Thần đạo là đạo mà các thần (kami) nói chung không được tạc hình cho người lễ nhìn. Ở chỗ trang trọng nhất của một ngôi đền là một cánh cửa đóng, sau cửa là thần thể: một tấm gương, một thanh kiếm, một viên ngọc, có khi là cả một ngọn núi. Trang này kể vì sao lại thế theo nguồn của chính Thần đạo, rồi cho thấy những thứ người đi lễ thật sự nhìn thấy: cổng torii, dây thừng rơm, cặp komainu, cáo của Inari, hòm công đức, tấm gương, cây gohei. Trang cũng kể về những tượng thần và tranh thần ra đời khi thần và Phật còn hòa làm một, về kệ thờ trong nhà và các kiểu chính điện. Ảnh là ảnh chụp vật thật, hình vẽ duy nhất là sơ đồ chữ. Thư viện không đăng ảnh hay hình vẽ nào của ba báu vật thiêng.
IThần Không Hiện Hình
Thần đạo thờ các thần, tiếng Nhật gọi là kami. Hội các Đền Thần đạo (Jinja Honchō) viết rằng kami gồm cả tổ tiên lẫn các linh thể của thiên nhiên. Bách khoa Thần đạo của Đại học Kokugakuin nhấn một điểm: kami về căn bản là vô hình, chỉ tỏ mình qua vật thiên nhiên và qua người làm trung gian. Vì vậy ở chỗ trang trọng nhất của một ngôi đền không có pho tượng nào để người lễ nhìn lên.
Nguồn: Jinja Honchō (Hội các Đền Thần đạo), What is Shinto. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Kami, Definitions and Typology.Bảo tàng Metropolitan ghi rằng trước khi Phật giáo lan tới, người Nhật chưa hề tạc thần trong dáng người. Thần được thấy ngay trong núi, sông và cây cổ thụ. Về sau có tượng thần, nhưng tượng được cất kín trong nội điện, còn người lễ vẫn bày tỏ lòng thành ở lối vào, bằng cách vỗ hai bàn tay.
Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Shinto.Thứ được thờ gọi là thần thể (shintai, 神体, cũng gọi goshintai hay mitamashiro): một vật mà thần ngự vào. Thần thể đặt trong chính điện (honden), gian thiêng nhất của đền. Britannica tả thần thể thường được bọc vải hoặc để trong hộp, cất trong một gian nhỏ hay một chiếc tủ mà cửa hiếm khi mở.
Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shintai. Jinja Honchō, The Jinja Precinct. Britannica, Shintai.


Ở Thần cung Ise, tấm Gương Thánh, biểu tượng của Amaterasu Ōmikami, đặt trong chính cung ở sân trong cùng. Chính cung nằm sau nhiều lớp hàng rào và người lễ chỉ được vào tới lớp rào thứ ba. Ở đền Izumo Ōyashiro, chính điện nằm sau một hàng rào có cổng Yatsuashi, chỉ thần chức và người dự lễ cầu đặc biệt mới được đi qua.
Nguồn: Thần cung Ise (Ise Jingū), About Ise Jingu. Đền Izumo Ōyashiro, Precincts.Nói Thần đạo hoàn toàn không có hình là chưa đủ. Từ cuối thời Nara, dưới ảnh hưởng của Phật giáo, người ta đã tạc tượng thần bằng gỗ (shinzō). Bách khoa Thần đạo ghi rõ: vì đặt sâu trong chính điện, những tượng ấy không trở thành đối tượng lễ bái trực tiếp như tượng Phật. Chính bách khoa này cũng xếp tượng thần là một dạng thần thể, bên cạnh gương, kiếm, ngọc và cây gohei. Phần Tượng Thần Và Tranh Thần bên dưới kể kỹ hơn.
Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shinzō. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shintai.IIThần Thể: Vật Mà Thần Ngự
Thần thể có hai loại. Loại do người làm ra thường là gương, kiếm hoặc ngọc. Loại có sẵn trong thiên nhiên là một tảng đá, một ngọn núi, một ngọn thác. Jinja Honchō viết rằng trước khi có đền đài cố định, người ta tin thần ngự trong cây và trong đá lớn, hoặc ngự mãi, hoặc chỉ trong lúc hành lễ.
Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shintai. Britannica, Shintai. Jinja Honchō, Veneration of Nature.Gương
kagami, shinkyōNhận ra: Tấm gương tròn bằng kim loại, mặt sau đúc hoa vănBách khoa Thần đạo ghi rằng từ xưa gương, cùng với kiếm và ngọc, đã mang ý nghĩa tôn giáo sâu, và được dùng làm vật thần ngự trong đền. Tấm gương nổi tiếng nhất là Yata no Kagami ở Ise. Thư viện không có ảnh của một tấm gương đang là thần thể, vì thần thể không được đem ra chụp. Tấm trong ảnh là gương thần trưng trong Bảo vật quán của đền Itsukushima.

