VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Hình Thờ Trong Thần Đạo

· Thần không hiện hình, chỉ có thần thể sau cửa đóng

Ảnh chụp hiện vật thật, có giấy phép mở và ghi tên người chụp. Mỗi ý đều ghi nguồn. Chỗ nào thư viện chưa chắc thì nói rõ là chưa chắc.

Ảnh
40
ảnh chụp hiện vật thật, không vẽ lại
Điều cốt lõi
Không bày tượng
thần ngự trong thần thể, cất kín sau cửa chính điện
Nguồn
58
Jinja Honchō, Đại học Kokugakuin, các đền, bảo tàng, UNESCO

Thần đạo là đạo mà các thần (kami) nói chung không được tạc hình cho người lễ nhìn. Ở chỗ trang trọng nhất của một ngôi đền là một cánh cửa đóng, sau cửa là thần thể: một tấm gương, một thanh kiếm, một viên ngọc, có khi là cả một ngọn núi. Trang này kể vì sao lại thế theo nguồn của chính Thần đạo, rồi cho thấy những thứ người đi lễ thật sự nhìn thấy: cổng torii, dây thừng rơm, cặp komainu, cáo của Inari, hòm công đức, tấm gương, cây gohei. Trang cũng kể về những tượng thần và tranh thần ra đời khi thần và Phật còn hòa làm một, về kệ thờ trong nhà và các kiểu chính điện. Ảnh là ảnh chụp vật thật, hình vẽ duy nhất là sơ đồ chữ. Thư viện không đăng ảnh hay hình vẽ nào của ba báu vật thiêng.

IThần Không Hiện Hình

Thần đạo thờ các thần, tiếng Nhật gọi là kami. Hội các Đền Thần đạo (Jinja Honchō) viết rằng kami gồm cả tổ tiên lẫn các linh thể của thiên nhiên. Bách khoa Thần đạo của Đại học Kokugakuin nhấn một điểm: kami về căn bản là vô hình, chỉ tỏ mình qua vật thiên nhiên và qua người làm trung gian. Vì vậy ở chỗ trang trọng nhất của một ngôi đền không có pho tượng nào để người lễ nhìn lên.

Nguồn: Jinja Honchō (Hội các Đền Thần đạo), What is Shinto. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Kami, Definitions and Typology.

Bảo tàng Metropolitan ghi rằng trước khi Phật giáo lan tới, người Nhật chưa hề tạc thần trong dáng người. Thần được thấy ngay trong núi, sông và cây cổ thụ. Về sau có tượng thần, nhưng tượng được cất kín trong nội điện, còn người lễ vẫn bày tỏ lòng thành ở lối vào, bằng cách vỗ hai bàn tay.

Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Shinto.

Thứ được thờ gọi là thần thể (shintai, 神体, cũng gọi goshintai hay mitamashiro): một vật mà thần ngự vào. Thần thể đặt trong chính điện (honden), gian thiêng nhất của đền. Britannica tả thần thể thường được bọc vải hoặc để trong hộp, cất trong một gian nhỏ hay một chiếc tủ mà cửa hiếm khi mở.

Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shintai. Jinja Honchō, The Jinja Precinct. Britannica, Shintai.
Lối lên chính cung Nội cung (Naikū) của Thần cung Ise, tỉnh Mie. Người đi lễ dừng ở cổng hàng rào phía trên bậc đá, chính điện nằm khuất sau nhiều lớp rào. Ảnh năm 2023.
Lối lên chính cung Nội cung (Naikū) của Thần cung Ise, tỉnh Mie. Người đi lễ dừng ở cổng hàng rào phía trên bậc đá, chính điện nằm khuất sau nhiều lớp rào. Ảnh năm 2023.Ảnh: Zairon, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Chính điện (honden) đền Izumo Ōyashiro, tỉnh Shimane, nhìn từ ngoài hàng rào. Mái có hai thanh gỗ bắt chéo (chigi). Ảnh năm 2016.
Chính điện (honden) đền Izumo Ōyashiro, tỉnh Shimane, nhìn từ ngoài hàng rào. Mái có hai thanh gỗ bắt chéo (chigi). Ảnh năm 2016.Ảnh: Saigen Jiro, CC0, Wikimedia Commons
Bên trong bái điện đền Kumano Hayatama, Shingū, tỉnh Wakayama: bàn án dâng lễ trước dãy cửa song. Không có pho tượng nào. Ảnh năm 2023.
Bên trong bái điện đền Kumano Hayatama, Shingū, tỉnh Wakayama: bàn án dâng lễ trước dãy cửa song. Không có pho tượng nào. Ảnh năm 2023.Ảnh: Zairon, CC BY 4.0, Wikimedia Commons

Ở Thần cung Ise, tấm Gương Thánh, biểu tượng của Amaterasu Ōmikami, đặt trong chính cung ở sân trong cùng. Chính cung nằm sau nhiều lớp hàng rào và người lễ chỉ được vào tới lớp rào thứ ba. Ở đền Izumo Ōyashiro, chính điện nằm sau một hàng rào có cổng Yatsuashi, chỉ thần chức và người dự lễ cầu đặc biệt mới được đi qua.

Nguồn: Thần cung Ise (Ise Jingū), About Ise Jingu. Đền Izumo Ōyashiro, Precincts.
Có tượng thần, nhưng không phải để nhìn

Nói Thần đạo hoàn toàn không có hình là chưa đủ. Từ cuối thời Nara, dưới ảnh hưởng của Phật giáo, người ta đã tạc tượng thần bằng gỗ (shinzō). Bách khoa Thần đạo ghi rõ: vì đặt sâu trong chính điện, những tượng ấy không trở thành đối tượng lễ bái trực tiếp như tượng Phật. Chính bách khoa này cũng xếp tượng thần là một dạng thần thể, bên cạnh gương, kiếm, ngọc và cây gohei. Phần Tượng Thần Và Tranh Thần bên dưới kể kỹ hơn.

Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shinzō. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shintai.

IIThần Thể: Vật Mà Thần Ngự

Thần thể có hai loại. Loại do người làm ra thường là gương, kiếm hoặc ngọc. Loại có sẵn trong thiên nhiên là một tảng đá, một ngọn núi, một ngọn thác. Jinja Honchō viết rằng trước khi có đền đài cố định, người ta tin thần ngự trong cây và trong đá lớn, hoặc ngự mãi, hoặc chỉ trong lúc hành lễ.

Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shintai. Britannica, Shintai. Jinja Honchō, Veneration of Nature.

Gương

kagami, shinkyōNhận ra: Tấm gương tròn bằng kim loại, mặt sau đúc hoa văn

Bách khoa Thần đạo ghi rằng từ xưa gương, cùng với kiếm và ngọc, đã mang ý nghĩa tôn giáo sâu, và được dùng làm vật thần ngự trong đền. Tấm gương nổi tiếng nhất là Yata no Kagami ở Ise. Thư viện không có ảnh của một tấm gương đang là thần thể, vì thần thể không được đem ra chụp. Tấm trong ảnh là gương thần trưng trong Bảo vật quán của đền Itsukushima.

Gương thần (shinkyō) có chữ Phạn và hoa cúc, trưng bày ở Bảo vật quán đền Itsukushima. Chữ Phạn là loại chữ dùng trong Phật giáo.
Gương thần (shinkyō) có chữ Phạn và hoa cúc, trưng bày ở Bảo vật quán đền Itsukushima. Chữ Phạn là loại chữ dùng trong Phật giáo.Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Kagami. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shintai.

Núi

shintaizanNhận ra: Đền không có chính điện, bái điện hướng thẳng vào núi

Shintaizan là ngọn núi được thờ vì có thần ngự. Ví dụ thường dẫn là đền Ōmiwa ở Sakurai, tỉnh Nara: đền thờ núi Miwa, phía sau bái điện là vùng cấm người vào và không dựng chính điện, vì chính ngọn núi là thân của thần. Núi Phú Sĩ và núi Nantai ở Nikkō cũng thuộc loại này.

