VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Dạm

Đại Lãm Thần Quang Tự, Cảnh Long Đồng Khánh Tự, Chùa Đại Lãm, Chùa Cao, Chùa Bà Tấm

Đại danh lam vương triều Lý trải bốn cấp nền đá trên sườn núi Đại Lãm, nơi lưu giữ cây cột đá nguyên khối chạm đôi rồng ngậm ngọc độc bản của nền điêu khắc Đại Việt thế kỷ 11.

Khởi dựng
1086 - 1094
Hoàng thái hậu Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông
Bảo vật quốc gia
Cột đá chạm rồng
Quyết định số 2089/QĐ-TTg ngày 25/12/2017
Xếp hạng
Di tích quốc gia
Quyết định số 29-VH/QĐ ngày 13/01/1964

Từ con đường men theo sườn phía nam dãy núi Đại Lãm thuộc phường Nam Sơn, tỉnh Bắc Ninh, ngước nhìn lên triền núi cao sẽ thấy những bức tường kè đá sa thạch xám xếp chồng lên nhau thành bốn cấp nền khổng lồ vươn thẳng về phía đỉnh non. Giữa tầng nền thứ hai lộng gió, một cây cột đá xanh nguyên khối cao gần năm mét đứng sừng sững trên bệ đá tròn hai cấp, thân cột chạm nổi đôi rồng thời Lý uốn lượn mềm mại nhưng đầy uy lực, đầu ngẩng cao dâng viên ngọc sáng giữa mây trời Kinh Bắc. Đó là phế tích nền xưa và ngôi chùa mới của Chùa Dạm, đại danh lam từng là trung tâm Phật giáo hoàng gia lớn bậc nhất dưới triều vua Lý Nhân Tông.

Không giống những ngôi chùa đồng bằng quy tụ trong khuôn viên phẳng lặng dưới bóng cây cổ thụ, Chùa Dạm mang cốt cách của một đại công trình kiến trúc đá và gỗ ngự trên sườn núi, kết hợp tầm vóc vương quyền của kinh đô Thăng Long với mạch nguồn tâm linh quê hương nhà Lý ở xứ Bắc. Từng viên gạch hoa chanh, từng phiến đá bậc thềm chạm sóng nước và đặc biệt là cây cột đá độc nhất vô nhị còn trụ vững sau hơn chín thế kỷ đã biến nơi đây thành một cuốn sử đá sống động bậc nhất của nền mỹ thuật Phật giáo Đại Việt.

Chùa Dạm
Chùa Dạm. Ảnh: Hoangvantoanajc, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

IĐại Danh Lam Hoàng Gia Của Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan

Chùa Dạm nằm tại khu Tự Thôn, sườn phía nam núi Dạm (tên chữ là núi Đại Lãm), thuộc địa bàn phường Nam Sơn, tỉnh Bắc Ninh (trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 là phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh cũ, sau khi hợp nhất phường Vân Dương và phường Nam Sơn cũ theo Nghị quyết số 1658/NQ-UBTVQH15 vẫn giữ tên phường Nam Sơn). Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thời Lý, đây không phải là một ngôi chùa làng thông thường mà là một quốc tự hành cung do chính Hoàng thái hậu Ỷ Lan (Lê Thị Yến, khoảng 1044 - 1117) và con trai là vua Lý Nhân Tông (trị vì 1072 - 1127) trực tiếp khảo sát địa thế, xuất ngân khố triều đình và huy động sức lực cả nước xây dựng trong suốt gần một thập niên cuối thế kỷ 11.

Chùa có nhiều tên gọi khác nhau gắn liền với từng lớp ký ức lịch sử và dân gian. Sử cũ như Việt sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận năm Hội Phong thứ 3 (1094) hoặc Hội Phong thứ 6 (1097), sau khi công trình hoàn tất, triều đình ban tên hiệu là Cảnh Long Đồng Khánh Tự (景龍同慶寺). Đến các triều đại sau, văn bia và tư liệu Hán Nôm gọi chùa là Đại Lãm Thần Quang Tự (大覽神光寺), ghép tên ngọn núi Đại Lãm với danh hiệu Thần Quang Tự. Trong dân gian xứ Kinh Bắc, người dân quanh vùng gọi chùa bằng tên Nôm là Chùa Dạm (biến âm từ chữ Đại Lãm hoặc chữ Chằm chỉ vùng đầm nước rộng dưới chân núi), hoặc gọi là Chùa Cao, Chùa Bà Tấm để tưởng nhớ Nguyên phi Ỷ Lan, người con gái quê hương Kinh Bắc từ ruộng dâu bước lên ngôi mẫu nghi thiên hạ.