Núi
shintaizanNhận ra: Đền không có chính điện, bái điện hướng thẳng vào núiShintaizan là ngọn núi được thờ vì có thần ngự. Ví dụ thường dẫn là đền Ōmiwa ở Sakurai, tỉnh Nara: đền thờ núi Miwa, phía sau bái điện là vùng cấm người vào và không dựng chính điện, vì chính ngọn núi là thân của thần. Núi Phú Sĩ và núi Nantai ở Nikkō cũng thuộc loại này.


Thác
NachiNhận ra: Ngọn thác đổ một dòng thẳng từ vách đá caoThác Nachi ở tỉnh Wakayama cao 133 mét và được tin là nơi ngự của thần Hiryū Gongen, thờ ở đền Kumano Nachi. UNESCO xếp vùng Kumano vào di sản núi Kii và ghi rằng các thánh địa ở đây phản ánh sự hòa trộn giữa Thần đạo, vốn bắt rễ từ tục thờ thiên nhiên, với Phật giáo.

Cây và đá
shinbokuNhận ra: Thân cây hay tảng đá có quấn dây thừng rơm và giấy trắngGần như đền nào cũng có một khu rừng thiêng. Cây được tôn kính riêng gọi là shinboku, thường quấn dây shimenawa. Thấy sợi dây ấy quanh một gốc cây hay một tảng đá là biết đó là vật thiêng.

Ba báu vật thiêng
Ba báu vật (Sanshu no shinki) là gương Yata no Kagami, kiếm Kusanagi no Tsurugi và ngọc Yasakani no Magatama. Theo truyền thuyết, Amaterasu trao ba vật này cho cháu là Ninigi khi xuống trần, và chúng được truyền lại làm biểu tượng của ngôi vua. Bách khoa Thần đạo ghi: gương gốc được thờ ở Thần cung Ise, kiếm ở Thần cung Atsuta, còn ngọc thì các đời thiên hoàng giữ. Một bản sao của gương thờ ở điện Kashikodokoro trong hoàng cung.
Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Sanshu no shinki. Thần cung Ise (Ise Jingū), About Ise Jingu. Thần cung Atsuta (Atsuta Jingū), giới thiệu.Ba báu vật không được đem ra cho công chúng xem. Theo Wikipedia, theo lệ chỉ thiên hoàng và một số thần chức được thấy, và trong các lễ lên ngôi chúng luôn nằm kín trong hộp và vải bọc. Thư viện vì vậy không đăng ảnh nào, kể cả hình vẽ phỏng đoán. Bách khoa Thần đạo cũng chép rằng thanh kiếm trong cung đã chìm xuống biển cùng ấu đế Antoku trong trận đánh cuối giữa hai họ Minamoto và Taira, về sau phải dùng kiếm khác thay.
Nguồn: Wikipedia, Imperial Regalia of Japan. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Sanshu no shinki.IIINgười Đi Lễ Thấy Gì Ở Một Ngôi Đền
Vì thần thể ở sau cửa đóng, thứ người đi lễ nhìn thấy là những dấu hiệu báo rằng đây là đất thiêng. Sơ đồ dưới đây đi từ ngoài vào trong, theo cách Jinja Honchō tả khuôn viên một ngôi đền.
Nguồn: Jinja Honchō, The Jinja Precinct. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: History and Typology of Shrine Architecture.Không phải đền nào cũng đủ các lớp trên. Có đền không có bái điện, có đền không có chính điện vì thần thể là cả ngọn núi.
Cổng torii
鳥居Nhận ra: Hai cột đứng, hai xà ngang, xà trên vươn ra ngoài hai cộtTorii đánh dấu lối vào đất thiêng. Jinja Honchō viết rằng hễ thấy torii là biết có đền. Cổng thường sơn màu son, cũng có cổng để mộc, làm bằng gỗ hoặc đá. Hai kiểu hay gặp: myōjin torii có xà trên cong vểnh lên, shinmei torii để mộc và xà trên thẳng. Bách khoa Thần đạo ghi nguồn gốc của torii còn tranh luận, chưa rõ là có sẵn ở Nhật hay du nhập. Ở Fushimi Inari, người cúng dâng torii làm lễ vật từ đầu thời Edo, nay dọc núi có khoảng 10.000 cổng lớn nhỏ.