Núi Miwa ở Sakurai, tỉnh Nara, nhìn từ gò mộ Hashihaka. Cả ngọn núi là thần thể của đền Ōmiwa. Ảnh năm 2013.
Núi Miwa ở Sakurai, tỉnh Nara, nhìn từ gò mộ Hashihaka. Cả ngọn núi là thần thể của đền Ōmiwa. Ảnh năm 2013.Ảnh: Saigen Jiro, CC0, Wikimedia Commons
Bái điện đền Ōmiwa. Phía sau bái điện không có chính điện, người lễ hướng thẳng về núi Miwa. Ảnh năm 2013.
Bái điện đền Ōmiwa. Phía sau bái điện không có chính điện, người lễ hướng thẳng về núi Miwa. Ảnh năm 2013.Ảnh: Saigen Jiro, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shintaizan. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: History and Typology of Shrine Architecture.

Thác

NachiNhận ra: Ngọn thác đổ một dòng thẳng từ vách đá cao

Thác Nachi ở tỉnh Wakayama cao 133 mét và được tin là nơi ngự của thần Hiryū Gongen, thờ ở đền Kumano Nachi. UNESCO xếp vùng Kumano vào di sản núi Kii và ghi rằng các thánh địa ở đây phản ánh sự hòa trộn giữa Thần đạo, vốn bắt rễ từ tục thờ thiên nhiên, với Phật giáo.

Thác Nachi nhìn từ đền Hirō, thuộc đền Kumano Nachi, tỉnh Wakayama. Ngọn thác cao 133 mét. Ảnh năm 2023.
Thác Nachi nhìn từ đền Hirō, thuộc đền Kumano Nachi, tỉnh Wakayama. Ngọn thác cao 133 mét. Ảnh năm 2023.Ảnh: Zairon, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, Nachi Falls. UNESCO, Sacred Sites and Pilgrimage Routes in the Kii Mountain Range.

Cây và đá

shinbokuNhận ra: Thân cây hay tảng đá có quấn dây thừng rơm và giấy trắng

Gần như đền nào cũng có một khu rừng thiêng. Cây được tôn kính riêng gọi là shinboku, thường quấn dây shimenawa. Thấy sợi dây ấy quanh một gốc cây hay một tảng đá là biết đó là vật thiêng.

Dây shimenawa và các dải giấy trắng gấp khúc (shide) quấn quanh một cây thiêng trong rừng đền Kasukabe Hachiman. Ảnh năm 2012.
Dây shimenawa và các dải giấy trắng gấp khúc (shide) quấn quanh một cây thiêng trong rừng đền Kasukabe Hachiman. Ảnh năm 2012.Ảnh: SC36, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Jinja Honchō, Veneration of Nature.

Ba báu vật thiêng

Ba báu vật (Sanshu no shinki) là gương Yata no Kagami, kiếm Kusanagi no Tsurugi và ngọc Yasakani no Magatama. Theo truyền thuyết, Amaterasu trao ba vật này cho cháu là Ninigi khi xuống trần, và chúng được truyền lại làm biểu tượng của ngôi vua. Bách khoa Thần đạo ghi: gương gốc được thờ ở Thần cung Ise, kiếm ở Thần cung Atsuta, còn ngọc thì các đời thiên hoàng giữ. Một bản sao của gương thờ ở điện Kashikodokoro trong hoàng cung.

Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Sanshu no shinki. Thần cung Ise (Ise Jingū), About Ise Jingu. Thần cung Atsuta (Atsuta Jingū), giới thiệu.
Vì sao trang này không có ảnh ba báu vật

Ba báu vật không được đem ra cho công chúng xem. Theo Wikipedia, theo lệ chỉ thiên hoàng và một số thần chức được thấy, và trong các lễ lên ngôi chúng luôn nằm kín trong hộp và vải bọc. Thư viện vì vậy không đăng ảnh nào, kể cả hình vẽ phỏng đoán. Bách khoa Thần đạo cũng chép rằng thanh kiếm trong cung đã chìm xuống biển cùng ấu đế Antoku trong trận đánh cuối giữa hai họ Minamoto và Taira, về sau phải dùng kiếm khác thay.

Nguồn: Wikipedia, Imperial Regalia of Japan. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Sanshu no shinki.

IIINgười Đi Lễ Thấy Gì Ở Một Ngôi Đền

Vì thần thể ở sau cửa đóng, thứ người đi lễ nhìn thấy là những dấu hiệu báo rằng đây là đất thiêng. Sơ đồ dưới đây đi từ ngoài vào trong, theo cách Jinja Honchō tả khuôn viên một ngôi đền.

Nguồn: Jinja Honchō, The Jinja Precinct. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: History and Typology of Shrine Architecture.
Ngoài cùngCổng toriiRanh giới giữa đất thiêng và đời thường. Từ cổng có đường sandō dẫn vào
Trên đường vàoNhà nước temizuya và cặp komainuRửa tay, súc miệng trước khi lễ. Cặp sư tử chó đứng canh hai bên
Nơi người lễ đứngBái điện (haiden)Có hòm công đức saisenbako. Người lễ dâng tiền, lạy và vỗ tay ở đây
Trong cùngChính điện (honden)Cửa đóng. Bên trong là thần thể. Chỉ thần chức mới vào

Không phải đền nào cũng đủ các lớp trên. Có đền không có bái điện, có đền không có chính điện vì thần thể là cả ngọn núi.

Cổng torii

鳥居Nhận ra: Hai cột đứng, hai xà ngang, xà trên vươn ra ngoài hai cột

Torii đánh dấu lối vào đất thiêng. Jinja Honchō viết rằng hễ thấy torii là biết có đền. Cổng thường sơn màu son, cũng có cổng để mộc, làm bằng gỗ hoặc đá. Hai kiểu hay gặp: myōjin torii có xà trên cong vểnh lên, shinmei torii để mộc và xà trên thẳng. Bách khoa Thần đạo ghi nguồn gốc của torii còn tranh luận, chưa rõ là có sẵn ở Nhật hay du nhập. Ở Fushimi Inari, người cúng dâng torii làm lễ vật từ đầu thời Edo, nay dọc núi có khoảng 10.000 cổng lớn nhỏ.

Cổng torii của đền Itsukushima đứng giữa biển, đảo Miyajima, tỉnh Hiroshima. Ảnh năm 2018.
Cổng torii của đền Itsukushima đứng giữa biển, đảo Miyajima, tỉnh Hiroshima. Ảnh năm 2018.Ảnh: Balon Greyjoy, CC0, Wikimedia Commons
Dãy cổng torii nối nhau (senbon torii) ở đền Fushimi Inari, Kyoto. Mỗi cổng là một lễ vật do người cúng dâng. Ảnh năm 2019.
Dãy cổng torii nối nhau (senbon torii) ở đền Fushimi Inari, Kyoto. Mỗi cổng là một lễ vật do người cúng dâng. Ảnh năm 2019.Ảnh: Jason Zhang, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Jinja Honchō, Torii. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Torii. Đền Fushimi Inari Taisha, FAQ.

Dây shimenawa và giấy shide

Nhận ra: Dây thừng rơm bện, treo kèm các dải giấy trắng gấp khúc

Shimenawa là dây thừng bằng rơm giăng trước hoặc quanh một chỗ để báo đó là không gian thiêng và sạch: trước nội điện, ở lối vào đền, quanh nơi hành lễ. Dây thường bện xoắn về bên trái, có những túm rơm thả xuống và có thể treo thêm các dải giấy shide. Bách khoa Thần đạo giải thích chữ shime vốn chỉ dấu hiệu rằng một vật đã có chủ.

Dây thừng rơm shimenawa lớn treo trước điện Kagura (Kaguraden) của đền Izumo Ōyashiro. Ảnh năm 2013.
Dây thừng rơm shimenawa lớn treo trước điện Kagura (Kaguraden) của đền Izumo Ōyashiro. Ảnh năm 2013.Ảnh: the.Firebottle, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons
Dây shimenawa và các dải giấy trắng gấp khúc (shide) quấn quanh một cây thiêng trong rừng đền Kasukabe Hachiman. Ảnh năm 2012.
Dây shimenawa và các dải giấy trắng gấp khúc (shide) quấn quanh một cây thiêng trong rừng đền Kasukabe Hachiman. Ảnh năm 2012.Ảnh: SC36, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shimenawa. Jinja Honchō, The Jinja Precinct.

