VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Liên Phái

Liên Phái Tự, Liên Tông Tự, Liên Hoa Tự

Tổ đình khai sơn của dòng Thiền Liên Tông ở Đàng Ngoài, nơi vị vương tôn nhà chúa Trịnh rũ bỏ vinh hoa phủ đệ năm 1726 để lập đạo tràng trên gò đất ẩn ngó sen thiêng.

Khởi dựng
1726
Lân Giác Thượng Sĩ Trịnh Thập khai sơn
Bảo tháp cổ
1733
Tháp đá Cứu Sinh và tháp Diệu Quang 10 tầng
Xếp hạng
Di tích quốc gia
Quyết định số 313-VH/VP ngày 28/04/1962

Rẽ khỏi nhịp xe cộ tấp nập của phố Bạch Mai vào con ngõ nhỏ mang tên Liên Phái thuộc phường Bạch Mai, thành phố Hà Nội, người bộ hành như bước qua một cánh cửa thời gian để tiến vào khoảng sân chùa tĩnh lặng. Ngay trước Tiền đường, giữa hồ nước hình chữ nhật thả sen súng thanh khiết, một ngọn bảo tháp lục giác cao mười tầng mang tên Diệu Quang vươn thẳng lên bầu trời như một tòa Cửu Phẩm Liên Hoa bằng đá và gạch cổ kính. Phía sau chính điện, dưới bóng cây đại già trong khu vườn tháp hậu viên, ngôi tháp đá Cứu Sinh xây từ năm Long Đức thứ 2 (1733) vẫn đứng trầm mặc suốt gần ba thế kỷ. Đó là Chùa Liên Phái, chốn tổ đình duy nhất của dòng Thiền Liên Tông giữa lòng kinh thành Thăng Long.

Khác với những ngôi chùa do triều đình ban chiếu lập nên để cầu phúc hay những ngôi chùa làng do dân xã chung sức đắp dựng, Chùa Liên Phái ra đời từ một cuộc cải gia vi tự (biến phủ đệ riêng thành chùa thờ Phật) chấn động kinh kỳ đầu thế kỷ 18. Chủ nhân của phủ đệ ấy là ông hoàng Trịnh Thập, cháu nội chúa Trịnh Căn, em ruột chúa đương quyền Trịnh Cương và là phò mã của vua Lê Hy Tông, người đã tự nguyện cắt tóc xuất gia ở tuổi ngoài đôi mươi để khai mở một dòng thiền thuần Việt.

ILân Giác Thượng Sĩ Trịnh Thập Và Tổ Đình Thiền Phái Liên Tông

Chùa Liên Phái tọa lạc tại số 184 phố Bạch Mai (cuối ngõ Liên Phái), thuộc địa bàn phường Bạch Mai, thành phố Hà Nội (trước đây thuộc phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng cũ, sau đợt sắp xếp theo Nghị quyết số 1286/NQ-UBTVQH15 và tiếp đó là Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, khu vực phố Bạch Mai này thuộc phường Bạch Mai mới). Vào đầu thế kỷ 18 dưới thời Lê Trung hưng, vùng đất phía nam kinh thành Thăng Long này thuộc phường Hồng Mai (tục gọi là Kẻ Mơ), huyện Thanh Trì, là nơi đặt nhiều dinh thự và thái ấp của các bậc vương thân quốc thích nhà Lê - Trịnh.

Người khai sơn ngôi chùa là Trịnh Thập (1696 - 1733), con trai của Tấn Quang Vương Trịnh Bính, cháu nội của Định Nam Vương Trịnh Căn (1633 - 1709) và là em ruột của An Đô Vương Trịnh Cương (chúa Trịnh cầm quyền từ năm 1709 đến năm 1729). Không chỉ mang dòng máu tôn thất phủ chúa và được phong tước Thập Quận công giữ chức Đề đốc có phủ đệ riêng tại phường Hồng Mai, Trịnh Thập còn kết duyên cùng công chúa Lê Thị Ngọc Nhi (con gái vua Lê Hy Tông), trở thành bậc phò mã cao quý bậc nhất triều đình. Thế nhưng, sau biến cố người vợ hiền qua đời sớm và chứng kiến những vô thường nơi quyền trường, vị vương tôn trẻ tuổi đã sớm hướng tâm về kinh điển Phật Đà.