Dây shimenawa và giấy shide
Nhận ra: Dây thừng rơm bện, treo kèm các dải giấy trắng gấp khúcShimenawa là dây thừng bằng rơm giăng trước hoặc quanh một chỗ để báo đó là không gian thiêng và sạch: trước nội điện, ở lối vào đền, quanh nơi hành lễ. Dây thường bện xoắn về bên trái, có những túm rơm thả xuống và có thể treo thêm các dải giấy shide. Bách khoa Thần đạo giải thích chữ shime vốn chỉ dấu hiệu rằng một vật đã có chủ.


Komainu
狛犬Nhận ra: Một cặp thú dáng sư tử, một con há miệng, một con ngậm miệngKomainu là cặp tượng thú canh giữ, đặt ở lối vào các tòa điện, cạnh torii hoặc dọc đường vào. Phần lớn bằng đá, cũng có cặp bằng gỗ, đồng, sắt, gốm. Thế miệng một há một ngậm gọi là a-un. Tên gọi nghĩa đen là sư tử Cao Ly. Bách khoa Thần đạo cho rằng chữ ấy chỉ có nghĩa là thú từ nước ngoài, còn kiểu tượng ở Nhật theo mẫu đời Đường. Bảo tàng Cleveland gọi con há miệng là karashishi (sư tử Trung Hoa) và con ngậm miệng là komainu. Komainu không phải là thần.


Cáo ở đền Inari
kitsuneNhận ra: Cặp cáo ngồi thay chỗ komainu, có con ngậm chìa khóa, có con đeo yếm đỏỞ các đền thờ thần Inari, vị trí canh giữ là của cáo. Đền Fushimi Inari Taisha viết rằng cáo là sứ giả của Inari Ōkami chứ không phải là thần, và đó là những bạch hồ vô hình chứ không phải cáo rừng thường. Trang của Jinja Honchō thì viết con cáo được coi là biểu tượng của chính vị thần. Thư viện ghi cả hai cách nói và theo cách của chính ngôi đền: cáo là sứ giả.


Bái điện và hòm công đức
haiden, saisenbakoNhận ra: Tòa nhà phía trước, có hòm gỗ mặt song để thả tiềnBái điện là nơi làm lễ và là tòa nhà khách thấy rõ nhất khi bước vào. Trước bái điện có hòm saisenbako. Cách lễ thường gặp theo Jinja Honchō: thả tiền, lạy sâu hai lạy, vỗ tay hai cái, lạy thêm một lạy. Đền Izumo Ōyashiro có lệ riêng là hai lạy, bốn vỗ tay, một lạy.


Tấm gương trước cửa điện
Nhận ra: Gương tròn trên giá, đặt giữa gian, quay mặt ra người lễNhìn vào trong nhiều đền, thứ nằm chính giữa tầm mắt là một tấm gương tròn đặt trên giá. Bách khoa Thần đạo ghi gương được dùng làm vật thần ngự và cũng là bảo vật của đền. Thư viện chưa đọc được nguồn chính thức nào giải thích riêng tấm gương bày ở phía ngoài này, nên chỉ tả điều ảnh cho thấy.

Gohei và ōnusa
Nhận ra: Que gỗ gắn những dải giấy gấp khúcGohei là một que dựng đứng gắn các dải giấy hoặc vải gấp khúc thả xuống hai bên. Britannica ghi gohei vừa là lễ vật dâng thần, vừa là dấu hiệu rằng thần đang hiện diện trong đền. Bách khoa Thần đạo xếp gohei vào các dạng thần thể. Ōnusa là cây phất có nhiều dải giấy, thần chức phẩy trên người dự lễ và lễ vật trong nghi thức thanh tẩy (oharai).


