, xin báo để thư viện sửa.
XINguồn
Các trang trên được đọc trong tháng 10 năm 2026. Trang nào đổi địa chỉ, xin báo để thư viện cập nhật.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tượng Phật cười bụng lớn có phải Phật Thích Ca không
Không. Đó là Bố Đại, một nhà sư Trung Hoa thế kỷ 10 được tin là hóa thân của Di Lặc, vị Phật tương lai. Phật Thích Ca được tạc trong y người xuất gia, thân cân đối, thường kết ấn xúc địa, thiền định hoặc chuyển pháp luân.
Làm sao phân biệt tượng Phật với tượng Bồ tát
Phật mặc y của người xuất gia, không đeo trang sức, trên đỉnh đầu có nhục kế. Bồ tát mặc y phục sang trọng, đội mũ miện, đeo trang sức. Địa Tạng là ngoại lệ: Ngài mang dáng một vị sư đầu cạo.
Vì sao Quán Thế Âm có nơi là nam, có nơi là nữ
Ở Ấn Độ, Ngài mang dáng một vương tử. Ở Trung Hoa, tới khoảng thế kỷ 12 tượng phần lớn mang dáng nữ. Kinh Pháp Hoa nói Bồ tát hiện ra trong bất cứ thân nào. Hòa thượng Thích Thanh Từ giảng rằng Bồ tát không phải nam cũng không phải nữ.
Chùa miền Bắc bày tượng theo thứ tự nào
Các nguồn khớp nhau ở mấy điểm: Tam Thế Phật ở lớp cao nhất, Di Đà Tam Tôn ở lớp kế, một bộ Thích Ca thuyết pháp ở giữa, Tòa Cửu Long ở phía trước. Thứ tự chi tiết thì mỗi chùa một khác và các nguồn cũng ghi khác nhau.
Trong nhà nên thờ mấy tượng Phật
Thầy Thích Phước Thái viết rằng chư Tổ khuyên thờ một tượng Phật hay một tượng Bồ tát là đủ. Tổ Tư vấn báo Giác Ngộ thì không định con số và nhấn rằng việc tu tập quan trọng hơn số tượng.
Vì sao trang này dùng ảnh chụp mà không vẽ lại
Hình thờ đúng hay sai nằm ở chi tiết: thế tay, vật cầm, y phục. Ảnh chụp hiện vật thật, có ghi nơi giữ và niên đại, giữ được những chi tiết ấy. Thư viện không vẽ chân dung các bậc thánh. Hình vẽ trên trang chỉ là sơ đồ.