Theo giáo nghĩa

Trong lịch sử Phật giáo Đàng Ngoài thế kỷ 17 - 18, khi dòng Thiền Lâm Tế được Thiền sư Chuyết Chuyết (1590 - 1644) và Thiền sư Minh Hành (1596 - 1659) truyền vào chùa Phật Tích và chùa Bút Tháp rồi được Quốc sư Chân Nguyên Tuệ Đăng (1647 - 1726) Việt hóa sâu sắc trên nền tảng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Trịnh Thập đã tìm đến cầu đạo với Quốc sư Chân Nguyên và ngộ được tâm ấn. Sau khi xuất gia với pháp danh Hải Quý, pháp hiệu Như Trừng Lân Giác, được tôn xưng là Lân Giác Thượng Sĩ (nối tiếp truyền thống Thượng Sĩ Tuệ Trung thời Trần), ngài đã khai sáng ra Thiền phái Liên Tông (蓮宗) lấy Chùa Liên Tông (nay là Chùa Liên Phái) làm Tổ đình.

Đặc trưng giáo nghĩa của Thiền phái Liên Tông do Tổ Lân Giác xác lập là tư tưởng Thiền - Tịnh - Mật tam hợp gắn liền với giới luật thanh tịnh và lòng từ bi cứu vật độ sinh: lấy công phu tham thiền quán tâm của phái Lâm Tế làm cốt tủy, lấy pháp môn niệm Phật cầu sinh Tịnh Độ Cực Lạc (biểu trưng bằng đóa hoa sen Liên Tông) làm phương tiện nhiếp hóa đại chúng, và lấy Mật chú làm trợ duyên hộ trì. Dòng Thiền Liên Tông vì thế mang đậm bản sắc Phật giáo Việt Nam, thu hút hàng nghìn tăng ni và cư sĩ khắp vùng châu thổ Bắc Bộ quy ngưỡng.

Theo sử liệu

Sự kiện khởi dựng chùa được ghi chép thống nhất trong bộ Liên Tông bản hạnh, văn bia cổ tại chùa và sách Đại Nam nhất thống chí. Vào năm Bính Ngọ, niên hiệu Bảo Thái thứ 7 (1726) đời vua Lê Dụ Tông, khi Thập Quận công Trịnh Thập sai gia nhân đào đất ở gò cao phía sau phủ đệ tại phường Hồng Mai để đắp hòn non bộ và mở hồ nước, người làm bất ngờ đào được một củ ngó sen lớn sắc hồng ánh vàng nằm sâu trong lòng gò đất khô. Thấy điềm lành ứng hiện đúng lúc tâm nguyện xuất trần đã chín muồi, Trịnh Thập liền đem toàn bộ tòa phủ đệ của mình sửa thành chùa thờ Phật, đặt tên là Liên Hoa Tự (Chùa Hoa Sen), rồi chính thức thế phát xuất gia ngay tại chùa vào năm 1726.