Komainu

狛犬Nhận ra: Một cặp thú dáng sư tử, một con há miệng, một con ngậm miệng

Komainu là cặp tượng thú canh giữ, đặt ở lối vào các tòa điện, cạnh torii hoặc dọc đường vào. Phần lớn bằng đá, cũng có cặp bằng gỗ, đồng, sắt, gốm. Thế miệng một há một ngậm gọi là a-un. Tên gọi nghĩa đen là sư tử Cao Ly. Bách khoa Thần đạo cho rằng chữ ấy chỉ có nghĩa là thú từ nước ngoài, còn kiểu tượng ở Nhật theo mẫu đời Đường. Bảo tàng Cleveland gọi con há miệng là karashishi (sư tử Trung Hoa) và con ngậm miệng là komainu. Komainu không phải là thần.

Một con trong cặp sư tử chó komainu, gỗ bách sơn thếp vàng, Nhật Bản, giữa thế kỷ 13, thời Kamakura. Bảo tàng Metropolitan, New York.
Một con trong cặp sư tử chó komainu, gỗ bách sơn thếp vàng, Nhật Bản, giữa thế kỷ 13, thời Kamakura. Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Con còn lại trong cặp komainu giữa thế kỷ 13. Bảo tàng Metropolitan, New York.
Con còn lại trong cặp komainu giữa thế kỷ 13. Bảo tàng Metropolitan, New York.Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Komainu. Jinja Honchō, Koma inu. Bảo tàng Metropolitan, Guardian Lion-Dogs. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland, Pair of Guardian Animals: Karashishi and Komainu (1924.351).

Cáo ở đền Inari

kitsuneNhận ra: Cặp cáo ngồi thay chỗ komainu, có con ngậm chìa khóa, có con đeo yếm đỏ

Ở các đền thờ thần Inari, vị trí canh giữ là của cáo. Đền Fushimi Inari Taisha viết rằng cáo là sứ giả của Inari Ōkami chứ không phải là thần, và đó là những bạch hồ vô hình chứ không phải cáo rừng thường. Trang của Jinja Honchō thì viết con cáo được coi là biểu tượng của chính vị thần. Thư viện ghi cả hai cách nói và theo cách của chính ngôi đền: cáo là sứ giả.

Tượng cáo ngậm chìa khóa ở đền Fushimi Inari, Kyoto. Đền ghi rõ cáo là sứ giả của thần Inari, không phải thần.
Tượng cáo ngậm chìa khóa ở đền Fushimi Inari, Kyoto. Đền ghi rõ cáo là sứ giả của thần Inari, không phải thần.Ảnh: lumoplank, CC0, Wikimedia Commons
Tượng cáo bằng đá đeo yếm đỏ bên lối đi ở đền Fushimi Inari, Kyoto. Ảnh năm 2008.
Tượng cáo bằng đá đeo yếm đỏ bên lối đi ở đền Fushimi Inari, Kyoto. Ảnh năm 2008.Ảnh: syvwlch, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Đền Fushimi Inari Taisha, FAQ. Jinja Honchō, Koma inu.

Bái điện và hòm công đức

haiden, saisenbakoNhận ra: Tòa nhà phía trước, có hòm gỗ mặt song để thả tiền

Bái điện là nơi làm lễ và là tòa nhà khách thấy rõ nhất khi bước vào. Trước bái điện có hòm saisenbako. Cách lễ thường gặp theo Jinja Honchō: thả tiền, lạy sâu hai lạy, vỗ tay hai cái, lạy thêm một lạy. Đền Izumo Ōyashiro có lệ riêng là hai lạy, bốn vỗ tay, một lạy.

Hòm công đức (saisenbako) có mặt song gỗ đặt trước bái điện. Ảnh năm 2012.
Hòm công đức (saisenbako) có mặt song gỗ đặt trước bái điện. Ảnh năm 2012.Ảnh: Ocdp, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Bên trong bái điện đền Kumano Hayatama, Shingū, tỉnh Wakayama: bàn án dâng lễ trước dãy cửa song. Không có pho tượng nào. Ảnh năm 2023.
Bên trong bái điện đền Kumano Hayatama, Shingū, tỉnh Wakayama: bàn án dâng lễ trước dãy cửa song. Không có pho tượng nào. Ảnh năm 2023.Ảnh: Zairon, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Jinja Honchō, The Jinja Precinct. Jinja Honchō, Q&A. Đền Izumo Ōyashiro, Precincts.

Tấm gương trước cửa điện

Nhận ra: Gương tròn trên giá, đặt giữa gian, quay mặt ra người lễ

Nhìn vào trong nhiều đền, thứ nằm chính giữa tầm mắt là một tấm gương tròn đặt trên giá. Bách khoa Thần đạo ghi gương được dùng làm vật thần ngự và cũng là bảo vật của đền. Thư viện chưa đọc được nguồn chính thức nào giải thích riêng tấm gương bày ở phía ngoài này, nên chỉ tả điều ảnh cho thấy.

Bên trong bái điện đền Inaba, thành phố Gifu: một tấm gương tròn trên giá đặt chính giữa, hướng ra phía người lễ. Ảnh năm 2019.
Bên trong bái điện đền Inaba, thành phố Gifu: một tấm gương tròn trên giá đặt chính giữa, hướng ra phía người lễ. Ảnh năm 2019.Ảnh: 杉山宣嗣, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Kagami.

Gohei và ōnusa

Nhận ra: Que gỗ gắn những dải giấy gấp khúc

Gohei là một que dựng đứng gắn các dải giấy hoặc vải gấp khúc thả xuống hai bên. Britannica ghi gohei vừa là lễ vật dâng thần, vừa là dấu hiệu rằng thần đang hiện diện trong đền. Bách khoa Thần đạo xếp gohei vào các dạng thần thể. Ōnusa là cây phất có nhiều dải giấy, thần chức phẩy trên người dự lễ và lễ vật trong nghi thức thanh tẩy (oharai).

Các cây gohei màu vàng kim với dải gấp khúc cắm trên giá ở đền Isagawa, Nara. Ảnh năm 2024.
Các cây gohei màu vàng kim với dải gấp khúc cắm trên giá ở đền Isagawa, Nara. Ảnh năm 2024.Ảnh: Immanuelle, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Cây phất trần ōnusa bằng những dải giấy trắng, dùng trong lễ thanh tẩy, đặt ở đền Tōgō. Ảnh năm 2013.
Cây phất trần ōnusa bằng những dải giấy trắng, dùng trong lễ thanh tẩy, đặt ở đền Tōgō. Ảnh năm 2013.Ảnh: Ocdp, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Britannica, Gohei. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shintai. Jinja Honchō, How to Offer Prayers.

Cành sakaki và tamagushi

Nhận ra: Cành lá xanh buộc dải giấy trắng

Tamagushi là một cành sakaki có buộc giấy gấp. Người dự lễ cầm cành ngang ngực, lá hướng lên, thầm khấn, rồi đặt lên bàn sao cho cuống quay ra xa mình và lá quay về mình. Lễ vật dâng thần thường là gạo, rượu sake, bánh gạo, cá, rau, quả, muối và nước.

Một cành tamagushi (cành sakaki buộc giấy trắng) đặt trên bàn án trong một buổi lễ. Ảnh năm 2009.
Một cành tamagushi (cành sakaki buộc giấy trắng) đặt trên bàn án trong một buổi lễ. Ảnh năm 2009.Ảnh: Urashimataro, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Jinja Honchō, How to Offer Prayers. Britannica, Shintō: Ritual practices and institutions.

IVThần Phù, Bùa Và Thẻ Cầu Nguyện

Người đi lễ không mang hình thần về nhà. Thứ mang về là những vật ghi tên thần hoặc tên đền. Jinja Honchō viết rằng ofuda và omamori thể hiện quyền năng của thần và được giữ bên mình để che chở.

