VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Đậu

Thành Đạo Tự, Pháp Vũ Tự, Quốc Tự

Đại danh lam bên bờ sông Nhuệ thờ Đức Pháp Vũ (Bà Đậu) trong hệ thống Tứ Pháp, từng được sắc phong Đệ nhất danh lam và Quốc Tự thời Lê - Trịnh, nơi lưu giữ Bảo vật quốc gia hai pho tượng nhục thân bất hoại gần bốn trăm năm tuổi.

Khởi nguồn
Thế kỷ 3
thờ Đức Pháp Vũ (Bà Đậu), tôn làm Quốc Tự thời Lê - Trịnh năm 1635
Bảo vật
2 tượng nhục thân
Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường, Quyết định 2496/QĐ-TTg năm 2016
Xếp hạng
Di tích quốc gia
Di tích lịch sử nghệ thuật quốc gia loại A năm 1964

Men theo dòng sông Nhuệ hiền hòa chảy qua vùng đất danh hương Thượng Phúc ở phía nam kinh thành Thăng Long (nay thuộc thôn Gia Phúc, xã Thượng Phúc, huyện Thường Tín cũ), quý vị sẽ bắt gặp một quần thể cổ tự uy nghi nép dưới bóng những hàng cây đại già và gác chuông hai tầng tám mái uốn đao cong vút. Bước qua cổng Tam quan và khoảng sân gạch rộng nhìn ra hồ nước bán nguyệt, đôi rồng đá thời Trần khỏe khoắn bên bậc thềm Tiền đường cùng những hàng cột gỗ tứ thiết nâng đỡ mái ngói rêu phong đưa người hành hương trở về không khí của một ngôi Quốc Tự từng đón bước chân bao bậc đế vương, vương hầu.

Đó là Chùa Đậu, tên chữ là Thành Đạo Tự hay Pháp Vũ Tự, trung tâm thờ Đức Pháp Vũ (Bà Đậu) trong hệ thống Tứ Pháp cổ sơ của người Việt. Không chỉ lưu giữ đôi rồng đá thời Trần, gạch men hoa thời Mạc và truyền thuyết về những tấm bia đồng khắc sự tích Phật Mẫu Man Nương, Chùa Đậu còn làm giới khoa học trong và ngoài nước kinh ngạc bởi hai Bảo vật quốc gia tượng nhục thân (toàn thân xá lợi) của hai vị Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường viên tịch từ thế kỷ 17 trong tư thế nhập định nguyên vẹn suốt gần bốn thế kỷ.

IThành Đạo Tự, Tín Ngưỡng Đức Pháp Vũ (Bà Đậu) Và Hai Vị Tổ Nhục Thân Họ Vũ

Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam (Phật giáo), Chùa Đậu mang nhiều danh hiệu gắn liền với từng tầng văn hóa nối tiếp nhau. Tên chữ Hán khắc trên hoành phi và văn bia thời Lê Trung hưng là Thành Đạo Tự (成道寺, ngôi chùa nơi bậc chân tu thành tựu đạo quả), trong khi tên gọi theo vị bản tôn được thờ chính tại Thượng điện là Pháp Vũ Tự (法雨寺, chùa thờ Phật Pháp Vũ). Dưới triều vua Lê Thần Tông và chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng (thế kỷ 17), do nhà vua và vương phủ trực tiếp đứng ra đại trùng tu nên chùa còn được tôn xưng là Quốc Tự (chùa của nhà nước) và Đệ nhất danh lam. Còn tên gọi dân gian Chùa Đậu (hay Bà Đậu) xuất phát từ tên Nôm của vùng đất Gia Phúc xưa cùng ước vọng của cư dân nông nghiệp và sĩ tử khắp vùng Thường Tín, Thượng Phúc đến cầu mưa thuận gió hòa và cầu thi cử đỗ đạt (đậu đạt).