Cành sakaki và tamagushi
Nhận ra: Cành lá xanh buộc dải giấy trắngTamagushi là một cành sakaki có buộc giấy gấp. Người dự lễ cầm cành ngang ngực, lá hướng lên, thầm khấn, rồi đặt lên bàn sao cho cuống quay ra xa mình và lá quay về mình. Lễ vật dâng thần thường là gạo, rượu sake, bánh gạo, cá, rau, quả, muối và nước.

IVThần Phù, Bùa Và Thẻ Cầu Nguyện
Người đi lễ không mang hình thần về nhà. Thứ mang về là những vật ghi tên thần hoặc tên đền. Jinja Honchō viết rằng ofuda và omamori thể hiện quyền năng của thần và được giữ bên mình để che chở.
Nguồn: Jinja Honchō, Taking It Home.


Bách khoa Thần đạo ghi rằng suốt thời cận thế, các thần chức đi truyền bá (oshi) của Thần cung Ise đã phát thần phù gọi là Jingū taima đi khắp nơi. Cũng theo bách khoa này, bùa mamorifuda có gốc từ bùa của các thầy âm dương đạo và của chùa Phật, về sau đền Thần đạo mới làm theo.
Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shinsatsu, Mamorifuda.VTượng Thần Và Tranh Thần
Tượng thần (shinzō, 神像) là tượng gỗ tạc từ cuối thời Nara, theo mẫu tượng Phật. Sang thời Heian, khi xu hướng coi thần và Phật là một (shinbutsu shūgō) mạnh lên, tượng thần được đặt trong đền cùng với tượng vị Phật ứng với thần ấy. Tượng thần có hai dáng: dáng nhà sư (sōgyō) khoác áo cà sa, và dáng người đời (zokutai) mặc triều phục. Nam thần đội mũ cao, mặc áo rộng tay. Nữ thần búi tóc trên đỉnh đầu, phần tóc còn lại xõa sau lưng. Từ thế kỷ 11 tượng nhỏ dần.
Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shinzō.Những tượng dưới đây vốn được cất kín. Ảnh trên trang là ảnh đã in trong sách mỹ thuật từ lâu, hoặc ảnh do bảo tàng công bố. Thư viện không đặt các tượng này vào khám thờ ở Chính Điện.
Ba tượng thần đền Matsunoo Taisha
KyotoNhận ra: Nam thần đội mũ quan, nữ thần tóc xõa, ngồi xếp bằngThần tượng quán của đền Matsunoo (cũng đọc Matsuo) giữ 21 pho tượng, trong đó có ba tượng gỗ thời Heian tạc các vị thần chính của đền. Tài liệu của Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản xếp ba tượng này vào số tượng Thần đạo xưa nhất và còn nguyên vẹn nhất.

Bộ ba Hachiman ở chùa Yakushi-ji
NaraNhận ra: Hachiman dáng nhà sư, hai bên là hai nữ thần mặc áo màuBộ ba gồm Hachiman trong dáng nhà sư, Thần Công hoàng hậu (Jingū) và Nakatsuhime, gỗ tô màu, làm khoảng năm 889 tới 898, thờ ở đền trấn thủ của chùa. Các tượng đều nhỏ, cao chưa tới 40 phân. Danh mục quốc bảo trên Wikipedia gọi đây là những tượng xưa nhất thuộc loại này ở Nhật.

Hachiman trong dáng nhà sư của Kaikei
Sōgyō Hachiman, chùa Tōdai-jiNhận ra: Một vị sư ngồi trên tòa sen, tay cầm tích trượng, sau đầu có vầng hào quangChùa Tōdai-ji ghi đây là bí tượng, do Kaikei tạc năm 1201, thờ trong điện Hachiman phía sau khu Kanjin-sho. Chùa tả đôi mắt hơi ngước, mày nhướng, nét tạc như người thật mà vẫn có uy của một vị thần. Tượng cao 87,1 phân, là quốc bảo. Theo Wikipedia, tượng chỉ mở cho xem mỗi năm một dịp vào tháng 10.