Năm Quý Sửu, niên hiệu Long Đức thứ 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông, Lân Giác Thượng Sĩ viên tịch ở tuổi 38 (tính theo tuổi mụ, thọ 37 năm dương lịch 1696 - 1733). Sau khi ngài nhập tháp, các đệ tử đổi tên chùa từ Liên Hoa Tự thành Liên Tông Tự (蓮宗寺) để tôn vinh chốn tổ của dòng Thiền Liên Tông. Hơn một thế kỷ sau, vào năm Canh Tý (1840), khi vua Thiệu Trị nhà Nguyễn (tên húy là Nguyễn Phúc Miên Tông) lên ngôi, vì phải kiêng chữ Tông trong tên húy nhà vua, triều đình bắt đổi tên dòng thiền và tên chùa thành Liên Phái Tự (蓮派寺), danh xưng giữ nguyên cho tới ngày nay.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người khi nghe tên Thiền phái Liên Tông thường lầm tưởng đây chính là Tịnh Độ Tông (Liên Tông do Tổ Huệ Viễn lập ở núi Lư Sơn bên Trung Hoa chuyên trì niệm danh hiệu Phật A Di Đà). Thực tế, Liên Tông ở Chùa Liên Phái là một nhánh Thiền tông chính thống của Việt Nam tách ra từ thế hệ thứ 36 dòng Thiền Lâm Tế Đàng Ngoài (sau Tổ Chân Nguyên Tuệ Đăng), có kệ truyền thừa pháp phái riêng biệt truyền qua mười thế hệ tổ sư tại Hà Nội và vùng phụ cận (từ Tổ Đệ nhất Như Trừng Lân Giác đến Tổ Đệ nhị Tính Quảng Từ Phong, Tổ Đệ tam Hải Quý Bảo Chân...). Chữ Liên ở đây vừa bắt nguồn từ sự tích đào được ngó sen tại gò Hồng Mai năm 1726, vừa biểu trưng cho tâm thể thanh tịnh vượt thoát bùn nhơ của người tu thiền giữa chốn phồn hoa.

IIBa Trăm Năm Lịch Sử Của Chốn Tổ Liên Phái

Sau khi Đệ nhất Tổ Lân Giác Thượng Sĩ Trịnh Thập viên tịch năm 1733, sự nghiệp hoằng dương dòng Thiền Liên Tông tại Chùa Liên Phái được kế thừa bởi một nhân vật kiệt xuất khác cũng xuất thân từ hoàng tộc phủ chúa là Đệ nhị Tổ Từ Phong Hòa thượng (pháp danh Tính Quảng, vốn là con trai của chúa Trịnh Cương, tức cháu gọi Tổ Lân Giác bằng chú ruột). Noi gương chú mình từ bỏ lầu son gác tía để xuất gia tu đạo, Tổ Từ Phong đã cho mở rộng quy mô Chùa Liên Tông, dựng thêm gác chuông, tạc tượng, khắc ván kinh và xây dựng khu vườn tháp cổ phía sau chùa thành một trung tâm đào tạo tăng tài lớn bậc nhất kinh thành Thăng Long nửa cuối thế kỷ 18.

Sang thế kỷ 19 dưới triều Nguyễn, dù kinh đô đã chuyển vào Phú Xuân (Huế), Chùa Liên Phái vẫn được các vị cao tăng kế đăng và giới quý tộc quan lại Bắc Hà hết lòng hộ trì. Vào các năm Tự Đức thứ 8 (1855), Tự Đức thứ 23 (1870) và cuối thế kỷ 19, chùa trải qua các đợt đại trùng tu lớn, hoàn thiện mặt bằng kiến trúc kiểu tiền chữ Nhị hậu chữ Đinh và trùng tu tôn tạo ngôi bảo tháp 10 tầng Diệu Quang ngay trước sân chùa.

  • 1726Đào thấy ngó sen và cải phủ đệ thành Liên Hoa Tự
    Năm Bảo Thái thứ 7 (1726) đời vua Lê Dụ Tông, Thập Quận công Trịnh Thập đào gò đất sau phủ đệ tại phường Hồng Mai thấy ngó sen lạ, bèn biến phủ đệ thành chùa Liên Hoa và xuất gia lấy hiệu Như Trừng Lân Giác.
  • 1733Tổ Lân Giác viên tịch, dựng tháp đá Cứu Sinh và đổi tên Liên Tông Tự
    Tháng Hai năm Long Đức thứ 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông, Lân Giác Thượng Sĩ viên tịch, đệ tử xây ngôi tháp đá Cứu Sinh ở vườn sau để táng xá lợi ngài và đổi tên chùa thành Liên Tông Tự.
  • Giữa thế kỷ 18Đệ nhị Tổ Từ Phong mở rộng quy mô Tổ đình
    Hòa thượng Tính Quảng Từ Phong (con trai chúa Trịnh Cương) kế vị trụ trì, cho mở rộng điện Phật, khắc in kinh sách và phát triển dòng Thiền Liên Tông khắp vùng Bắc Bộ.
  • 1840Đổi tên thành Chùa Liên Phái vì kỵ húy vua Thiệu Trị
    Năm Canh Tý (1840), khi vua Thiệu Trị (Nguyễn Phúc Miên Tông) lên ngôi, để kiêng chữ Tông trong tên húy nhà vua, chùa Liên Tông và phái Liên Tông được đổi tên thành Liên Phái.
  • 1855 - 1890Các đợt đại trùng tu thời Nguyễn và tôn tạo tháp Diệu Quang
    Dưới triều vua Tự Đức đến Thành Thái, chùa được trùng tu lớn khu Tiền đường, Thượng điện, Nhà Tổ và hoàn thiện kiến trúc bảo tháp Diệu Quang 10 tầng trước sân.
  • 1962Xếp hạng Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia
    Ngày 28 tháng 4 năm 1962, Bộ Văn hóa ban hành Quyết định số 313-VH/VP xếp hạng Chùa Liên Phái là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngay trong đợt đầu tiên.
Theo sử liệu