Lớp tín ngưỡng cổ xưa nhất tại Chùa Đậu là tục thờ Đức Pháp Vũ (Thần Mưa), vị nữ thần đứng thứ hai trong hệ thống Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) ra đời từ sự dung hợp giữa Phật giáo Ấn Độ truyền sang Luy Lâu đầu Công nguyên với tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp bản địa của người Việt cổ.

Theo sử liệu

Theo bộ sách cổ Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục và truyền thuyết vùng Luy Lâu - Thượng Phúc, vào khoảng thế kỷ thứ 2 - thứ 3 (thời Sĩ Nhiếp cai trị Giao Châu), nhà sư Ấn Độ Khâu Đà La (Ksudra) đến truyền đạo tại chùa Linh Quang (Luy Lâu, Bắc Ninh) và cảm hóa người con gái bản địa là Man Nương (Phật Mẫu Man Nương). Khi cây dung thụ (cây dâu cổ thụ) trên núi Cối Giang đổ xuống trôi về bến Luy Lâu, người ta xẻ thân cây gỗ thần ấy tạc thành bốn pho tượng Phật Tứ Pháp để cầu mưa giúp dân cày cấy: Pháp Vân (thần Mây, thờ ở chùa Dâu), Pháp Vũ (thần Mưa), Pháp Lôi (thần Sấm) và Pháp Điện (thần Chớp). Riêng pho tượng gỗ Đức Pháp Vũ được rước về thờ tại vùng đất Gia Phúc bên bờ sông Nhuệ, hình thành nên Pháp Vũ Tự (Chùa Đậu).

Sử cũ và văn bia tại chùa chép rằng qua các triều đại Lý, Trần, Lê, mỗi khi đất nước gặp hạn hán hoặc có việc đại sự quốc gia, triều đình đều sai quan đại thần hoặc chính nhà vua trực tiếp rước kiệu Đức Pháp Vũ ở Chùa Đậu về kinh thành Thăng Long lập đàn cầu đảo (cầu mưa) và cầu quốc thái dân an. Tương truyền vào đời vua Lý Thánh Tông hay thời Lê Thần Tông, những tấm lá đồng (sách đồng) khắc bản văn sự tích Tứ Pháp và sắc phong của triều đình đã từng được ban tặng và lưu giữ tại Pháp Vũ Tự (văn bản Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục về sau còn được khắc mộc bản năm Cảnh Hưng thứ 13 tức 1752 tại chùa Dâu).