Nguồn: Jinja Honchō, Taking It Home.
VậtHình dángDùng thế nào
Ofuda (thần phù)Tấm gỗ hoặc giấy washi ghi tên thần hay tên đềnĐặt trên kệ thờ trong nhà, thường đổi mới mỗi năm
Omamori (bùa hộ thân)Túi nhỏ bằng gấm thêuMang theo người hoặc buộc vào túi xách. Không mở túi ra
EmaThẻ gỗ nhỏViết điều cầu xin rồi treo lại ở đền
OmikujiLá xăm bằng giấyRút xăm. Xăm xấu thì buộc lại ở đền
Nguồn: Jinja Honchō, Taking It Home. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shinsatsu, Mamorifuda.
Mặt trước một tấm thần phù Jingū taima của Thần cung Ise, ghi chữ 天照皇大神宮. Đây là tấm đặt ở giữa kệ thờ trong nhà.
Mặt trước một tấm thần phù Jingū taima của Thần cung Ise, ghi chữ 天照皇大神宮. Đây là tấm đặt ở giữa kệ thờ trong nhà.Ảnh: 教派研究 (Sectarian research), CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Nhiều túi bùa hộ thân omamori bằng gấm của các đền khác nhau. Ảnh năm 2008.
Nhiều túi bùa hộ thân omamori bằng gấm của các đền khác nhau. Ảnh năm 2008.Ảnh: Leongboy1, Public domain, Wikimedia Commons
Các lá xăm omikuji buộc lên cành cây ở đền Hōkoku, Osaka. Ảnh năm 2019.
Các lá xăm omikuji buộc lên cành cây ở đền Hōkoku, Osaka. Ảnh năm 2019.Ảnh: Ethan Doyle White, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Bách khoa Thần đạo ghi rằng suốt thời cận thế, các thần chức đi truyền bá (oshi) của Thần cung Ise đã phát thần phù gọi là Jingū taima đi khắp nơi. Cũng theo bách khoa này, bùa mamorifuda có gốc từ bùa của các thầy âm dương đạo và của chùa Phật, về sau đền Thần đạo mới làm theo.

Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shinsatsu, Mamorifuda.

VTượng Thần Và Tranh Thần

Tượng thần (shinzō, 神像) là tượng gỗ tạc từ cuối thời Nara, theo mẫu tượng Phật. Sang thời Heian, khi xu hướng coi thần và Phật là một (shinbutsu shūgō) mạnh lên, tượng thần được đặt trong đền cùng với tượng vị Phật ứng với thần ấy. Tượng thần có hai dáng: dáng nhà sư (sōgyō) khoác áo cà sa, và dáng người đời (zokutai) mặc triều phục. Nam thần đội mũ cao, mặc áo rộng tay. Nữ thần búi tóc trên đỉnh đầu, phần tóc còn lại xõa sau lưng. Từ thế kỷ 11 tượng nhỏ dần.

Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shinzō.

Những tượng dưới đây vốn được cất kín. Ảnh trên trang là ảnh đã in trong sách mỹ thuật từ lâu, hoặc ảnh do bảo tàng công bố. Thư viện không đặt các tượng này vào khám thờ ở Chính Điện.

Ba tượng thần đền Matsunoo Taisha

KyotoNhận ra: Nam thần đội mũ quan, nữ thần tóc xõa, ngồi xếp bằng

Thần tượng quán của đền Matsunoo (cũng đọc Matsuo) giữ 21 pho tượng, trong đó có ba tượng gỗ thời Heian tạc các vị thần chính của đền. Tài liệu của Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản xếp ba tượng này vào số tượng Thần đạo xưa nhất và còn nguyên vẹn nhất.

Tượng nữ thần ngồi của đền Matsunoo (Matsuo) Taisha, Kyoto, gỗ, thời Heian. Ảnh của Domon Ken in năm 1952. Tượng nay trưng trong Thần tượng quán của đền.
Tượng nữ thần ngồi của đền Matsunoo (Matsuo) Taisha, Kyoto, gỗ, thời Heian. Ảnh của Domon Ken in năm 1952. Tượng nay trưng trong Thần tượng quán của đền.Ảnh: Ken Domon, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản, Matsuno'o Taisha Shrine.

Bộ ba Hachiman ở chùa Yakushi-ji

NaraNhận ra: Hachiman dáng nhà sư, hai bên là hai nữ thần mặc áo màu

Bộ ba gồm Hachiman trong dáng nhà sư, Thần Công hoàng hậu (Jingū) và Nakatsuhime, gỗ tô màu, làm khoảng năm 889 tới 898, thờ ở đền trấn thủ của chùa. Các tượng đều nhỏ, cao chưa tới 40 phân. Danh mục quốc bảo trên Wikipedia gọi đây là những tượng xưa nhất thuộc loại này ở Nhật.

Nữ thần Nakatsuhime, gỗ tô màu, cuối thế kỷ 9, thời Heian, một pho trong bộ ba Hachiman ở đền trấn thủ của chùa Yakushi-ji, Nara. Quốc bảo. Ảnh in năm 1953.
Nữ thần Nakatsuhime, gỗ tô màu, cuối thế kỷ 9, thời Heian, một pho trong bộ ba Hachiman ở đền trấn thủ của chùa Yakushi-ji, Nara. Quốc bảo. Ảnh in năm 1953.Ảnh: Ohtsuka Art Co.,, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Wikipedia, List of National Treasures of Japan (sculptures).

Hachiman trong dáng nhà sư của Kaikei

Sōgyō Hachiman, chùa Tōdai-jiNhận ra: Một vị sư ngồi trên tòa sen, tay cầm tích trượng, sau đầu có vầng hào quang

Chùa Tōdai-ji ghi đây là bí tượng, do Kaikei tạc năm 1201, thờ trong điện Hachiman phía sau khu Kanjin-sho. Chùa tả đôi mắt hơi ngước, mày nhướng, nét tạc như người thật mà vẫn có uy của một vị thần. Tượng cao 87,1 phân, là quốc bảo. Theo Wikipedia, tượng chỉ mở cho xem mỗi năm một dịp vào tháng 10.

Thần Hachiman trong dáng một vị sư (Sōgyō Hachiman), gỗ tô màu, do Kaikei tạc năm 1201, chùa Tōdai-ji, Nara. Quốc bảo. Ảnh in năm 1915.
Thần Hachiman trong dáng một vị sư (Sōgyō Hachiman), gỗ tô màu, do Kaikei tạc năm 1201, chùa Tōdai-ji, Nara. Quốc bảo. Ảnh in năm 1915.Ảnh: Imperial Japanese Commission to the Panama-Pacific International Exposition, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Chùa Tōdai-ji, Kanjin-sho. Wikipedia, Tōdai-ji Hachiman. Wikipedia, List of National Treasures of Japan (sculptures).

Tamayorihime ở đền Yoshino Mikumari

NaraNhận ra: Nữ thần ngồi, mặt trắng, tóc dài, mắt bằng pha lê

Tượng gỗ ghép, mắt pha lê, cao 83 phân, có niên đại năm 1251, thời Kamakura, là quốc bảo. Thư viện chưa tìm được ảnh đủ lớn có giấy phép mở nên không đăng ảnh.

Nguồn: Wikipedia, List of National Treasures of Japan (sculptures).

Tượng thần trong các bảo tàng

Nhận ra: Tượng gỗ nhỏ, một khối, mặc triều phục, màu đã phai

Nhiều tượng thần nay nằm ở bảo tàng và thường không còn tên. Bảo tàng Cleveland giữ hai pho thế kỷ 10 được cho là làm cho đền Usa Hachiman ở Kyushu, và ghi thẳng là chưa biết đó là những vị nào.

Nam thần ngồi trong y phục quan triều đình, gỗ một khối còn vết màu đỏ và đen, Nhật Bản, thế kỷ 11 tới 12. Bảo tàng Metropolitan, New York. Tên hiện vật không nói đó là vị thần nào.
Nam thần ngồi trong y phục quan triều đình, gỗ một khối còn vết màu đỏ và đen, Nhật Bản, thế kỷ 11 tới 12. Bảo tàng Metropolitan, New York. Tên hiện vật không nói đó là vị thần nào.Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Tượng một vị thần, gỗ còn vết màu, Nhật Bản, thế kỷ 10, thời Heian. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland ghi tượng được cho là làm cho đền Usa Hachiman ở Kyushu và chưa rõ là vị nào.
Tượng một vị thần, gỗ còn vết màu, Nhật Bản, thế kỷ 10, thời Heian. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland ghi tượng được cho là làm cho đền Usa Hachiman ở Kyushu và chưa rõ là vị nào.Ảnh: Cleveland Museum of Art, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland, Shinto Deity (1978.3.1). Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shinzō.