Hệ thống văn bia Hán Nôm và mộc bản hiện còn lưu giữ tại Chùa Liên Phái (đã được Viện Nghiên cứu Hán Nôm dập thác bản và dịch chú) là nguồn sử liệu vô giá phản ánh lịch sử Phật giáo Thăng Long thế kỷ 18 - 19. Nổi bật nhất là các tấm bia đá khắc bài minh văn kể rõ thân thế tôn thất của Lân Giác Thượng Sĩ Trịnh Thập, bài ký về việc lập đàn tràng cầu siêu và phóng sinh muôn loài (nguồn gốc tên tháp Cứu Sinh), cùng danh sách các vị tổ sư kế truyền pháp mạch Liên Tông. Qua văn bia, các nhà sử học xác nhận được chính xác từng chi tiết về phả hệ nhà chúa Trịnh cũng như sự chuyển hóa từ một vương phủ Đàng Ngoài thành một tùng lâm Phật giáo.

IIITháp Cửu Phẩm Liên Hoa Diệu Quang, Tháp Đá Cứu Sinh Và Vườn Tháp Tổ

Dù diện tích tổng thể ngày nay đã thu hẹp hơn so với quy mô phủ đệ kiêm tùng lâm rộng hàng mẫu đất của thế kỷ 18 do quá trình đô thị hóa khu vực Bạch Mai, Chùa Liên Phái vẫn bảo tồn được trục kiến trúc cổ truyền thâm nghiêm gồm Tam quan - Gác chuông, Sân trước và hồ nước bảo tháp Diệu Quang, cụm Tam Bảo (Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện), Nhà Tổ - Điện Mẫu và Khu vườn tháp cổ ở hậu viên. Toàn bộ các nếp nhà gỗ lim lợp ngói ta mang đậm phong cách nghệ thuật kiến trúc thời Lê Trung hưng kết hợp dấu ấn trùng tu thời Nguyễn thế kỷ 19.

Tại tòa Tam Bảo, hệ thống tượng pháp được bài trí trang nghiêm trên các bệ gạch và hương án gỗ chạm trổ hoa sen, tứ linh. Ngoài bộ tượng Tam Thế Phật, Di Đà Tam Tôn, Thích Ca sơ sinh và Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, nét đặc sắc nhất trong hệ thống tượng thờ của Chùa Liên Phái nằm ở khu Nhà Tổ phía sau: tại đây tôn trí pho tượng chân dung Tổ Đệ nhất Như Trừng Lân Giác (Trịnh Thập) cùng tượng các vị Tổ sư kế truyền dòng Liên Tông. Pho tượng Tổ Lân Giác được tạc với gương mặt thanh tú, thông tuệ của một vị vương tôn trẻ tuổi đã giác ngộ, khoác pháp phục thiền gia trang trọng.