Theo giáo nghĩa

Sự ra đời của Chùa Dạm gắn liền với tư tưởng Phật giáo nhập thế và lòng sám hối hướng thiện của Hoàng thái hậu Ỷ Lan trong giai đoạn thịnh trị nhất của vương triều Lý. Là người phụ nữ từng hai lần buông rèm nhiếp chính giúp vua Lý Thánh Tông và vua Lý Nhân Tông giữ yên bờ cõi, mở khoa thi Nho học đầu tiên năm 1075, Ỷ Lan đồng thời là một Phật tử thuần thành thông suốt giáo lý Thiền tông. Khi tuổi cao, bà dốc lòng kiến tạo hơn một trăm ngôi chùa tháp khắp vùng châu thổ sông Hồng và quê hương Bắc Ninh để cầu quốc thái dân an, hóa giải những nghiệp chướng chốn cung đình và gieo hạt giống từ bi cho muôn dân. Trong hệ thống hàng trăm ngôi chùa gắn với tên tuổi bà, Chùa Dạm trên núi Đại Lãm giữ vị trí trung tâm, nơi bà thường xuyên lui tới tĩnh tu, tham vấn các bậc quốc sư lỗi lạc và cũng là nơi đặt tượng thờ bà cùng vua Lý Nhân Tông ngay từ khi vương triều Lý còn đương trị.

Theo sử liệu

Các bộ chính sử biên niên của Đại Việt đã dành nhiều dòng ghi chép trực tiếp về quá trình khởi dựng đại danh lam này. Sách Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ, quyển 3) chép rằng vào tháng 8 mùa thu năm Ất Sửu, niên hiệu Quảng Hựu thứ 1 (1085), Hoàng thái hậu Ỷ Lan đi chơi núi Đại Lãm, ngắm cảnh đất đai núi non kỳ thú bèn nảy ý định dựng chùa. Sang năm Bính Dần, niên hiệu Quảng Hựu thứ 2 (1086), triều đình chính thức khởi công xây dựng chùa lớn ở núi Đại Lãm. Sách Việt sử lược (quyển 2) và văn bia thời Lý ghi nhận công trình phải mất nhiều năm ròng rã đắp đá mở nền trên sườn núi dốc: có nguồn sử liệu chép chùa hoàn thành vào năm Giáp Tuất, niên hiệu Hội Phong thứ 3 (1094), trong khi Đại Việt sử ký toàn thư chép vào tháng Giêng mùa xuân năm Đinh Sửu, niên hiệu Hội Phong thứ 6 (1097), chùa làm xong, vua Lý Nhân Tông ban tên là Cảnh Long Đồng Khánh Tự và mở hội lớn khánh thành. Thư viện Vạn Đạo Đường ghi nhận đầy đủ cả hai mốc năm 1094 và 1097 để phản ánh quá trình hoàn thiện nhiều hạng mục từ điện Phật đến bảo tháp trên núi Đại Lãm.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều khách hành hương khi tới thăm khu chùa gỗ khang trang mới phục dựng trên sườn núi thường lầm tưởng đó là vị trí chính điện gốc từ thời Lý, hoặc nghĩ rằng Chùa Dạm chỉ là một ngôi chùa nhỏ còn sót lại một cây cột đá lẻ loi. Thực tế khảo cổ học cho thấy toàn bộ quần thể kiến trúc thời Lý năm 1086 là một đại công trình khổng lồ trải rộng trên mặt bằng hình chữ nhật dài khoảng 120 mét từ chân núi lên lưng chừng núi và rộng khoảng 70 mét theo chiều ngang, chia thành bốn cấp nền bó đá cao chênh nhau hàng chục mét. Những gì còn thấy trên mặt đất cổ xưa chỉ là phần móng đá, chân tảng và cây cột đá biểu trụ, nhưng quy mô của các bậc kè đá ấy đủ chứng minh đây từng là một trong những quần thể kiến trúc Phật giáo đồ sộ nhất lịch sử trung đại Việt Nam.