Tamayorihime ở đền Yoshino Mikumari
NaraNhận ra: Nữ thần ngồi, mặt trắng, tóc dài, mắt bằng pha lêTượng gỗ ghép, mắt pha lê, cao 83 phân, có niên đại năm 1251, thời Kamakura, là quốc bảo. Thư viện chưa tìm được ảnh đủ lớn có giấy phép mở nên không đăng ảnh.
Nguồn: Wikipedia, List of National Treasures of Japan (sculptures).Tượng thần trong các bảo tàng
Nhận ra: Tượng gỗ nhỏ, một khối, mặc triều phục, màu đã phaiNhiều tượng thần nay nằm ở bảo tàng và thường không còn tên. Bảo tàng Cleveland giữ hai pho thế kỷ 10 được cho là làm cho đền Usa Hachiman ở Kyushu, và ghi thẳng là chưa biết đó là những vị nào.


Tranh thần và mạn đà la đền
Tranh thờ của Thần đạo thời trung cổ thường vẽ cảnh ngôi đền chứ không vẽ mặt thần. Bảo tàng Metropolitan tả một bức mạn đà la hươu Kasuga cuối thế kỷ 14: con hươu là vật cưỡi của thần Takemikazuchi, trên yên có cành sakaki đỡ một tấm gương vàng, trong gương hiện năm vị Phật gắn với đền Kasuga. Bức ở Bảo tàng Quốc gia Nara trong ảnh thuộc cùng kiểu.
Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, Deer Mandala of Kasuga Shrine.Mạn đà la Kumano vẽ ba ngôi đền Kumano nhìn từ trên cao. Theo Bảo tàng Cleveland, vị Phật ứng với thần của mỗi gian điện được vẽ trong một vòng tròn ngay phía trên gian ấy. Bức Thác Nachi ở Bảo tàng Nezu là quốc bảo: bảo tàng gọi đây là bức tranh thùy tích duy nhất chỉ vẽ ngọn thác thiêng, tức vẽ thần Thác Bay mà không vẽ một dáng người nào.
Nguồn: Bảo tàng Mỹ thuật Cleveland, Mandala of the Three Shrines at Kumano (1953.16). Bảo tàng Metropolitan, Kumano Mandala. Bảo tàng Nezu, 那智瀧図 (Tranh Thác Nachi).


Cuối thời Heian, người ta khắc hình thần hoặc hình vị Phật ứng với thần lên mặt gương rồi dâng vào đền. Những tấm ấy gọi là mishōtai.
Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Kagami.Thuyết bản địa thùy tích (honji suijaku) coi các vị Phật là bản thể, tạm hiện ra thành thần của Nhật để cứu độ chúng sinh. Tới thế kỷ 10 thuyết này đã lan khắp nước, và từng vị thần được gán một vị Phật: Đại Nhật Như Lai ứng với thần ở Ise, Quan Âm mười một mặt ứng với thần núi Hakusan. Từ thời Kamakura có phái đảo ngược lại, coi thần là gốc và Phật là hiện thân. Năm 1868 chính quyền Minh Trị ra lệnh tách thần khỏi Phật (shinbutsu bunri): buộc các sư coi đền hoàn tục, cấm dùng danh hiệu Phật giáo như gongen cho thần, cấm lấy tượng Phật làm thần thể. Ở nhiều địa phương lệnh này bị đẩy thành phong trào phá chùa hủy tượng, kéo tới năm 1871. Bách khoa Thần đạo ghi rằng vì cuộc tách này, ngày nay rất ít đền còn giữ tượng thần.
Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Honjisuijakusetsu. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Bukka Shintō. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shinbutsu Bunri. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shinzō.VIKệ Thờ Thần Trong Nhà
Kamidana là một chiếc kệ dành làm chỗ thiêng trong nhà để thờ thần quanh năm. Jinja Honchō khuyên đặt kệ ở chỗ sạch và sáng, nơi cả nhà hay tụ lại, cao hơn tầm mắt, quay mặt về hướng đông hoặc hướng nam nếu được. Hội cũng viết rằng dễ tới gần để chăm kệ thì quan trọng hơn là đúng hướng.
Nguồn: Jinja Honchō, Household Matsuri.Trên kệ không có tượng. Thần được thờ qua các tấm thần phù ofuda thỉnh từ đền. Phần lớn các nhà đặt thần phù trong một ngôi đền gỗ thu nhỏ gọi là miyagata. Tấm quan trọng nhất là Jingū taima của Thần cung Ise, qua đó người ta thờ Amaterasu Ōmikami. Kế đến là thần phù của vị thần hộ thổ nơi mình ở (ujigami), rồi mới tới thần phù của các đền khác. Với miyagata ba gian, Jingū taima ở gian giữa.
Nguồn: Jinja Honchō, Household Matsuri. Britannica, Kamidana.Theo Jinja Honchō, muối đặt bên phải và nước bên trái, tính theo người đứng trước kệ. Dây shimenawa và cành lá xanh là theo Britannica.