Theo giáo nghĩa

Nếu Đức Pháp Vũ là biểu tượng của tầng Phật giáo dung hợp tín ngưỡng nông nghiệp đầu Công nguyên, thì sang thế kỷ 17, Chùa Đậu lại kết tinh một đỉnh cao tu chứng của Thiền tông Việt Nam qua hai vị Thiền sư Vũ Khắc Minh (pháp hiệu Đạo Chân) và Thiền sư Vũ Khắc Trường (pháp hiệu Đạo Tâm). Theo truyền thuyết tại thôn Gia Phúc và hồ sơ Bảo vật quốc gia, hai ngài vốn là hai chú cháu ruột người làng Gia Phúc nối nhau trụ trì Chùa Đậu dưới thời Lê Trung hưng (khoảng niên hiệu Dương Hòa, 1635 - 1643). Vào khoảng năm 1638 - 1639, Thiền sư Vũ Khắc Minh bước vào một am nhỏ phía sau chùa để nhập thất (tịnh cốc) một trăm ngày với một chum nước và một chum dầu thắp đèn. Ngài dặn đệ tử rằng khi nào tiếng mõ và tiếng tụng kinh trong am dứt hẳn, đợi đủ một trăm ngày hãy mở cửa: nếu thi hài hư hoại thì lấy đất lấp am lại, còn nếu nguyên vẹn thì dùng sơn ta quang dầu phủ bên ngoài để lưu lại cho hậu thế. Khi mở cửa am, nhục thân của ngài vẫn ngồi kiết già bất động, nhẹ tênh và không hề mục rữa. Người cháu kế nghiệp trụ trì là Thiền sư Vũ Khắc Trường về sau cũng viên tịch và để lại nhục thân bất hoại theo đúng pháp môn tượng táng ấy.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người khi nghe nói đến hai pho tượng cổ của Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường thường nghĩ đây là kỹ thuật ướp xác bằng hóa chất giống như xác ướp Ai Cập cổ đại (phải mổ lấy nội tạng và ngâm hương liệu). Kết quả chụp X-quang và kiểm tra nhân trắc học nhiều lần của các nhà khoa học Việt Nam (đứng đầu là Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Lân Cường cùng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia năm 1983, 1999 và 2016) đã chứng minh điều ngược lại hoàn toàn: bên trong hai pho tượng là toàn bộ bộ xương người thật còn nguyên vẹn khớp nối tự nhiên, trên hộp sọ không có bất kỳ vết đục nào và không hề có dấu vết mổ xẻ lấy nội tạng. Đây là phương pháp tượng táng (toàn thân xá lợi) độc đáo của các bậc chân tu Phật giáo phương Đông: trước khi viên tịch, vị thiền sư thực hành chế độ tiết thực nghiêm ngặt (chỉ ăn rau củ thanh đạm rồi giảm dần đến chỉ uống nước trắng) kết hợp công phu thiền định cao sâu để tiêu trừ hết mỡ và tạp chất trong cơ thể, sau khi viên tịch các đệ tử mới dùng bột gỗ hoàng đàn, đất sét tinh khiết và nhiều lớp sơn ta, vải màn quang dầu bọc kín bên ngoài để cách tuyệt không khí.

IIGần Hai Thiên Niên Kỷ Từ Thời Sĩ Nhiếp Đến Quốc Tự Thời Lê - Trịnh Và Bảo Vật Quốc Gia

Từ một ngôi đền - chùa cổ thờ thần Mưa Pháp Vũ những thế kỷ đầu Công nguyên, Chùa Đậu đã trải qua các đợt mở mang lớn dưới triều Lý, triều Trần, triều Mạc và đạt tới quy mô lộng lẫy của một ngôi Quốc Tự vào thế kỷ 17 dưới triều vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng.

Theo sử liệu

Khi đối chiếu các văn bia cổ tại chùa (tiêu biểu là tấm bia đá dựng năm Dương Hòa thứ 5 tức 1639 đời vua Lê Thần Tông do Tiến sĩ Bùi Bỉnh Quân soạn văn bia, cùng bia thời Mạc năm Sùng Khang thứ 6 tức 1571), thư viện ghi nhận rõ các mốc trùng tu hoàng gia và điểm khác biệt nhỏ về tên gọi vị cung tần hội chủ. Dưới thời nhà Mạc (thế kỷ 16), các thái hoàng thái hậu, vương hầu nhà Mạc đã cung tiến nhiều tiền của để trùng tu chùa và để lại hệ thống bệ gạch men hoa thời Mạc đặc sắc. Sang thời Lê Trung hưng, vào năm Đức Long thứ 7 (1635), vua Lê Thần Tông cùng chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng và bậc cung tần trong vương phủ (một số nguồn dịch văn bia chép là Cung tần Ngô Thị Ngọc Nguyên, trong khi một số tài liệu khác chép là Ngô Thị Ngọc Loan, người có duyên lành sinh hạ thế tử sau khi cầu tự tại chùa) đã đứng làm đại thí chủ khởi công đại trùng tu Chùa Đậu quy mô hơn một trăm gian, sắc phong là Đệ nhất danh lam và tôn làm Quốc Tự.