IIHơn Chín Thế Kỷ Từ Cảnh Long Đồng Khánh Tự Đến Nay

Lịch sử Chùa Dạm trải dài từ thời đại hoàng kim của vương triều Lý sang thời Trần, thời Lê Trung hưng, thời Nguyễn cho tới các đợt khai quật khảo cổ học và tôn tạo quy mô lớn trong thế kỷ 20 và thế kỷ 21. Dưới thời Lý Nhân Tông, không chỉ là nơi tu hành của Hoàng thái hậu Ỷ Lan, Chùa Dạm còn là một trung tâm nghi lễ của hoàng gia. Sử cũ ghi nhận vào năm Ất Dậu, niên hiệu Long Phù Nguyên Hóa thứ 5 (1105), vua Lý Nhân Tông tiếp tục cho xây dựng ba ngọn tháp đá trắng trên núi Đại Lãm, tạo nên cảnh quan bảo tháp vươn cao nhìn xuống vùng đầm nước mênh mông phía nam núi.

Trải qua biến thiên của các triều đại và sự khắc nghiệt của thời gian, những tòa điện gỗ lộng lẫy thời Lý dần mai một, nhưng mạch hương khói tại Đại Lãm Thần Quang Tự chưa bao giờ đứt đoạn. Sang thời Hậu Lê và thời Nguyễn, cư dân các làng quanh chân núi Dạm như Tự Thôn, Lãm Thủy, Sơn Trung vẫn tiếp tục dựng lại các nếp chùa quy mô vừa phải trên cấp nền thứ ba để phụng thờ Tam Bảo, thờ Hoàng thái hậu Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông. Trong học giới hiện đại, Chùa Dạm sớm thu hút sự chú ý đặc biệt của các học giả Trường Viễn Đông Bác cổ (EFEO) từ đầu thế kỷ 20 như Henri Parmentier và Louis Bezacier, trước khi được các nhà khảo cổ học Việt Nam tiến hành thám sát, khai quật tổng thể để làm sáng tỏ diện mạo nguyên gốc của một đại danh lam thời Lý.

  • 1085 - 1086Hoàng thái hậu Ỷ Lan khảo sát và khởi dựng chùa
    Tháng 8 âm lịch năm Ất Sửu (1085), Hoàng thái hậu Ỷ Lan du ngoạn núi Đại Lãm. Năm Bính Dần, niên hiệu Quảng Hựu thứ 2 (1086) đời vua Lý Nhân Tông, triều đình chính thức khởi công xây dựng đại tự trên sườn nam núi Dạm.
  • 1094 - 1097Hoàn thành và ban hiệu Cảnh Long Đồng Khánh Tự
    Sau gần một thập niên xây dựng bốn cấp nền đá và các tòa điện tháp, công trình hoàn tất vào năm Hội Phong thứ 3 (1094) và được vua Lý Nhân Tông ban tên chữ Cảnh Long Đồng Khánh Tự vào năm Hội Phong thứ 6 (1097).
  • 1105Xây dựng cụm tháp đá trên núi Đại Lãm
    Năm Long Phù Nguyên Hóa thứ 5 (1105), vua Lý Nhân Tông cho dựng thêm ba ngọn tháp đá tại chùa núi Đại Lãm, hoàn thiện quần thể kiến trúc chùa tháp hoàng gia.
  • Thế kỷ 16 - 18Trùng tu thời Mạc và Lê Trung hưng, mang tên Thần Quang Tự
    Chùa được trùng tu nhiều đợt dưới thời Mạc và thời Lê Trung hưng với tên chữ Đại Lãm Thần Quang Tự, bổ sung hệ thống bia đá, chuông đồng và duy trì điện thờ Hoàng thái hậu Ỷ Lan cùng vua Lý Nhân Tông.
  • 1946Hư hại kiến trúc gỗ cổ truyền
    Các nếp nhà gỗ cổ truyền trên nền chùa cũ bị hư hại nặng nề trong biến động lịch sử năm 1946, chỉ còn lại hệ thống bốn cấp nền kè đá, bậc thềm đá chạm rồng sóng nước, tượng đá và cây cột đá chạm rồng nguyên khối.
  • 1964Xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
    Bộ Văn hóa ban hành Quyết định số 29-VH/QĐ ngày 13 tháng 1 năm 1964, chính thức xếp hạng khu di tích Chùa Dạm là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
  • 2012 - 2015Khai quật khảo cổ học và phục dựng quần thể chùa mới
    Viện Khảo cổ học phối hợp với tỉnh Bắc Ninh khai quật trên diện tích hơn 3.000 mét vuông, phát lộ hàng vạn di vật gạch ngói, đầu rồng đất nung, chân tảng hoa sen thời Lý, đồng thời khởi công dự án tôn tạo quần thể Chùa Dạm bên cạnh khu phế tích gốc.
  • 2017Cột đá chạm rồng được công nhận Bảo vật quốc gia
    Ngày 25 tháng 12 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2089/QĐ-TTg công nhận Cột đá chạm rồng chùa Dạm là Bảo vật quốc gia đợt 6.
Theo sử liệu