Bảo tháp Diệu Quang (Cửu Phẩm Liên Hoa) và Tháp đá Cứu Sinh (1733)

Nhắc đến kiến trúc Chùa Liên Phái là nhắc đến hai công trình bảo tháp tiêu biểu bậc nhất của Phật giáo Hà Nội: Tháp Diệu Quang ở tiền đường và Tháp Cứu Sinh ở hậu viên. Ngay tại trung tâm khoảng sân trước chùa, giữa một hồ nước hình chữ nhật xây gạch tượng trưng cho đầm sen năm xưa, sừng sững ngôi Tháp Diệu Quang có bình đồ hình lục giác (sáu cạnh đều nhau), cao 10 tầng vươn thẳng lên trời xanh, trên đỉnh đặt bầu hồ lô tụ khí. Các tầng tháp thu nhỏ dần từ dưới lên trên với hệ thống diềm mái cong nhẹ và các ô cửa vòm tượng trưng cho tòa Cửu Phẩm Liên Hoa (chín tầng phẩm vị hoa sen Cực Lạc hợp cùng tầng đế và đỉnh thành mười tầng viên mãn) tỏa ánh sáng nhiệm màu (Diệu Quang).

Về niên đại của Tháp Diệu Quang, các tài liệu nghiên cứu ghi nhận hai lớp thông tin cần được đối chiếu rõ: theo truyền thống sơn môn Liên Phái và một số tư liệu lịch sử địa phương, ngôi tháp Cửu Phẩm Liên Hoa trước sân có khởi nguyên từ thời Tổ Lân Giác khởi dựng chùa và lập đàn tràng những năm 1726 - 1733, trong khi các nhà nghiên cứu kiến trúc mỹ thuật (dựa trên vật liệu gạch đá, thức gờ chỉ và văn bia trùng tu tại chùa) xác định kiến trúc tháp Diệu Quang 10 tầng hiện thấy trên mặt đất được dựng lại hoàn chỉnh vào nửa cuối thế kỷ 19 dưới triều Nguyễn (khoảng năm 1890). Thư viện ghi nhận cả hai lớp niên đại khởi nguyên thế kỷ 18 và trùng tu định hình thế kỷ 19.

Nếu Tháp Diệu Quang ở sân trước gây ấn tượng bởi chiều cao thanh thoát thì khu vườn tháp cổ ở hậu viên (phía sau chùa) lại là một bảo tàng kiến trúc tháp mộ có một không hai giữa nội thành Hà Nội với 9 ngôi tháp cổ. Quý giá nhất trong số đó là Tháp Cứu Sinh, nơi an táng xá lợi của Đệ nhất Tổ Lân Giác Thượng Sĩ Trịnh Thập, được dựng ngay sau khi ngài viên tịch vào năm Long Đức thứ 2 (1733). Khác với các ngôi tháp gạch thông thường, Tháp Cứu Sinh được ghép hoàn toàn bằng những phiến đá xanh nguyên khối trên bình đồ hình vuông cao hơn 3 mét, mái tháp uốn cong kiểu mui luyện cổ kính, bên trong đặt bài vị và khám đá, mặt ngoài khắc nổi bốn chữ Hán lớn Cứu Sinh Bảo Tháp (救生寶塔). Đây được giới khảo cổ học xác nhận là ngôi tháp đá cổ nhất còn nguyên vẹn và có niên đại tuyệt đối (1733) trong khu vực nội thành Hà Nội.

Tháp Diệu Quang (Tháp Cửu Phẩm Liên Hoa 10 tầng)

Ngôi bảo tháp hình lục giác cao 10 tầng vươn lên giữa hồ nước trước sân Tiền đường, biểu trưng cho tòa Cửu Phẩm Liên Hoa của dòng Thiền Liên Tông.

Tháp đá Cứu Sinh năm Long Đức thứ 2 (1733)

Ngôi tháp đá xanh hình vuông cổ nhất nội đô Hà Nội xây năm 1733 để táng xá lợi Tổ khai sơn Lân Giác Thượng Sĩ Trịnh Thập, mang tên Cứu Sinh để kỷ niệm hạnh nguyện phóng sinh cứu vật của ngài.

Quần thể vườn tháp Tổ 9 ngôi ở hậu viên

Khu vườn tháp yên tĩnh phía sau chùa quy tụ 9 ngôi tháp đá và gạch cổ của các thế hệ Tổ sư dòng Thiền Liên Tông từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 19 (như tháp Từ Phong, tháp Chân Nguyên...).