Britannica ghi rằng nhiều nhà ở Nhật có cả kệ thờ thần lẫn bàn thờ Phật (butsudan) trong cùng một nhà.
Nguồn: Britannica, Kamidana.VIICác Kiểu Chính Điện Và Những Ngôi Đền Lớn
Thuở đầu gần như không có đền đài cố định. Người ta làm lễ ngoài trời, ở chỗ có cây hay đá thiêng, dựng mái che tạm. Đền ra đời khi những mái che ấy được để lại thay vì dỡ đi sau lễ. Vì chính điện không phải chỗ cho đông người vào, kiểu dáng của nó giữ được rất lâu, nhất là ở những đền có lệ dựng lại theo kỳ.
Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: The History of Shrines. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Introduction, Jinja. Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: History and Typology of Shrine Architecture.Thần cung Ise
Gồm 125 đền, trung tâm là Nội cung (Naikū) thờ Amaterasu Ōmikami và Ngoại cung (Gekū) thờ Toyouke no Ōmikami, vị thần lo lễ vật thức ăn cho Amaterasu. Cứ hai mươi năm, chính cung được dựng mới trên khu đất liền kề, đúng kích thước cũ, rồi Gương Thánh được rước sang. Lễ này gọi là Shikinen Sengū (式年遷宮), bắt đầu năm 690 thời nữ hoàng Jitō. Lần thứ 62 diễn ra năm 2013, lần tới vào năm 2033.

Izumo Ōyashiro
Thờ Ōkuninushi no Kami, vị thần của việc dựng nước và của duyên kết giữa người với người. Chính điện hiện nay dựng lại năm 1744. Bách khoa Thần đạo ghi chính điện này lớn hơn hẳn chính điện các đền khác, và sử liệu thời Heian chép nó từng cao khoảng 48 mét.


Sumiyoshi Taisha và hai đền Kamo
Sumiyoshi-zukuri là một trong ba kiểu có từ trước thời Nara, cùng với shinmei và taisha. Từ thời Nara tới Heian, mái đền bắt đầu cong. Nagare-zukuri, kiểu của hai đền Kamo ở Kyoto, thành kiểu gặp nhiều nhất trên khắp nước Nhật.


Itsukushima
UNESCO ghi đảo Itsukushima là đất thiêng của Thần đạo từ rất sớm. Đền hiện nay có từ thế kỷ 12 tới 13, các tòa điện dựng ngay trên mặt nước, biển ở phía trước và núi ở phía sau.


Fushimi Inari Taisha
Đền thờ Inari Ōkami, vị thần của mùa màng, của nhà cửa yên ổn và việc buôn bán thịnh vượng. Năm 942 thần Inari được phong phẩm vị cao nhất. Đền nổi tiếng với các dãy torii do người cúng dâng và với tượng cáo sứ giả.


Minh Trị Thần cung
Lập năm 1920 ở Tokyo để tưởng nhớ Thiên hoàng Minh Trị và Hoàng hậu Shōken, giữa một khu rừng rộng 70 hécta. Đây là ví dụ về một ngôi đền thờ người có thật được tôn làm thần.