Tranh thần và mạn đà la đền

Tranh thờ của Thần đạo thời trung cổ thường vẽ cảnh ngôi đền chứ không vẽ mặt thần. Bảo tàng Metropolitan tả một bức mạn đà la hươu Kasuga cuối thế kỷ 14: con hươu là vật cưỡi của thần Takemikazuchi, trên yên có cành sakaki đỡ một tấm gương vàng, trong gương hiện năm vị Phật gắn với đền Kasuga. Bức ở Bảo tàng Quốc gia Nara trong ảnh thuộc cùng kiểu.

Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Deer Mandala of Kasuga Shrine.

Mạn đà la Kumano vẽ ba ngôi đền Kumano nhìn từ trên cao. Theo Bảo tàng Cleveland, vị Phật ứng với thần của mỗi gian điện được vẽ trong một vòng tròn ngay phía trên gian ấy. Bức Thác Nachi ở Bảo tàng Nezu là quốc bảo: bảo tàng gọi đây là bức tranh thùy tích duy nhất chỉ vẽ ngọn thác thiêng, tức vẽ thần Thác Bay mà không vẽ một dáng người nào.

Nguồn: Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland, Mandala of the Three Shrines at Kumano (1953.16). Bảo tàng Metropolitan, Kumano Mandala. Bảo tàng Nezu, 那智瀧図 (Tranh Thác Nachi).
Mạn đà la hươu Kasuga: con hươu mang yên, trên yên dựng cành sakaki đỡ một vầng tròn, phía dưới là cổng torii. Tranh lụa, theo trang tệp là cuối thế kỷ 13. Bảo tàng Quốc gia Nara.
Mạn đà la hươu Kasuga: con hươu mang yên, trên yên dựng cành sakaki đỡ một vầng tròn, phía dưới là cổng torii. Tranh lụa, theo trang tệp là cuối thế kỷ 13. Bảo tàng Quốc gia Nara.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons
Mạn đà la ba đền Kumano nhìn từ trên cao, tranh lụa, thế kỷ 14. Phía trên mỗi gian điện có một vòng tròn vẽ vị Phật ứng với thần của gian ấy. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.
Mạn đà la ba đền Kumano nhìn từ trên cao, tranh lụa, thế kỷ 14. Phía trên mỗi gian điện có một vòng tròn vẽ vị Phật ứng với thần của gian ấy. Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland.Ảnh: Khuyết danh, Public domain, Wikimedia Commons
Tranh Thác Nachi, màu trên lụa, thế kỷ 13 tới 14, thời Kamakura. Quốc bảo, Bảo tàng Nezu, Tokyo. Cả bức tranh chỉ vẽ ngọn thác thiêng, không vẽ một hình người nào.
Tranh Thác Nachi, màu trên lụa, thế kỷ 13 tới 14, thời Kamakura. Quốc bảo, Bảo tàng Nezu, Tokyo. Cả bức tranh chỉ vẽ ngọn thác thiêng, không vẽ một hình người nào.Ảnh: Không rõ tác giả, Public domain, Wikimedia Commons

Cuối thời Heian, người ta khắc hình thần hoặc hình vị Phật ứng với thần lên mặt gương rồi dâng vào đền. Những tấm ấy gọi là mishōtai.

Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Kagami.
Bản địa thùy tích và cuộc tách thần khỏi Phật năm 1868

Thuyết bản địa thùy tích (honji suijaku) coi các vị Phật là bản thể, tạm hiện ra thành thần của Nhật để cứu độ chúng sinh. Tới thế kỷ 10 thuyết này đã lan khắp nước, và từng vị thần được gán một vị Phật: Đại Nhật Như Lai ứng với thần ở Ise, Quan Âm mười một mặt ứng với thần núi Hakusan. Từ thời Kamakura có phái đảo ngược lại, coi thần là gốc và Phật là hiện thân. Năm 1868 chính quyền Minh Trị ra lệnh tách thần khỏi Phật (shinbutsu bunri): buộc các sư coi đền hoàn tục, cấm dùng danh hiệu Phật giáo như gongen cho thần, cấm lấy tượng Phật làm thần thể. Ở nhiều địa phương lệnh này bị đẩy thành phong trào phá chùa hủy tượng, kéo tới năm 1871. Bách khoa Thần đạo ghi rằng vì cuộc tách này, ngày nay rất ít đền còn giữ tượng thần.

Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Honjisuijakusetsu. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Bukka Shintō. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shinbutsu Bunri. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shinzō.

VIKệ Thờ Thần Trong Nhà

Kamidana là một chiếc kệ dành làm chỗ thiêng trong nhà để thờ thần quanh năm. Jinja Honchō khuyên đặt kệ ở chỗ sạch và sáng, nơi cả nhà hay tụ lại, cao hơn tầm mắt, quay mặt về hướng đông hoặc hướng nam nếu được. Hội cũng viết rằng dễ tới gần để chăm kệ thì quan trọng hơn là đúng hướng.

Nguồn: Jinja Honchō, Household Matsuri.

Trên kệ không có tượng. Thần được thờ qua các tấm thần phù ofuda thỉnh từ đền. Phần lớn các nhà đặt thần phù trong một ngôi đền gỗ thu nhỏ gọi là miyagata. Tấm quan trọng nhất là Jingū taima của Thần cung Ise, qua đó người ta thờ Amaterasu Ōmikami. Kế đến là thần phù của vị thần hộ thổ nơi mình ở (ujigami), rồi mới tới thần phù của các đền khác. Với miyagata ba gian, Jingū taima ở gian giữa.

Nguồn: Jinja Honchō, Household Matsuri. Britannica, Kamidana.
Trên cùngDây shimenawaGiăng phía trên kệ để báo đây là chỗ thiêng
Ở giữaMiyagata và thần phùJingū taima của Ise ở vị trí tôn quý nhất, rồi tới thần phù của ujigami và của các đền khác
Phía trướcLễ vật hằng ngàyGạo ở giữa, gần thần phù nhất. Muối và nước hai bên. Có thể thêm rượu sake và cành lá xanh

Theo Jinja Honchō, muối đặt bên phải và nước bên trái, tính theo người đứng trước kệ. Dây shimenawa và cành lá xanh là theo Britannica.

Một kệ thờ thần (kamidana) trong nhà ở vùng Tokyo: ngôi đền gỗ nhỏ đặt sát trần, phía trên giăng dây shimenawa. Ảnh năm 2017.
Một kệ thờ thần (kamidana) trong nhà ở vùng Tokyo: ngôi đền gỗ nhỏ đặt sát trần, phía trên giăng dây shimenawa. Ảnh năm 2017.Ảnh: Nesnad, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Kệ thờ thần trên tàu nghiên cứu Bōsei Maru của Đại học Tōkai: ngôi đền nhỏ, hai bình cành sakaki, rượu, các chén lễ trắng, dây shimenawa và giấy shide. Ảnh năm 2012.
Kệ thờ thần trên tàu nghiên cứu Bōsei Maru của Đại học Tōkai: ngôi đền nhỏ, hai bình cành sakaki, rượu, các chén lễ trắng, dây shimenawa và giấy shide. Ảnh năm 2012.Ảnh: Ootahara, CC0, Wikimedia Commons
Mặt trước một tấm thần phù Jingū taima của Thần cung Ise, ghi chữ 天照皇大神宮. Đây là tấm đặt ở giữa kệ thờ trong nhà.
Mặt trước một tấm thần phù Jingū taima của Thần cung Ise, ghi chữ 天照皇大神宮. Đây là tấm đặt ở giữa kệ thờ trong nhà.Ảnh: 教派研究 (Sectarian research), CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Britannica ghi rằng nhiều nhà ở Nhật có cả kệ thờ thần lẫn bàn thờ Phật (butsudan) trong cùng một nhà.

Nguồn: Britannica, Kamidana.

VIICác Kiểu Chính Điện Và Những Ngôi Đền Lớn

Thuở đầu gần như không có đền đài cố định. Người ta làm lễ ngoài trời, ở chỗ có cây hay đá thiêng, dựng mái che tạm. Đền ra đời khi những mái che ấy được để lại thay vì dỡ đi sau lễ. Vì chính điện không phải chỗ cho đông người vào, kiểu dáng của nó giữ được rất lâu, nhất là ở những đền có lệ dựng lại theo kỳ.

Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: The History of Shrines. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Introduction, Jinja. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: History and Typology of Shrine Architecture.
KiểuĐền tiêu biểuNhận ra
Shinmei-zukuriThần cung IseGỗ bào để mộc, mái thẳng không cong, cửa ở mặt dài, trên nóc có chigi bắt chéo và các khúc gỗ tròn katsuogi
Taisha-zukuriIzumo ŌyashiroCửa ở đầu hồi, có cột giữa nhà. Chính điện rất lớn
Sumiyoshi-zukuriSumiyoshi Taisha, OsakaCửa ở đầu hồi, trong chia hai gian trước sau, cột sơn son, vách trắng
Nagare-zukuriHai đền Kamo, KyotoCửa ở mặt dài, mái phía trước kéo dài xuống thành hiên. Kiểu phổ biến nhất cả nước
Kasuga-zukuriKasuga Taisha, NaraCửa ở đầu hồi, có mái hiên che bậc lên. Phổ biến thứ nhì, nhiều nhất quanh Nara
Hachiman-zukuriUsa Jingū, Iwashimizu HachimangūHai tòa nối nhau trước sau, mỗi tòa một mái
Ryōnagare-zukuriItsukushima, Matsuo TaishaNhư nagare-zukuri nhưng mái kéo dài cả mặt trước lẫn mặt sau
Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: History and Typology of Shrine Architecture. Jinja Honchō, Honden.

Thần cung Ise

Gồm 125 đền, trung tâm là Nội cung (Naikū) thờ Amaterasu Ōmikami và Ngoại cung (Gekū) thờ Toyouke no Ōmikami, vị thần lo lễ vật thức ăn cho Amaterasu. Cứ hai mươi năm, chính cung được dựng mới trên khu đất liền kề, đúng kích thước cũ, rồi Gương Thánh được rước sang. Lễ này gọi là Shikinen Sengū (式年遷宮), bắt đầu năm 690 thời nữ hoàng Jitō. Lần thứ 62 diễn ra năm 2013, lần tới vào năm 2033.

Lối lên chính cung Nội cung (Naikū) của Thần cung Ise, tỉnh Mie. Người đi lễ dừng ở cổng hàng rào phía trên bậc đá, chính điện nằm khuất sau nhiều lớp rào. Ảnh năm 2023.
Lối lên chính cung Nội cung (Naikū) của Thần cung Ise, tỉnh Mie. Người đi lễ dừng ở cổng hàng rào phía trên bậc đá, chính điện nằm khuất sau nhiều lớp rào. Ảnh năm 2023.Ảnh: Zairon, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Jinja Honchō, Ise Jingu. Thần cung Ise (Ise Jingū), Rituals and Ceremonies. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shikinensengū.

Izumo Ōyashiro

Thờ Ōkuninushi no Kami, vị thần của việc dựng nước và của duyên kết giữa người với người. Chính điện hiện nay dựng lại năm 1744. Bách khoa Thần đạo ghi chính điện này lớn hơn hẳn chính điện các đền khác, và sử liệu thời Heian chép nó từng cao khoảng 48 mét.

Chính điện (honden) đền Izumo Ōyashiro, tỉnh Shimane, nhìn từ ngoài hàng rào. Mái có hai thanh gỗ bắt chéo (chigi). Ảnh năm 2016.
Chính điện (honden) đền Izumo Ōyashiro, tỉnh Shimane, nhìn từ ngoài hàng rào. Mái có hai thanh gỗ bắt chéo (chigi). Ảnh năm 2016.Ảnh: Saigen Jiro, CC0, Wikimedia Commons
Dây thừng rơm shimenawa lớn treo trước điện Kagura (Kaguraden) của đền Izumo Ōyashiro. Ảnh năm 2013.
Dây thừng rơm shimenawa lớn treo trước điện Kagura (Kaguraden) của đền Izumo Ōyashiro. Ảnh năm 2013.Ảnh: the.Firebottle, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Đền Izumo Ōyashiro, trang tiếng Anh. Đền Izumo Ōyashiro, Precincts. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: History and Typology of Shrine Architecture.

Sumiyoshi Taisha và hai đền Kamo

Sumiyoshi-zukuri là một trong ba kiểu có từ trước thời Nara, cùng với shinmei và taisha. Từ thời Nara tới Heian, mái đền bắt đầu cong. Nagare-zukuri, kiểu của hai đền Kamo ở Kyoto, thành kiểu gặp nhiều nhất trên khắp nước Nhật.

Chính điện bản cung thứ hai của đền Sumiyoshi Taisha, Osaka, kiểu Sumiyoshi-zukuri: mái thẳng, cột sơn son, vách trắng. Ảnh năm 2016.
Chính điện bản cung thứ hai của đền Sumiyoshi Taisha, Osaka, kiểu Sumiyoshi-zukuri: mái thẳng, cột sơn son, vách trắng. Ảnh năm 2016.Ảnh: Saigen Jiro, CC0, Wikimedia Commons
Chính điện và quyền điện đền Kamo Wakeikazuchi (Kamigamo), Kyoto, kiểu nagare-zukuri với mái trước kéo dài. Ảnh in năm 1957.
Chính điện và quyền điện đền Kamo Wakeikazuchi (Kamigamo), Kyoto, kiểu nagare-zukuri với mái trước kéo dài. Ảnh in năm 1957.Ảnh: 文化財保護委員会, Public domain, Wikimedia Commons
Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: History and Typology of Shrine Architecture.

Itsukushima

UNESCO ghi đảo Itsukushima là đất thiêng của Thần đạo từ rất sớm. Đền hiện nay có từ thế kỷ 12 tới 13, các tòa điện dựng ngay trên mặt nước, biển ở phía trước và núi ở phía sau.

Điện thanh tẩy (haraiden) của đền phụ Marōdo dựng trên mặt nước, xa xa là cổng torii, đền Itsukushima. Ảnh năm 2024.
Điện thanh tẩy (haraiden) của đền phụ Marōdo dựng trên mặt nước, xa xa là cổng torii, đền Itsukushima. Ảnh năm 2024.Ảnh: Jakub Hałun, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Cổng torii của đền Itsukushima đứng giữa biển, đảo Miyajima, tỉnh Hiroshima. Ảnh năm 2018.
Cổng torii của đền Itsukushima đứng giữa biển, đảo Miyajima, tỉnh Hiroshima. Ảnh năm 2018.Ảnh: Balon Greyjoy, CC0, Wikimedia Commons
Nguồn: UNESCO, Itsukushima Shinto Shrine. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: History and Typology of Shrine Architecture.

Fushimi Inari Taisha

Đền thờ Inari Ōkami, vị thần của mùa màng, của nhà cửa yên ổn và việc buôn bán thịnh vượng. Năm 942 thần Inari được phong phẩm vị cao nhất. Đền nổi tiếng với các dãy torii do người cúng dâng và với tượng cáo sứ giả.

Dãy cổng torii nối nhau (senbon torii) ở đền Fushimi Inari, Kyoto. Mỗi cổng là một lễ vật do người cúng dâng. Ảnh năm 2019.
Dãy cổng torii nối nhau (senbon torii) ở đền Fushimi Inari, Kyoto. Mỗi cổng là một lễ vật do người cúng dâng. Ảnh năm 2019.Ảnh: Jason Zhang, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Tượng cáo bằng đá đeo yếm đỏ bên lối đi ở đền Fushimi Inari, Kyoto. Ảnh năm 2008.
Tượng cáo bằng đá đeo yếm đỏ bên lối đi ở đền Fushimi Inari, Kyoto. Ảnh năm 2008.Ảnh: syvwlch, CC BY 2.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Đền Fushimi Inari Taisha, FAQ.

Minh Trị Thần cung

Lập năm 1920 ở Tokyo để tưởng nhớ Thiên hoàng Minh Trị và Hoàng hậu Shōken, giữa một khu rừng rộng 70 hécta. Đây là ví dụ về một ngôi đền thờ người có thật được tôn làm thần.

Sân trong và điện chính của Minh Trị Thần cung (Meiji Jingū), Tokyo. Ảnh năm 2018.
Sân trong và điện chính của Minh Trị Thần cung (Meiji Jingū), Tokyo. Ảnh năm 2018.Ảnh: Zairon, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nguồn: Minh Trị Thần cung (Meiji Jingū), About. Jinja Honchō, Q&A.