Về mặt pháp lý di sản hiện đại, Chùa Đậu được Bộ Văn hóa xếp hạng Di tích lịch sử và nghệ thuật cấp quốc gia (loại A) từ năm 1964. Ngày 22 tháng 12 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2496/QĐ-TTg chính thức công nhận bộ đôi Tượng Thiền sư Vũ Khắc Minh và Tượng Thiền sư Vũ Khắc Trường tại Chùa Đậu là Bảo vật quốc gia (đợt 5). Về cấp xếp hạng di tích của ngôi chùa, năm 2016 ngành văn hóa Hà Nội từng lập danh mục đề xuất xem xét nâng cấp hồ sơ một số di tích lên cấp quốc gia đặc biệt, hiện tại trên hệ thống quản lý di sản quốc gia Chùa Đậu là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia lưu giữ Bảo vật quốc gia. Về địa giới hành chính sau Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xã Nguyễn Trãi cùng các xã Tân Minh, Dũng Tiến, Quất Động và Nghiêm Xuyên của huyện Thường Tín cũ đã được sáp nhập để thành lập xã Thượng Phúc mới thuộc thành phố Hà Nội (khôi phục lại địa danh phủ/huyện Thượng Phúc cổ kính trong lịch sử).

  • Thế kỷ 3Khởi dựng Pháp Vũ Tự thờ Bà Đậu
    Theo truyền thuyết Tứ Pháp và sách Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục, ngôi chùa hình thành từ thế kỷ thứ 3 thời Sĩ Nhiếp để rước pho tượng gỗ Đức Pháp Vũ (thần Mưa) từ Luy Lâu về thờ bên sông Nhuệ.
  • Thế kỷ 11 - 14Trùng tu thời Lý - Trần và tạc đôi rồng đá bậc thềm
    Các vị vua triều Lý và triều Trần thường xuyên đến cầu đảo và mở rộng chùa, lưu lại đôi rồng đá lớn chạm khắc tinh xảo trước bậc thềm Tiền đường.
  • 1571Tôn tạo dưới triều Mạc và dựng bia năm Sùng Khang thứ 6
    Hoàng thất nhà Mạc hưng công tu bổ chùa, dựng bia đá năm Sùng Khang thứ 6 (1571) và tạo tác hệ thống gạch đất nung tráng men hoa lam, men ngọc đặc trưng thời Mạc.
  • 1635 - 1639Đại trùng tu thời Lê - Trịnh, tôn làm Quốc Tự và Thiền sư Vũ Khắc Minh viên tịch
    Năm Đức Long thứ 7 (1635), vua Lê Thần Tông, chúa Trịnh Tráng và cung tần Ngô Thị Ngọc Nguyên (Ngọc Loan) đại trùng tu chùa, dựng bia năm Dương Hòa thứ 5 (1639). Cùng giai đoạn này (khoảng 1638 - 1639), Thiền sư Vũ Khắc Minh và kế tiếp là Thiền sư Vũ Khắc Trường viên tịch để lại hai pho tượng nhục thân.
  • 1964Xếp hạng Di tích lịch sử và nghệ thuật cấp quốc gia loại A
    Bộ Văn hóa ban hành quyết định xếp hạng Chùa Đậu (Thành Đạo Tự) là Di tích lịch sử và nghệ thuật cấp quốc gia loại A.
  • 2016Công nhận Bảo vật quốc gia hai pho tượng nhục thân
    Ngày 22 tháng 12 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2496/QĐ-TTg công nhận Tượng Thiền sư Vũ Khắc Minh và Tượng Thiền sư Vũ Khắc Trường là Bảo vật quốc gia đợt 5.
  • 2025Thuộc xã Thượng Phúc mới của thành phố Hà Nội
    Theo Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 ngày 16 tháng 6 năm 2025, xã Nguyễn Trãi cũ hợp nhất cùng các xã Tân Minh, Dũng Tiến, Quất Động, Nghiêm Xuyên thành xã Thượng Phúc thuộc thành phố Hà Nội.