VIIIKiệu Thần, Đền Ở Nước Ngoài Và Truyền Thống Lân Cận
Kiệu thần mikoshi
Vào ngày hội, thần rời đền trên một chiếc kiệu gọi là shin'yo, quen gọi mikoshi. Đó là một ngôi đền thu nhỏ bằng gỗ, thường sơn đen, có đế, thân và mái, trên nóc gắn chim phượng, đặt trên các đòn gỗ để khiêng. Bách khoa Thần đạo ghi kiệu thần có từ khoảng năm 750, lúc đúc Đại Phật ở Nara, và lan khắp nước trong thời Heian. Lúc ấy người ngoài phố vẫn không thấy thần: họ thấy chiếc kiệu đóng kín.
Nguồn: Đại học Kokugakuin, Encyclopedia of Shinto: Shin'yo. Britannica, Shintō: Ritual practices and institutions.
Đền ở nước ngoài
Jinja Honchō ghi rằng ở Nhật có khoảng 80.000 đền thuộc Thần đạo đền miếu, và ngoài nước Nhật cũng có đền ở những nơi có cộng đồng di dân người Nhật như Hawaii và Brazil. Đền Izumo Taishakyō ở Honolulu lập năm 1906, tòa đền hiện nay hoàn thành năm 1922 theo kiểu taisha-zukuri, thờ Ōkuninushi.
Nguồn: Jinja Honchō, Q&A. Wikipedia, Izumo Taishakyo Mission of Hawaii.
Ryukyu: một truyền thống riêng
Các thánh địa utaki ở Okinawa không phải là đền Thần đạo. UNESCO gọi đó là ví dụ hiếm có của một hình thức thờ thiên nhiên và tổ tiên bản địa còn sống tới thời nay bên cạnh các tôn giáo lớn. Sēfa Utaki là thánh địa nổi tiếng nhất, và ở đó cũng không có tượng: người ta lễ trước vách đá. Thư viện nêu ở đây để người đọc khỏi lẫn, không gộp vào Thần đạo.
Nguồn: UNESCO, Gusuku Sites and Related Properties of the Kingdom of Ryukyu.
IXNhững Điều Thư Viện Chưa Chắc
Bạn là thần chức, người theo Thần đạo hay người nghiên cứu và thấy chỗ chưa đúng, hoặc có ảnh tự chụp muốn góp? Xin gửi kèm nguồn về thayungkhiem@gmail.com. Thư viện sửa và ghi tên người góp.
XẢnh Và Giấy Phép
Mọi ảnh trên trang lấy từ Wikimedia Commons, theo giấy phép Public domain, CC0, CC BY hoặc CC BY-SA. Tác giả và giấy phép ghi đúng như trang tệp gốc, đọc ngày 07/10/2026. Ảnh chỉ được thu nhỏ, không sửa nội dung. Bấm vào tên ảnh để tới trang tệp gốc. Nếu bạn là tác giả và thấy ghi công chưa đúng, xin báo để thư viện sửa.
XINguồn
Các trang trên được đọc trong tháng 10 năm 2026. Trang nào đổi địa chỉ, xin báo để thư viện cập nhật.
?Hỏi Đáp Nhanh
Thần đạo có thờ tượng không
Về căn bản là không. Thần (kami) được coi là vô hình. Thứ được thờ là thần thể, một vật mà thần ngự vào, cất kín trong chính điện. Từ cuối thời Nara có tượng thần bằng gỗ do ảnh hưởng Phật giáo, nhưng tượng cũng được cất sâu trong điện chứ không bày ra cho người lễ nhìn.
Trong chính điện của đền có gì
Có thần thể, thường là một tấm gương, một thanh kiếm hoặc một viên ngọc, bọc vải hay để trong hộp. Có đền thần thể là cả ngọn núi hay ngọn thác, và đền ấy không cần chính điện. Người đi lễ không được vào và không được nhìn.
Con cáo ở đền Inari có phải là thần không
Theo đền Fushimi Inari Taisha thì không. Cáo là sứ giả của thần Inari. Vị thần được thờ là Inari Ōkami, thần của mùa màng và sự thịnh vượng.
Vì sao không có ảnh ba báu vật thiêng
Gương Yata no Kagami, kiếm Kusanagi và ngọc Yasakani no Magatama không được đem ra cho công chúng xem. Trong các lễ lên ngôi, chúng nằm kín trong hộp và vải bọc. Thư viện không đăng hình vẽ phỏng đoán.
Kệ thờ thần trong nhà bày những gì
Một ngôi đền gỗ nhỏ chứa các tấm thần phù ofuda, trong đó tấm Jingū taima của Thần cung Ise ở vị trí tôn quý nhất. Phía trước dâng gạo, muối, nước, có thể thêm rượu sake và cành lá xanh. Không có tượng.
Vì sao trang này vẫn đăng ảnh tượng thần
Vì những tượng ấy là một phần có thật của lịch sử Thần đạo và đã được in trong sách mỹ thuật hoặc được bảo tàng công bố. Trang ghi rõ chúng vốn được cất kín, và thư viện không dùng chúng làm hình ở khám thờ.