Pho tượng chân dung Tổ Lân Giác Thượng Sĩ Trịnh Thập

Pho tượng gỗ sơn son thếp vàng tạc chân dung vị vương tôn nhà Trịnh kiêm Tổ sư khai sơn trong dáng ngồi thiền định thanh thoát đặt tại Nhà Tổ.

Hệ thống bia đá Hán Nôm và chuông đồng cổ

Các tấm bia đá thế kỷ 18 - 19 cùng quả chuông đồng cổ trên gác chuông ghi chép chi tiết lịch sử phủ đệ Trịnh Thập và dòng kệ truyền thừa phái Liên Tông.

Chỗ hay hiểu lầm

Khách tham quan lần đầu tới Chùa Liên Phái thường đứng trước ngôi tháp 10 tầng ngoài sân trước rồi nghĩ đó là tháp mộ của Tổ sư Trịnh Thập. Thực ra, ngôi tháp 10 tầng ngoài sân trước là Tháp Diệu Quang (tháp biểu trưng cho giáo pháp Cửu Phẩm Liên Hoa và ánh sáng trí tuệ Phật Đà, không phải tháp mộ chôn hài cốt), còn nơi thực sự lưu giữ xá lợi của Tổ sư Trịnh Thập là ngôi Tháp đá Cứu Sinh thấp hơn, dáng vuông vức bằng đá xanh trầm mặc nằm ẩn mình trong khu vườn tháp phía sau Nhà Tổ.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay sử liệu của chùa. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu lịch sử và đâu là kiến giải địa lý phong thủy.

Thế đất và hướng

Tại tọa độ 21,00534 độ vĩ Bắc và 105,84884 độ kinh Đông, Chùa Liên Phái tọa lạc trên một gò đất cao cổ (gò Hồng Mai / Bạch Mai) nằm ở phía nam kinh thành Thăng Long xưa. Trong địa hình đồng bằng trũng giàu hồ đầm ở cửa ngõ phía nam kinh thành (nơi có sông Kim Ngưu chảy ở phía đông và hệ thống hồ Bảy Mẫu, hồ Quỳnh, đầm Mơ bao quanh), dải đất dọc trục Bạch Mai chính là một sống đất cao ráo chạy theo hướng Bắc - Nam như một chi long mạch vươn xuống từ trung tâm thành Thăng Long. Chính vì là gò đất cao tụ khí giữa vùng đầm hồ nên các vương tôn công tử nhà chúa Trịnh thế kỷ 18 mới chọn nơi đây để lập phủ đệ, và sự tích đào sâu vào lòng gò đất thấy ngó sen hồng năm 1726 càng củng cố niềm tin của cổ nhân rằng gò đất này có hình thế một búp sen ngậm ngọc (Liên hoa huyệt).

Xét về sơn hướng và bố cục phong thủy nội cục, Chùa Liên Phái quay mặt chính về hướng Tây Nam (hướng Khôn - Thân), lưng tựa về phía Đông Bắc (tọa Cấn - Dần). Để kích hoạt huyệt Hoa Sen (Liên hoa địa) trên gò đất khô và hóa giải sát khí trực xung từ trục đường phía trước, các bậc thiền sư đã thiết kế một hồ nước hình chữ nhật (tụ thủy trì) ngay chính giữa sân trước Tiền đường và dựng ngọn bảo tháp 10 tầng Diệu Quang vươn lên ngay từ mặt nước. Trong phong thủy hình thế, hồ nước giữ vai trò nội minh đường tụ thủy dưỡng sen, còn ngọn tháp lục giác 10 tầng đóng vai trò tháp Văn Xương / bút tháp kiêm trụ tâm của đóa sen đang nở, giúp thu nạp thiên khí xuống mặt nước rồi dẫn truyền êm dịu vào tòa Tam Bảo. Phía sau lưng chùa (hậu chẩm) là khu vườn tháp Tổ có Tháp đá Cứu Sinh vuông vức bằng đá xanh nặng hàng chục tấn trấn giữ phương Cấn (Đông Bắc - quẻ Cấn là Núi), tạo nên thế tiền thủy tháp, hậu thạch sơn (trước có tháp nước chiếu sáng, sau có núi đá vững bền) vô cùng chặt chẽ giữa lòng đô thị.