Cuộc khai quật khảo cổ học quy mô lớn năm 2012 do Viện Khảo cổ học thực hiện trên bốn cấp nền Chùa Dạm đã cung cấp những bằng chứng vật chất vô giá đối chiếu với sử biên niên. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy hàng loạt chân tảng đá chạm cánh sen kép cỡ lớn, các phiến đá thành bậc chạm hoa văn sóng nước và cúc dây, gạch lát nền vuông in hoa chanh và hoa sen, ngói mũi sen, ngói ống tráng men cùng hàng trăm mảnh phù điêu đất nung hình rồng, phượng, lá đề, uyên ương mang phong cách nghệ thuật thời Lý thế kỷ 11 - 12 hoàn toàn đồng nhất với di vật khai quật tại Hoàng thành Thăng Long và chùa Phật Tích. Điều đó khẳng định nghệ nhân xây dựng Chùa Dạm chính là đội ngũ thợ cả của triều đình Thăng Long được điều động trực tiếp về núi Đại Lãm.

IIIBố Cục Bốn Cấp Nền Đá Và Bảo Vật Quốc Gia Cột Đá Chạm Rồng

Kiến trúc Chùa Dạm được quy hoạch thành hai phần rõ rệt nhưng gắn bó hữu cơ trên sườn nam núi Đại Lãm: khu phế tích bốn cấp nền đá gốc từ thời Lý và khu kiến trúc gỗ phục dựng mới phục vụ nhu cầu chiêm bái đương đại. Khảo sát mặt bằng khu di chỉ gốc cho thấy các kiến trúc sư thời Lý đã lợi dụng độ dốc khoảng 15 đến 20 độ của sườn núi để bạt đất, đắp nền và kè đá sa thạch thành bốn cấp nền chữ nhật xếp giật cấp từ thấp lên cao theo trục Bắc - Nam (chếch Đông Nam), tổng chiều dài khoảng 120 mét, chiều rộng khoảng 70 mét, diện tích mặt bằng hơn 8.400 mét vuông.

Mỗi cấp nền được bó bằng những khối đá sa thạch đẽo phẳng xếp chồng không dùng chất kết dính, cao từ 3 mét đến hơn 5 mét. Nối giữa các cấp nền là hệ thống bậc thềm đá lớn ở chính giữa và hai bên. Tại nền thứ nhất (nền thấp nhất rộng khoảng 120 mét nhân 60 mét) xưa kia là khu cổng tam quan và sân hội. Bước qua bậc thềm đá có thành bậc chạm sóng nước lên cấp nền thứ hai là nơi đặt Cột đá chạm rồng chùa Dạm ở phía đông và một chân tảng đá tương ứng ở phía tây. Cấp nền thứ ba là trung tâm của thượng điện và tòa bảo tháp thời Lý với móng tháp vuông cạnh tới 16,6 mét, còn cấp nền thứ tư cao nhất dựa sát vách núi là nơi đặt điện thờ Hoàng thái hậu Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông.