IIIKiến Trúc Nội Công Ngoại Quốc, Tượng Pháp Vũ Và Bảo Vật Quốc Gia Hai Tượng Nhục Thân

Kiến trúc tổng thể của Chùa Đậu được quy hoạch theo thức nội công ngoại quốc (內工外國) quy chuẩn của những ngôi đại tự hoàng gia thế kỷ 17. Đi từ ngoài vào trong là tòa Tam quan kiêm Gác chuông dựng theo lối chồng diêm hai tầng tám mái với những đầu đao uốn cong thanh thoát như cánh phượng. Trên tầng lầu gác chuông treo quả đại hồng chung đúc năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1801) và chiếc khánh gỗ sơn son thếp vàng. Qua sân gạch rộng là cụm kiến trúc trung tâm hình chữ Công gồm Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện, bao bọc hai bên bởi hai dãy hành lang dài nối xuống khu Hậu đường và hai tòa am tháp (Nhà Tổ) ở phía sau.

Tại chính giữa Thượng điện, đặt trong cung cấm thâm nghiêm với những bức cửa võng chạm rồng phượng lộng lẫy thời Lê Trung hưng là pho tượng Đức Pháp Vũ (Bà Đậu) cao gần hai mét. Tượng tạc dáng một người phụ nữ Việt Nam quyền quý mà từ bi ngồi trên tòa sen lớn, nước da màu mận chín (nâu sẫm huyền bí đặc trưng của tượng Tứ Pháp), gương mặt đầy đặn, đôi mắt khép hờ nhìn xuống chúng sinh, tay phải giơ lên kết ấn thuyết pháp và làm mưa cứu độ muôn loài.

Thông số khoa học của Bảo vật quốc gia hai pho tượng nhục thân và cổ vật bốn triều đại

Phía sau khu chính điện là hai ngôi tháp gạch cổ kính (còn gọi là Nhà Tổ hoặc Am Nhục Thân), nơi tôn trí Bảo vật quốc gia Tượng Thiền sư Vũ Khắc Minh và Tượng Thiền sư Vũ Khắc Trường trong lồng kính bảo quản đặc biệt có kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm. Theo hồ sơ Bảo vật quốc gia của Cục Di sản văn hóa (dsvh.gov.vn) và biên bản trùng tu khoa học năm 1999 của PGS.TS Nguyễn Lân Cường: pho tượng nhục thân Thiền sư Vũ Khắc Minh có chiều cao ở tư thế ngồi thiền là 57 cm đến 58,5 cm, trọng lượng vô cùng nhẹ chỉ khoảng 7 kg đến 7,5 kg, đầu hơi cúi về phía trước, tay trái đặt lên lòng bàn tay phải kết ấn tam muội, sống mũi cao, đôi môi khép nhẹ và dưới cằm vẫn còn lưu lại những sợi râu thật của ngài. Pho tượng nhục thân Thiền sư Vũ Khắc Trường có dáng ngồi cao hơn một chút (khoảng 63 cm đến 75 cm tính cả lớp bệ bồi), từng bị nước lũ sông Nhuệ ngấm làm bong tróc lớp sơn ngoài vào thế kỷ 20 nên nặng khoảng 11,5 kg đến 12 kg sau khi được các nhà khoa học phục chế bằng chất liệu sơn ta truyền thống.

Bên cạnh hai pho tượng nhục thân độc nhất vô nhị, Chùa Đậu còn là một bảo tàng điêu khắc đá và gốm qua bốn triều đại Trần, Lê, Mạc, Nguyễn: trước thềm Tiền đường là đôi rồng đá thời Trần dài hơn hai mét chạm khắc nguyên khối với thân tròn mập, vảy lớn và bờm bay khỏe khoắn, trong chùa còn lưu giữ các viên gạch đất nung tráng men thời Mạc chạm nổi hình rồng, phượng, hoa sen cùng hàng chục tấm bia đá cổ từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19.