VIIIKiệu Thần, Đền Ở Nước Ngoài Và Truyền Thống Lân Cận

Kiệu thần mikoshi

Vào ngày hội, thần rời đền trên một chiếc kiệu gọi là shin'yo, quen gọi mikoshi. Đó là một ngôi đền thu nhỏ bằng gỗ, thường sơn đen, có đế, thân và mái, trên nóc gắn chim phượng, đặt trên các đòn gỗ để khiêng. Bách khoa Thần đạo ghi kiệu thần có từ khoảng năm 750, lúc đúc Đại Phật ở Nara, và lan khắp nước trong thời Heian. Lúc ấy người ngoài phố vẫn không thấy thần: họ thấy chiếc kiệu đóng kín.

Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shin'yo. Britannica, Shintō: Ritual practices and institutions.
Đám rước kiệu thần (mikoshi) trong một lễ hội, ảnh in albumen tô màu tay của Kusakabe Kimbei, khoảng năm 1890, thời Minh Trị.
Đám rước kiệu thần (mikoshi) trong một lễ hội, ảnh in albumen tô màu tay của Kusakabe Kimbei, khoảng năm 1890, thời Minh Trị.Ảnh: Kusakabe Kimbei, Public domain, Wikimedia Commons

Đền ở nước ngoài

Jinja Honchō ghi rằng ở Nhật có khoảng 80.000 đền thuộc Thần đạo đền miếu, và ngoài nước Nhật cũng có đền ở những nơi có cộng đồng di dân người Nhật như Hawaii và Brazil. Đền Izumo Taishakyō ở Honolulu lập năm 1906, tòa đền hiện nay hoàn thành năm 1922 theo kiểu taisha-zukuri, thờ Ōkuninushi.

Nguồn: Jinja Honchō, Q&A. Wikipedia, Izumo Taishakyo Mission of Hawaii.
Đền Izumo Taishakyō ở Honolulu, Hawaii: dây shimenawa treo trước cửa. Ảnh năm 2022.
Đền Izumo Taishakyō ở Honolulu, Hawaii: dây shimenawa treo trước cửa. Ảnh năm 2022.Ảnh: w_lemay, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons

Ryukyu: một truyền thống riêng

Các thánh địa utaki ở Okinawa không phải là đền Thần đạo. UNESCO gọi đó là ví dụ hiếm có của một hình thức thờ thiên nhiên và tổ tiên bản địa còn sống tới thời nay bên cạnh các tôn giáo lớn. Sēfa Utaki là thánh địa nổi tiếng nhất, và ở đó cũng không có tượng: người ta lễ trước vách đá. Thư viện nêu ở đây để người đọc khỏi lẫn, không gộp vào Thần đạo.

Nguồn: UNESCO, Gusuku Sites and Related Properties of the Kingdom of Ryukyu.
Khe đá Sangūi ở Sēfa Utaki, Nanjō, Okinawa, một thánh địa của tín ngưỡng Ryukyu. Đây là truyền thống riêng, không phải đền Thần đạo. Ảnh năm 2015.
Khe đá Sangūi ở Sēfa Utaki, Nanjō, Okinawa, một thánh địa của tín ngưỡng Ryukyu. Đây là truyền thống riêng, không phải đền Thần đạo. Ảnh năm 2015.Ảnh: そらみみ (Soramimi), CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

IXNhững Điều Thư Viện Chưa Chắc

·Thư viện đọc nguồn qua mạng, phần lớn bằng tiếng Anh: Jinja Honchō, Bách khoa Thần đạo của Đại học Kokugakuin, trang của từng ngôi đền, bảo tàng, UNESCO và Britannica. Thư viện chưa đối chiếu sách in tiếng Nhật và chưa có nguồn tiếng Việt của giới nghiên cứu.
·Cáo ở đền Inari: đền Fushimi Inari viết cáo là sứ giả của thần. Trang của Jinja Honchō viết cáo được coi là biểu tượng của chính vị thần. Trang này theo cách nói của ngôi đền.
·Tượng thần xưa nhất: Bách khoa Thần đạo ghi tượng thần có từ cuối thời Nara. Danh mục quốc bảo trên Wikipedia gọi bộ ba ở Yakushi-ji (năm 889 tới 898) là xưa nhất thuộc loại ấy, nhưng cũng xếp bộ ba Hachiman ở chùa Tō-ji và bốn tượng ở đền Kumano Hayatama vào thế kỷ 9. Trang này không chọn bộ nào là xưa nhất.
·Tấm gương bày trước cửa điện: ảnh cho thấy rõ, nhưng thư viện chưa đọc được nguồn chính thức giải thích tấm gương này khác thần thể bên trong thế nào. Chuông kéo dây ở bái điện cũng chưa có nguồn nên trang không viết.
·Bên trái, bên phải: nguồn về komainu và về dây shimenawa có nói bên phải mà không nói tính từ ai, nên trang không ghi. Riêng chỗ đặt muối và nước trên kệ thờ thì Jinja Honchō nói rõ là tính theo người trong nhà.
·Ba báu vật: nơi giữ từng vật là theo truyền thống và theo Bách khoa Thần đạo. Vì không ai ngoài thiên hoàng và một số thần chức được thấy, thư viện không kiểm chứng được gì hơn.
·Mạn đà la hươu Kasuga ở Bảo tàng Quốc gia Nara: thư viện không mở được trang của bảo tàng. Niên đại trong chú thích ảnh lấy từ trang tệp trên Wikimedia Commons, phần mô tả lấy từ một bức cùng kiểu ở Bảo tàng Metropolitan.
·Tượng nam thần ở Bảo tàng Metropolitan: chú thích dựa vào dữ liệu bảo tàng chép trên trang tệp Commons, thư viện chưa mở được trang hiện vật gốc.
·Chiều cao 48 mét của chính điện Izumo thời xưa là theo sử liệu thời Heian mà Bách khoa Thần đạo dẫn lại. Chính bách khoa cũng nói các bản vẽ phục dựng có vẻ thiếu thực tế về kích thước.
·Tín ngưỡng của người Ainu: thư viện chưa đọc được nguồn đủ chắc nên không viết. Đó là một truyền thống riêng, không thuộc Thần đạo.
·Thần đạo giáo phái (như Tenrikyō, Konkōkyō, Kurozumikyō) có cách thờ riêng. Trang này chỉ nói về Thần đạo đền miếu.

Bạn là thần chức, người theo Thần đạo hay người nghiên cứu và thấy chỗ chưa đúng, hoặc có ảnh tự chụp muốn góp? Xin gửi kèm nguồn về thayungkhiem@gmail.com. Thư viện sửa và ghi tên người góp.

XẢnh Và Giấy Phép

Mọi ảnh trên trang lấy từ Wikimedia Commons, theo giấy phép Public domain, CC0, CC BY hoặc CC BY-SA. Tác giả và giấy phép ghi đúng như trang tệp gốc, đọc ngày 07/10/2026. Ảnh chỉ được thu nhỏ, không sửa nội dung. Bấm vào tên ảnh để tới trang tệp gốc. Nếu bạn là tác giả và thấy ghi công chưa đúng, xin báo để thư viện sửa.