Bảo vật quốc gia Cột đá chạm rồng chùa Dạm

Tâm điểm hội tụ toàn bộ tinh hoa điêu khắc và bí ẩn học thuật của Chùa Dạm là Cột đá chạm rồng chùa Dạm, được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2089/QĐ-TTg ngày 25 tháng 12 năm 2017. Toàn bộ cấu trúc hiện vật gồm hai phần chính là phần bệ đá hình tròn hai cấp và phần thân cột đá nguyên khối dựng thẳng đứng ở chính tâm, tổng chiều cao tính từ mặt nền lên đỉnh cột đạt khoảng 505 cm (hơn 5 mét, chưa tính phần chôn chìm dưới lòng đất khoảng 80 cm đến 90 cm). Chất liệu chế tác là đá cát (sa thạch) hạt mịn màu xám xanh đặc trưng của thời Lý.

Phần bệ đá bên dưới được ghép từ các phiến đá lớn tạo thành hai cấp hình tròn đồng tâm như một đài sen khổng lồ nở trên mặt đất: cấp bệ dưới có đường kính khoảng 4,5 mét đến 4,7 mét, cao khoảng 45 cm, cấp bệ trên thu nhỏ hơn với đường kính khoảng 3,4 mét, cao khoảng 46 cm, mặt ngoài chạm nổi những cánh sen ngửa thanh thoát và các lớp sóng nước cuộn trào. Vươn lên từ tâm bệ tròn là cây cột đá liền khối cao khoảng 425 cm, nặng ước tính khoảng 20 đến 25 tấn, được tạo tác thành hai đoạn rõ rệt: đoạn gốc hình hộp gần vuông cao khoảng 200 cm (tiết diện khoảng 1,38 mét nhân 1,62 mét) dùng để neo giữ trọng tâm vững chắc, đoạn trên chuyển sang hình trụ tròn cao khoảng 225 cm với đường kính từ 1,30 mét đến 1,45 mét.

Quanh phần thân trụ tròn phía trên là kiệt tác phù điêu đôi rồng thời Lý hiến châu (lưỡng long hiến châu) được chạm nổi với độ dày tới 8 - 10 cm. Hai con rồng uốn khúc mềm mại dạng hình sin quấn quanh thân cột, đuôi ngoắc vào nhau ở mặt sau phía bắc, thân tròn lẳn phủ vảy mịn lượn vòng sang hai bên đông tây rồi vươn hai đầu gặp nhau ở chính diện phía nam. Hai đầu rồng ngẩng cao đầy thần thái với bờm tóc bay ngược như ngọn lửa, mào dài, sừng nhánh và hai chân trước có năm móng sắc nhọn cùng nâng niu viên ngọc sáng giữa những dải mây lửa hình khánh và hoa dây.

Bảo vật quốc gia Cột đá chạm rồng (1086 - 1094)

Cột đá sa thạch nguyên khối đặt trên bệ tròn hai cấp, tổng cao khoảng 505 cm, đường kính bệ tới 4,7 mét, thân cột chạm nổi đôi rồng thời Lý chầu ngọc, công nhận Bảo vật quốc gia năm 2017.

Hệ thống bốn cấp nền bó đá và bậc thềm chạm sóng nước

Bốn cấp nền kè đá sa thạch vươn cao dần theo sườn núi Đại Lãm, còn giữ thành bậc đá chạm hoa văn sóng nước và móng tháp đá thời Lý cạnh 16,6 mét.

Hai pho tượng đá Hoàng thái hậu Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông

Hai pho tượng đá cổ đặt tại điện thờ ở cấp nền cao, tạc chân dung mẫu nghi thiên hạ Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông trong trang phục hoàng gia với nét mặt từ hòa.

Giếng Cô Tiên và Bàn cờ Tiên trên núi Dạm

Mạch nước ngầm trong vắt không bao giờ cạn nằm gần chân nền chùa cùng các tảng đá phẳng trên đỉnh núi gắn với truyền thuyết Nguyên phi Ỷ Lan thưởng ngoạn.