Bảo vật quốc gia hai pho tượng nhục thân Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường

Hai pho toàn thân xá lợi thế kỷ 17 được công nhận Bảo vật quốc gia năm 2016: tượng Thiền sư Vũ Khắc Minh cao khoảng 58 cm, nặng hơn 7 kg, tượng Thiền sư Vũ Khắc Trường cao khoảng 63 - 75 cm, bên trong nguyên vẹn bộ xương người thật trong tư thế thiền định.

Pho tượng Đức Pháp Vũ (Bà Đậu) tại Thượng điện

Pho tượng gỗ lớn cao gần 2 m sơn màu mận chín huyền bí ngự trên tòa sen trong Thượng điện, biểu trưng cho vị Thần Mưa trong hệ thống Tứ Pháp cổ truyền Việt Nam.

Đôi rồng đá thời Trần trước bậc thềm Tiền đường

Hai thành bậc đá xanh nguyên khối thời Trần (thế kỷ 13 - 14) chạm hình rồng uốn khúc từ trên xuống dưới, đầu ngẩng cao ngậm ngọc, minh chứng cho lịch sử lâu đời của Pháp Vũ Tự từ thời Lý - Trần.

Tam quan Gác chuông hai tầng tám mái và hệ thống mảng chạm gỗ thời Lê

Công trình gỗ chồng diêm 2 tầng 8 mái đao cong vút bằng gỗ lim, cùng các bức cốn, đầu dư, cửa võng trong Thượng điện chạm lộng tứ linh, tứ quý mang đỉnh cao điêu khắc cung đình thời Lê Trung hưng (1635).

Hệ thống gạch men hoa thời Mạc và văn bia đá thế kỷ 16 - 19

Bộ sưu tập gạch đất nung tráng men chạm nổi hoa sen, linh thú thời Mạc cùng các tấm bia đá lớn lập năm Sùng Khang thứ 6 (1571) và Dương Hòa thứ 5 (1639).

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền trên thực địa thôn Gia Phúc bên dòng sông Nhuệ, không phải điều chép sẵn trong văn bia của chùa. Chúng tôi nói rõ để quý vị phân biệt được giữa tư liệu lịch sử và kiến giải địa lý phong thủy.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ thủy văn và địa hình đồng bằng phía nam kinh thành Thăng Long ở tọa độ 20,85240 độ vĩ Bắc và 105,85820 độ kinh Đông, Chùa Đậu tọa lạc trên một dải đất cao ráo hình mu rùa thuộc thôn Gia Phúc, nằm ngay bên bờ tả ngạn (bờ đông) của dòng sông Nhuệ cổ. Trong phong thủy châu thổ Bắc Bộ, nơi không có núi cao điệp trùng thì thủy pháp (dòng sông và hồ đầm) đóng vai trò dẫn mạch và tụ khí tối thượng: dòng sông Nhuệ (Nhuệ Giang) lấy nước từ sông Hồng chảy uốn lượn mềm mại qua đất Thượng Phúc như một dải ngọc đái thủy (nước thắt lưng ngọc) ôm lấy khu đất chùa. Đặc biệt, bản tôn của Chùa Đậu là Đức Pháp Vũ (Thần Mưa, thuộc hành Thủy), nên việc đặt ngôi chùa ngay sát bờ sông Nhuệ và đào hồ nước lớn phía trước Tam quan đã tạo nên thế Thủy khí tương thông, giúp ngôi chùa trở thành linh địa cầu mưa bậc nhất của các triều đại phong kiến.