VLễ Giỗ Tổ Lân Giác Thượng Sĩ Và Nghi Thức Sơn Môn Liên Phái

Là chốn tổ đình của cả một dòng thiền lớn ở miền Bắc, sinh hoạt lễ tiết quan trọng và trang nghiêm nhất trong năm tại Chùa Liên Phái là Đại lễ Giỗ Tổ Đệ nhất Lân Giác Thượng Sĩ Trịnh Thập diễn ra vào ngày 14 tháng Hai âm lịch hàng năm (ngày ngài viên tịch năm Quý Sửu 1733). Vào ngày này, chư tôn đức tăng ni thuộc pháp phái Liên Tông từ các ngôi chùa chi nhánh khắp Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định cùng đông đảo Phật tử câu hội về Tổ đình Liên Phái để cử hành lễ nhiễu tháp quanh Tháp đá Cứu Sinh và Tháp Diệu Quang, dâng hương bạch Tổ tại Nhà Tổ và tụng kinh theo đúng khoa nghi cổ truyền của sơn môn Liên Phái.

Bên cạnh lễ Giỗ Tổ ngày 14 tháng Hai âm lịch, nhà chùa còn giữ truyền thống lễ phóng sinh cứu vật và lập đàn Dược Sư cầu an đầu xuân vào tháng Giêng âm lịch, nối tiếp đúng hạnh nguyện từ bi Cứu Sinh mà Tổ sư Trịnh Thập đã khởi xướng cách đây ba trăm năm khi ngài bỏ tiền chuộc chim cá phóng sinh khắp các hồ đầm phía nam kinh thành Thăng Long.

Các kỳ lễ tiết và ngày kỵ Tổ chính trong năm tại Tổ đình Chùa Liên Phái. Nguồn: Tổng hợp từ tư liệu Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hà Nội và hồ sơ di tích Chùa Liên Phái..
Thời gian âm lịchTên kỳ lễNghi thức và hoạt động chính
14 tháng 2 (chính lễ)Lễ húy kỵ Đệ nhất Tổ Lân Giác Thượng Sĩ Trịnh ThậpChư tăng ni môn phái Liên Phái câu hội về Tổ đình cử hành lễ nhiễu tháp Cứu Sinh, dâng hương cúng Tổ, tuyên đọc Liên Tông bản hạnh và tụng kinh cầu quốc thái dân an
Rằm tháng GiêngĐàn lễ Thượng nguyên và lễ phóng sinh truyền thốngTụng kinh Dược Sư cầu an đầu xuân và thực hành nghi thức phóng sinh theo hạnh nguyện Cứu Sinh của Tổ sư khai sơn
Rằm tháng TưĐại lễ Phật ĐảnLễ tắm Phật, rước hoa sen quanh hồ bảo tháp Diệu Quang và thuyết giảng ý nghĩa giáo lý Thiền - Tịnh - Mật của dòng Liên Tông
Rằm tháng BảyĐại lễ Vu Lan báo hiếu và đàn Mông Sơn thí thựcLễ cầu siêu báo hiếu tổ tiên và lập đàn chẩn tế cô hồn theo khoa nghi cổ truyền Đàng Ngoài

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Ngõ Liên Phái, phố Bạch Mai, phường Bạch Mai (trước đây thuộc phường Cầu Dền / phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng cũ), thành phố Hà Nội
Đường tới
Từ trung tâm hồ Hoàn Kiếm, đi theo trục phố Huế - Bạch Mai về phía nam khoảng 3,5 km tới số 184 phố Bạch Mai (đối diện khu vực ngã ba Bạch Mai - Lê Thanh Nghị), rẽ vào ngõ Liên Phái khoảng hơn 100 mét là tới cổng chùa. Có thể đi bằng nhiều tuyến xe buýt chạy dọc phố Bạch Mai và đường Đại Cồ Việt - Trần Khát Chân.
Toạ độ
21.00534, 105.84884
Khi tới nơi