Quần thể Tam Bảo và gác chuông phục dựng (2015)

Khu kiến trúc gỗ lim lợp ngói mũi hài phục dựng theo thức kiến trúc cổ truyền gồm Tam quan, Tiền đường, Thượng điện, Nhà Tổ, Nhà Mẫu, lầu chuông và lầu trống.

Chỗ hay hiểu lầm

Về công năng và ý nghĩa biểu tượng của Cột đá chạm rồng chùa Dạm, giới khảo cổ và mỹ thuật học Việt Nam có ba kiến giải lớn cần được ghi nhận song hành. Kiến giải thứ nhất (tiêu biểu là nhà nghiên cứu Chu Quang Trứ và nhiều nhà văn hóa dân gian) nhìn nhận cấu trúc cột trụ tròn dựng trên gốc vuông đặt giữa đài sen tròn là sự dung hợp độc đáo giữa biểu tượng Linga và Yoni (tín ngưỡng phồn thực bản địa hòa quyện với ảnh hưởng văn hóa Chămpa thời Lý) cùng mỹ thuật Phật giáo để cầu quốc vận sinh sôi bền vững. Kiến giải thứ hai (theo các nhà khảo cổ học của Viện Khảo cổ học khi khai quật năm 2012 phát hiện lỗ mộng lớn trên đỉnh cột và các mảnh ngói rơi quanh chân cột) cho rằng đây là trụ đá đỡ một lầu gác kinh hoặc hương đình dạng một cột giống mô hình chùa Một Cột (Diên Hựu Tự) ở Thăng Long. Kiến giải thứ ba xem đây là một biểu trụ Phật giáo (thạch trụ kinh tràng) biểu trưng cho trục vũ trụ Tu Di và vương quyền hộ trì Phật pháp của nhà Lý. Thư viện dẫn đủ cả ba góc nhìn để người đọc thấy hết chiều sâu đa tầng của bảo vật này.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay sử liệu của chùa. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu lịch sử và đâu là kiến giải địa lý phong thủy.

Thế đất và hướng

Tại tọa độ 21,1434 độ vĩ Bắc và 106,1020 độ kinh Đông, Chùa Dạm ngự trên sườn phía nam của dãy núi Dạm (núi Đại Lãm), một sơn mạch lớn chạy dài hơn hai cây số theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với đỉnh cao nhất gần 120 mét so với mực nước biển giữa vùng đồng bằng trũng Bắc Ninh. Trong phép tầm long điểm huyệt của phong thủy cổ truyền, dãy Đại Lãm chính là một thiếu tổ sơn tách mạch từ vùng trung du chuyển mình xuống châu thổ, tạo thành bức bình phong hậu chẩm (chỗ dựa sau lưng) vô cùng hùng hậu, che chắn hoàn toàn gió bấc lạnh giá từ phương Bắc và phương Đông Bắc.

Điểm đắc địa bậc nhất của Chùa Dạm nằm ở cấu trúc tọa sơn vọng thủy và thế nhị long tranh châu tự nhiên của địa hình. Ngôi chùa tọa phương Bắc ghé Tây Bắc (tọa Càn - Hợi), mặt hướng về phương Nam ghé Đông Nam (hướng Tốn - Tị). Ngay dưới chân sườn nam núi Đại Lãm xưa kia là một vùng đầm hồ mênh mông (tục gọi là đầm Dạm hay vùng Chằm) nối thông với dòng sông Tiêu Tương cổ và hệ thống sông Cầu, sông Đuống, tạo thành nội minh đường tụ thủy rộng lớn. Xa hơn ở phía trước mặt là những ngọn đồi thấp của vùng Quế Võ chầu về làm tiền án, hai dải sườn núi Đại Lãm vươn ra hai bên đông và tây ôm vòng lấy bốn cấp nền chùa như hai cánh tay tả Thanh Long và hữu Bạch Hổ hộ vệ huyệt trường. Việc các bậc thầy địa lý thời Lý đặt bốn cấp nền đá vươn cao dần từ mặt nước đầm Dạm lên sườn núi và dựng cây cột đá đôi rồng chầu ngọc ngay ở cấp nền thứ hai nhìn thẳng ra minh đường phương Nam chính là thủ pháp điểm nhãn cho long mạch, kết nối khí núi (sơn) với khí nước (thủy) để trấn giữ mạch vượng cho quê hương vương triều Lý.