Về sơn hướng và bố cục nội cục, trục thần đạo của Chùa Đậu (từ Tam quan Gác chuông qua Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện đến hai am tháp Nhục Thân) tọa Bắc hơi chếch Đông, mặt chính mở về hướng Nam hơi chếch Tây (tọa Quý hướng Đinh hoặc tọa Sửu hướng Mùi theo địa bàn thực tế), hướng thẳng ra hồ nước lớn phía trước làm Nội minh đường và xa hơn là dòng sông Nhuệ làm Ngoại minh đường. Hướng Nam là hướng Đế vương trong dịch lý (Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ), hoàn toàn tương xứng với vị thế một ngôi Quốc Tự do vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng kiến tạo. Hai bên tả hữu có hai dãy hành lang dài cùng lũy tre và cây cổ thụ làng Gia Phúc bao bọc kín đáo theo thế Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ, còn khu đất cao phía sau lưng Thượng điện là nơi kết tụ tĩnh khí sâu lắng nhất để dựng hai tòa tháp gạch lưu giữ nhục thân bất hoại của hai vị Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường suốt gần bốn thế kỷ.

VĐại Lễ Hội Chùa Đậu Và Nghi Thức Rước Nước, Cầu Đảo Cổ Truyền

Lễ hội Chùa Đậu là một trong những đại lễ hội Phật giáo và nông nghiệp lớn nhất vùng nam Hà Nội, tái hiện truyền thống rước kiệu Tứ Pháp, lễ vua chúa trẩy hội Quốc Tự và lòng thành kính đối với hai vị Tổ sư để lại toàn thân xá lợi.

Các kỳ lễ hội và sinh hoạt tâm linh chính trong năm tại Chùa Đậu (xã Thượng Phúc, thành phố Hà Nội). Nguồn: Tổng hợp từ Ban Quản lý Di tích Chùa Đậu và hồ sơ lễ hội truyền thống huyện Thường Tín cũ..
Thời gian âm lịchTên kỳ lễNghi thức và hoạt động văn hóa tiêu biểu
Mùng 8 đến mùng 10 tháng GiêngĐại lễ hội xuân Chùa ĐậuLễ rước kiệu của các thôn trong vùng Gia Phúc - Thượng Phúc về chùa, lễ rước nước từ sông Nhuệ, tế lễ Đức Pháp Vũ (Bà Đậu), dâng hương tại am tháp hai vị Thiền sư họ Vũ và múa rồng, hát văn.
Ngày mùng 8 tháng 4 âm lịchLễ vía Đức Phật Đản sinh và Lễ hội Tứ Pháp cầu mưaNghi thức tắm Phật, tụng kinh cầu mưa thuận gió hòa cho vụ mùa mới theo truyền thống thờ Tứ Pháp từ thời cổ đại.
Mùa thu và ngày kỵ hai vị Tổ sư họ VũLễ tưởng niệm Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc TrườngChư tăng và nhân dân làng Gia Phúc cử hành lễ cúng Tổ trang nghiêm tại hai tòa am tháp phía sau Thượng điện.
Trước các kỳ thi lớn trong nămTục cầu học hành đỗ đạt (cầu Đậu)Truyền thống văn hóa của sĩ tử vùng đất khoa bảng Thượng Phúc - Thường Tín (quê hương Nguyễn Trãi và 68 vị đại khoa) đến Chùa Đậu dâng hương cầu trí tuệ và thi cử đỗ đạt.

Vùng đất Thượng Phúc - Thường Tín xưa vốn nổi tiếng là đất trăm nghề và đất danh hương khoa bảng với 68 vị Tiến sĩ nho học, bởi vậy bên cạnh ý nghĩa cầu mưa của cư dân trồng lúa, chữ Đậu trong tên Chùa Đậu còn trở thành điểm tựa tinh thần cho biết bao thế hệ học trò đến chiêm bái trước mỗi mùa thi.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn Gia Phúc, xã Thượng Phúc (xã Nguyễn Trãi cũ, huyện Thường Tín cũ), thành phố Hà Nội
Đường tới
Từ trung tâm thành phố Hà Nội, quý vị đi theo Quốc lộ 1A cũ (hoặc đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ rẽ ra nút giao Thường Tín) về phía nam khoảng 24 cây số tới địa phận xã Thượng Phúc (huyện Thường Tín cũ), từ Quốc lộ 1A rẽ phải về phía tây qua cầu sông Nhuệ khoảng 2 cây số là tới thôn Gia Phúc và Chùa Đậu.
Toạ độ
20.8524, 105.8582
Khi tới nơi