1Ise Ise-jingu Main Sanctuary 1.jpg · Zairon · CC BY 4.0
2Honden of Izumo-taisha-1.JPG · Saigen Jiro · CC0
320181111 Itsukushima Shrine torii-1.jpg · Balon Greyjoy · CC0
4Fushimi Inari-taisha senbon-torii, August 2019.jpg · Jason Zhang · CC BY-SA 3.0
5Kaguraden Shimenawa, Izumo Shrine - May 8, 2013.jpg · the.Firebottle · CC BY-SA 2.0
6Shinboku at kasukabe hachiman jinja.jpg · SC36 · CC BY-SA 3.0
7狛犬像-Guardian Lion-Dogs MET 2015 300 257a Burke website.jpg · The Metropolitan Museum of Art · CC0
8狛犬像-Guardian Lion-Dogs MET 2015 300 257b Burke website.jpg · The Metropolitan Museum of Art · CC0
9Fushimi Inari Taisha- Part I - FushimiInari249.jpg · lumoplank · CC0
10Kitsune Statue at Fushimi Inari (2615371311).jpg · syvwlch · CC BY 2.0
11Typical saisenbako.jpg · Ocdp · CC BY-SA 3.0
12伊奈波神社 (岐阜市)-拝殿内部inabajinja006.jpg · 杉山宣嗣 · CC BY-SA 4.0
13Shingu Kumano Hayatama-taisha Haiden Interior 1.jpg · Zairon · CC BY 4.0
14Shinkyo mirror with Sanskrit letters and chrysanthemum pattern - Treasure Hall, Itsukushima Shinto Shrine (Miyajima) - DSC02205.JPG · Daderot · CC0
15Isagawa-jinja gohei.jpg · Immanuelle · CC BY 4.0
16Onusa 001.jpg · Ocdp · CC0
17Tamagushi on an an.jpg · Urashimataro · Public domain
18Omikuji tied to trees at Hokoku-jinja, Osaka.jpg · Ethan Doyle White · CC BY-SA 4.0
19Jingu taima front.jpg · 教派研究 (Sectarian research) · CC BY-SA 3.0
20Variousomamori.jpg · Leongboy1 · Public domain
21Typical-kamidana-tokyoarea-2017-12-22.jpg · Nesnad · CC BY 4.0
22Household Shinto altar of Tokai University, Research and Training Vessel BOSEI MARU in port of Yokohama 20120716.jpg · Ootahara · CC0
23Domon Ken - Joshin (Female Shinto Deity) Matsunoo-taisha.jpg · Ken Domon · Public domain
24Todaiji Monastery Hachiman by Kaikei (420).jpg · Imperial Japanese Commission to the Panama-Pacific International Exposition · Public domain
25Nakatsuhime Yakushiji.jpg · Ohtsuka Art Co., · Public domain
26男神坐像-Shinto Deity as a Seated Courtier MET DP702343.jpg · The Metropolitan Museum of Art · CC0
27Japan, Heian period - Shinto Deity - 1978.3.1 - Cleveland Museum of Art.tif · Cleveland Museum of Art · CC0
28Kasuga Deer Mandala (Nara National Museum).jpg · Không rõ tác giả · Public domain
29Anonymous - The Three Sacred Shrines at Kumano, Kumano Mandala - 1953.16 - Cleveland Museum of Art.tiff · Khuyết danh · Public domain
30Nachi Falls.jpg · Không rõ tác giả · Public domain
31Nachikatsuura Kumano-Nachi-taisha Hiro-jinja Nachi Falls 08.jpg · Zairon · CC BY 4.0
32Mt.miwa from Hashihaka-kofun.JPG · Saigen Jiro · CC0
33Omiwa-jinja haiden.JPG · Saigen Jiro · CC0
34Kamigamo-jinja Honden.jpg · 文化財保護委員会 · Public domain
35Sumiyoshi-taisha, hongu-2 honden.jpg · Saigen Jiro · CC0
36Haraiden of Marōdo Shrine and Floating Torii Gate, Itsukushima Shinto Shrine, Miyajima, 20240816 1707 4004.jpg · Jakub Hałun · CC BY 4.0
37Kusakabe Kimbei - 353 Shinto Procession.jpg · Kusakabe Kimbei · Public domain
38Meiji-jingu Haupthalle 1.jpg · Zairon · CC BY-SA 4.0
39Izumo Taishakyo Mission of Hawaii, Kukui Street and College Walk, Chinatown, Honolulu, HI - 52164449725.jpg · w_lemay · CC BY-SA 2.0
40Sangui of Sefa-Utaki.jpg · そらみみ (Soramimi) · CC BY-SA 4.0

XINguồn

1Jinja Honchō (Hội các Đền Thần đạo), What is Shinto
2Jinja Honchō, Veneration of Nature
3Jinja Honchō, Household Matsuri
4Jinja Honchō, The Jinja Precinct
5Jinja Honchō, Torii
6Jinja Honchō, Koma inu
7Jinja Honchō, Honden
8Jinja Honchō, Taking It Home
9Jinja Honchō, How to Offer Prayers
10Jinja Honchō, Q&A
11Jinja Honchō, Ise Jingu
12Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shintai
13Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shinzō
14Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Introduction, Jinja
15Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Kami, Definitions and Typology
16Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Honjisuijakusetsu
17Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shinbutsu Bunri
18Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Bukka Shintō
19Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Torii
20Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: History and Typology of Shrine Architecture
21Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: The History of Shrines
22Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Sanshu no shinki
23Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Kagami
24Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shimenawa
25Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shin'yo
26Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shinsatsu, Mamorifuda
27Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shintaizan
28Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shikinensengū
29Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Komainu
30Britannica, Shintai
31Britannica, Kamidana
32Britannica, Gohei
33Britannica, Shintō: Ritual practices and institutions
34Bảo tàng Metropolitan, Shinto
35Bảo tàng Metropolitan, Guardian Lion-Dogs
36Bảo tàng Metropolitan, Deer Mandala of Kasuga Shrine
37Bảo tàng Metropolitan, Kumano Mandala
38Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland, Shinto Deity (1978.3.1)
39Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland, Mandala of the Three Shrines at Kumano (1953.16)
40Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland, Pair of Guardian Animals: Karashishi and Komainu (1924.351)
41Thần cung Ise (Ise Jingū), About Ise Jingu
42Thần cung Ise (Ise Jingū), Rituals and Ceremonies
43Thần cung Atsuta (Atsuta Jingū), giới thiệu
44Đền Fushimi Inari Taisha, FAQ
45Đền Izumo Ōyashiro, Precincts
46Đền Izumo Ōyashiro, trang tiếng Anh
47Minh Trị Thần cung (Meiji Jingū), About
48Chùa Tōdai-ji, Kanjin-sho
49Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản, Matsuno'o Taisha Shrine
50Bảo tàng Nezu, 那智瀧図 (Tranh Thác Nachi)
51UNESCO, Sacred Sites and Pilgrimage Routes in the Kii Mountain Range
52UNESCO, Itsukushima Shinto Shrine
53UNESCO, Gusuku Sites and Related Properties of the Kingdom of Ryukyu
54Wikipedia, Imperial Regalia of Japan
55Wikipedia, Tōdai-ji Hachiman
56Wikipedia, List of National Treasures of Japan (sculptures)
57Wikipedia, Nachi Falls
58Wikipedia, Izumo Taishakyo Mission of Hawaii

Các trang trên được đọc trong tháng 10 năm 2026. Trang nào đổi địa chỉ, xin báo để thư viện cập nhật.

?Hỏi Đáp Nhanh

Thần đạo có thờ tượng không

Về căn bản là không. Thần (kami) được coi là vô hình. Thứ được thờ là thần thể, một vật mà thần ngự vào, cất kín trong chính điện. Từ cuối thời Nara có tượng thần bằng gỗ do ảnh hưởng Phật giáo, nhưng tượng cũng được cất sâu trong điện chứ không bày ra cho người lễ nhìn.

Trong chính điện của đền có gì

Có thần thể, thường là một tấm gương, một thanh kiếm hoặc một viên ngọc, bọc vải hay để trong hộp. Có đền thần thể là cả ngọn núi hay ngọn thác, và đền ấy không cần chính điện. Người đi lễ không được vào và không được nhìn.

Con cáo ở đền Inari có phải là thần không

Theo đền Fushimi Inari Taisha thì không. Cáo là sứ giả của thần Inari. Vị thần được thờ là Inari Ōkami, thần của mùa màng và sự thịnh vượng.

Vì sao không có ảnh ba báu vật thiêng

Gương Yata no Kagami, kiếm Kusanagi và ngọc Yasakani no Magatama không được đem ra cho công chúng xem. Trong các lễ lên ngôi, chúng nằm kín trong hộp và vải bọc. Thư viện không đăng hình vẽ phỏng đoán.

Kệ thờ thần trong nhà bày những gì

Một ngôi đền gỗ nhỏ chứa các tấm thần phù ofuda, trong đó tấm Jingū taima của Thần cung Ise ở vị trí tôn quý nhất. Phía trước dâng gạo, muối, nước, có thể thêm rượu sake và cành lá xanh. Không có tượng.

Vì sao trang này vẫn đăng ảnh tượng thần

Vì những tượng ấy là một phần có thật của lịch sử Thần đạo và đã được in trong sách mỹ thuật hoặc được bảo tàng công bố. Trang ghi rõ chúng vốn được cất kín, và thư viện không dùng chúng làm hình ở khám thờ.

›Đọc Tiếp