VLễ Hội Chùa Dạm Và Tục Tưởng Niệm Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan

Là đại danh lam gắn liền với thân thế và công đức của Hoàng thái hậu Ỷ Lan cùng vua Lý Nhân Tông, lễ hội truyền thống Chùa Dạm là một trong những kỳ hội lớn của vùng văn hóa Kinh Bắc. Hàng năm, lễ hội chính được nhân dân các khu phố thuộc phường Nam Sơn (vùng tổng Dạm xưa gồm 9 làng cùng thờ Phật và thờ Đức Hoàng thái hậu Ỷ Lan) tổ chức trọng thể vào ngày mùng 8 tháng 9 âm lịch, kỷ niệm ngày khánh thành chùa và tưởng niệm công đức của Nguyên phi Ỷ Lan cùng vua Lý Nhân Tông. Bên cạnh đó, vào dịp đầu xuân và ngày 25 tháng 7 âm lịch (ngày húy kỵ Hoàng thái hậu Ỷ Lan theo sử chép bà mất năm Đinh Dậu 1117), nhà chùa và dân làng cũng cử hành khóa lễ dâng hương trang nghiêm.

Trong kỳ hội tháng Chín âm lịch, nét đặc sắc nhất là lễ rước kiệu và rước nước từ Giếng Cô Tiên dưới chân núi lên thượng điện để làm lễ mộc dục (tắm tượng) và dâng cúng Tam Bảo, tiếp nối bằng nghi thức tế lễ cổ truyền của các bô lão chín làng vùng núi Dạm. Phần hội rộn ràng với những canh hát Quan họ Bắc Ninh giao duyên trên sân chùa và dưới chân sườn núi, gợi nhắc lại không khí lễ hội khánh thành Cảnh Long Đồng Khánh Tự từng được vua Lý Nhân Tông tổ chức cách đây hơn chín trăm năm.

Các kỳ lễ tiết chính trong năm tại Chùa Dạm (Đại Lãm Thần Quang Tự). Nguồn: Tổng hợp từ hồ sơ di tích Bảo tàng Bắc Ninh và Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh..
Thời gian âm lịchTên kỳ lễNghi thức và hoạt động chính
Mùng 8 tháng 9Lễ hội truyền thống Chùa Dạm (chính hội)Rước kiệu của các làng vùng núi Dạm, rước nước từ Giếng Cô Tiên, đại tế tưởng niệm Hoàng thái hậu Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông, hát Quan họ Bắc Ninh
25 tháng 7Lễ húy kỵ Hoàng thái hậu Ỷ LanKhóa lễ tụng kinh cầu siêu, dâng hương tưởng niệm ngày mất của Hoàng thái hậu Ỷ Lan (năm 1117) tại điện thờ trên núi Đại Lãm
Tháng Giêng đầu xuânLễ cầu an đầu nămPhật tử và nhân dân thập phương hành hương lễ Phật trên bốn cấp nền đá, chiêm bái Bảo vật quốc gia Cột đá chạm rồng và xin lộc đầu xuân
Rằm tháng Tư và Rằm tháng BảyĐại lễ Phật Đản và Vu Lan báo hiếuLễ tắm Phật, thuyết giảng giáo lý, cầu siêu báo hiếu cha mẹ theo truyền thống Phật giáo Bắc tông và tấm gương hiếu đạo của vua Lý Nhân Tông

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Khu Tự Thôn, sườn nam núi Dạm (núi Đại Lãm), phường Nam Sơn (trước ngày 01/07/2025 là phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh cũ), tỉnh Bắc Ninh
Đường tới
Từ trung tâm tỉnh Bắc Ninh (khu vực phường Kinh Bắc / Suối Hoa), đi theo Quốc lộ 18 hoặc đường tỉnh 278 về phía đông nam khoảng 7 đến 8 km tới địa phận phường Nam Sơn, sau đó rẽ vào đường lên sườn nam núi Dạm tại khu Tự Thôn. Từ trung tâm Hà Nội có thể đi theo cao tốc Hà Nội - Bắc Giang (Quốc lộ 1A mới) khoảng 35 km tới nút giao Quốc lộ 18 rồi rẽ vào phường Nam Sơn.
Toạ độ
21.1434, 106.102
Khi tới nơi