Khi tới chiêm bái Chùa Đậu và đảnh lễ tại hai tòa am tháp lưu giữ Bảo vật quốc gia tượng nhục thân Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường, quý vị xin đi nhẹ bước, nói khẽ và giữ tâm thanh tịnh. Hai pho toàn thân xá lợi gần bốn trăm năm tuổi được bảo quản nghiêm ngặt trong lồng kính, xin quý vị không dùng đèn nháy (flash) máy ảnh chiếu trực tiếp vào tượng, không chạm tay lên đôi rồng đá thời Trần và các mảng chạm gỗ cổ tại Thượng điện.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Đậu

Contribute photos, information or video for Đậu Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Đậu thờ ai và vì sao ngôi chùa từng được gọi là Quốc Tự?

Chùa Đậu (Thành Đạo Tự / Pháp Vũ Tự) thờ chính là Đức Pháp Vũ (Bà Đậu, tức Thần Mưa trong hệ thống Tứ Pháp cổ truyền Việt Nam) cùng hệ thống tượng Phật Tam Bảo và hai vị Tổ sư Vũ Khắc Minh, Vũ Khắc Trường. Dưới triều vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng (năm 1635), do triều đình trực tiếp đứng ra đại trùng tu quy mô lớn và thường xuyên đến cầu đảo nên chùa được tôn làm Quốc Tự và Đệ nhất danh lam.

Hai pho tượng nhục thân ở Chùa Đậu là của ai và được công nhận Bảo vật quốc gia năm nào?

Đó là hai pho tượng nhục thân (toàn thân xá lợi) của hai chú cháu vị trụ trì Chùa Đậu thế kỷ 17 là Thiền sư Vũ Khắc Minh (pháp hiệu Đạo Chân, viên tịch khoảng năm 1638 - 1639) và Thiền sư Vũ Khắc Trường (pháp hiệu Đạo Tâm). Ngày 22 tháng 12 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2496/QĐ-TTg công nhận hai pho tượng này là Bảo vật quốc gia.

Vì sao thi hài hai vị Thiền sư ở Chùa Đậu tồn tại gần 400 năm mà không dùng hóa chất ướp xác?

Kết quả chụp X-quang của các nhà khoa học xác nhận bên trong hai pho tượng là bộ xương người thật còn nguyên vẹn, không hề có vết đục hộp sọ hay mổ lấy nội tạng. Hai vị thiền sư đã thực hành phép tịnh cốc tiết thực (nhịn ăn dần, chỉ uống nước và ngồi thiền định suốt 100 ngày trong am kín) để cơ thể tự tiêu hết mỡ và nước, sau khi viên tịch các đệ tử mới dùng sơn ta, bột gỗ thơm và vải màn quang dầu bọc kín bên ngoài.

Ngoài hai pho tượng nhục thân, Chùa Đậu còn lưu giữ những cổ vật quý giá nào?

Chùa Đậu hiện lưu giữ pho tượng gỗ Đức Pháp Vũ cao gần 2 mét tại Thượng điện, đôi rồng đá lớn chạm nguyên khối từ thời Trần (thế kỷ 13 - 14) trước bậc thềm Tiền đường, bộ sưu tập gạch đất nung tráng men hoa thời Mạc (thế kỷ 16), các tấm bia đá cổ năm 1571 và 1639 cùng tòa Tam quan Gác chuông gỗ lim hai tầng tám mái.

Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, Chùa Đậu thuộc xã nào của Hà Nội?

Trước tháng 7 năm 2025, Chùa Đậu thuộc thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Theo Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xã Nguyễn Trãi hợp nhất cùng các xã Tân Minh, Dũng Tiến, Quất Động và Nghiêm Xuyên thành xã Thượng Phúc trực thuộc thành phố Hà Nội.

›Đọc Tiếp