Khi tới chiêm bái Chùa Dạm trên sườn núi Đại Lãm, quý vị lưu ý địa hình di tích gồm nhiều bậc đá dốc nối liền bốn cấp nền từ chân núi lên cao, nên chọn trang phục kín đáo, lịch sự và đi giày đế thấp bám đường tốt. Tại khu vực cấp nền thứ hai nơi đặt Bảo vật quốc gia Cột đá chạm rồng và các chân tảng đá cổ thời Lý, quý vị tuyệt đối không trèo lên bệ đá tròn, không chạm tay xoa tiền hay khắc vẽ lên bề mặt phù điêu rồng đá để bảo vệ lớp đá sa thạch hơn chín trăm năm tuổi.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Dạm

Contribute photos, information or video for Dạm Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Dạm do ai xây dựng và có từ năm nào?

Chùa Dạm do Hoàng thái hậu Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông khởi dựng từ năm Bính Dần, niên hiệu Quảng Hựu thứ 2 (1086) sau chuyến du ngoạn núi Đại Lãm năm 1085. Công trình hoàn thành vào khoảng năm Hội Phong thứ 3 (1094) đến năm Hội Phong thứ 6 (1097) và được vua Lý Nhân Tông ban tên hiệu là Cảnh Long Đồng Khánh Tự, về sau còn gọi là Đại Lãm Thần Quang Tự.

Bảo vật quốc gia Cột đá chạm rồng chùa Dạm có kích thước và đặc điểm gì?

Cột đá chạm rồng chùa Dạm làm bằng đá sa thạch xám xanh thời Lý, đặt trên bệ đá tròn hai cấp có đường kính chân bệ tới 4,5 - 4,7 mét. Toàn bộ công trình cao khoảng 505 cm, riêng phần cột đá liền khối cao khoảng 425 cm gồm gốc vuông bên dưới và thân trụ tròn bên trên chạm nổi đôi rồng thời Lý uốn khúc ngẩng đầu dâng ngọc. Hiện vật được công nhận Bảo vật quốc gia ngày 25 tháng 12 năm 2017.

Ý nghĩa của Cột đá chạm rồng chùa Dạm được giới nghiên cứu giải thích như thế nào?

Giới nghiên cứu có ba kiến giải chính bổ sung cho nhau: một là biểu tượng sinh thực khí Linga và Yoni kết hợp với mỹ thuật rồng và hoa sen Phật giáo thời Lý để cầu phồn thực và quốc vận hưng thịnh, hai là trụ đá đỡ một tòa lầu gác kinh hoặc hương đình kiến trúc một cột tương tự chùa Một Cột ở Thăng Long, và ba là biểu trụ Phật giáo (thạch trụ) khẳng định vương quyền hộ pháp trên núi Đại Lãm.

Chùa Dạm thuộc đơn vị hành chính nào của tỉnh Bắc Ninh sau đợt sắp xếp năm 2025?

Chùa Dạm nằm tại khu Tự Thôn, sườn nam núi Dạm (núi Đại Lãm), thuộc phường Nam Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Theo Nghị quyết số 1658/NQ-UBTVQH15 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, phường Nam Sơn cũ và phường Vân Dương cũ (thuộc thành phố Bắc Ninh cũ) được hợp nhất thành phường Nam Sơn mới trực thuộc tỉnh Bắc Ninh.

Lễ hội Chùa Dạm diễn ra vào ngày nào trong năm?

Lễ hội truyền thống Chùa Dạm diễn ra chính hội vào ngày mùng 8 tháng 9 âm lịch hàng năm với sự tham gia của các làng quanh núi Đại Lãm để kỷ niệm ngày khánh thành chùa thời Lý và tưởng niệm công đức Hoàng thái hậu Ỷ Lan cùng vua Lý Nhân Tông. Ngoài ra vào ngày 25 tháng 7 âm lịch còn có lễ húy kỵ Hoàng thái hậu Ỷ Lan.

›Đọc Tiếp