Chùa Liên Phái nằm sâu trong ngõ dân cư yên tĩnh của phố Bạch Mai và là chốn tổ đình tu học nghiêm cẩn của chư tăng. Khi tới chiêm bái, quý vị lưu ý giữ yên lặng ngay từ khi bước qua cổng tam quan, ăn mặc kín đáo trang nghiêm, không xả rác hay thả cá tự do xuống hồ nước quanh bảo tháp Diệu Quang khi chưa xin phép nhà chùa, và đặc biệt khi ra khu vườn tháp cổ phía sau cần đi nhẹ nhàng, không tựa người hay đặt đồ vật lên bề mặt đá xanh cổ kính của Tháp Cứu Sinh năm 1733.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Liên Phái

Contribute photos, information or video for Liên Phái Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Liên Phái do ai sáng lập và vì sao có tên là Liên Hoa, Liên Tông rồi Liên Phái?

Chùa Liên Phái do vương tôn Trịnh Thập (1696 - 1733, cháu nội chúa Trịnh Căn, em ruột chúa Trịnh Cương và là phò mã vua Lê Hy Tông) sáng lập năm Bảo Thái thứ 7 (1726). Khi đào gò đất sau phủ đệ thấy củ ngó sen lạ, ông biến phủ đệ thành chùa lấy tên là Liên Hoa Tự và xuất gia hiệu Lân Giác Thượng Sĩ. Sau khi ông mất năm 1733, chùa đổi tên thành Liên Tông Tự theo tên dòng thiền ông sáng lập. Đến năm 1840, vì kiêng tên húy vua Thiệu Trị (Nguyễn Phúc Miên Tông), chùa phải đổi chữ Tông thành Phái, gọi là Liên Phái Tự.

Thiền phái Liên Tông ở Chùa Liên Phái có đặc điểm gì?

Thiền phái Liên Tông là một nhánh thiền bản địa của Phật giáo Việt Nam ở Đàng Ngoài thế kỷ 18, do Lân Giác Thượng Sĩ Trịnh Thập khai sáng sau khi thọ giáo Quốc sư Chân Nguyên Tuệ Đăng thuộc dòng Thiền Lâm Tế. Phái Liên Tông kết hợp hài hòa giữa công phu tham thiền của Thiền tông, pháp môn niệm Phật của Tịnh Độ tông và thần chú Mật tông cùng hạnh nguyện từ bi phóng sinh cứu vật, có bài kệ truyền thừa riêng tại Tổ đình Liên Phái.

Hai ngôi tháp nổi tiếng nhất tại Chùa Liên Phái là những tháp nào?

Đó là Tháp Diệu Quang ở sân trước và Tháp Cứu Sinh ở vườn sau. Tháp Diệu Quang là ngôi bảo tháp hình lục giác cao 10 tầng vươn lên giữa hồ nước trước Tiền đường, mô phỏng cấu trúc tòa Cửu Phẩm Liên Hoa. Còn Tháp Cứu Sinh ở vườn tháp phía sau là ngôi tháp mộ bằng đá xanh hình vuông xây năm Long Đức thứ 2 (1733) để táng xá lợi Tổ sư Trịnh Thập, được xác nhận là ngôi tháp đá cổ nhất còn nguyên vẹn và rõ niên đại trong nội thành Hà Nội.

Chùa Liên Phái thuộc phường nào của thành phố Hà Nội sau đợt sắp xếp năm 2025?

Chùa Liên Phái nằm tại ngõ Liên Phái (số 184 phố Bạch Mai), thuộc địa bàn phường Bạch Mai, thành phố Hà Nội. Trước đây chùa thuộc phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng cũ, sau khi điều chỉnh qua phường Thanh Nhàn và thực hiện Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, khu vực phố Bạch Mai này thuộc phường Bạch Mai mới trực thuộc thành phố Hà Nội.

Lễ hội và ngày Giỗ Tổ lớn nhất tại Chùa Liên Phái diễn ra vào ngày nào?

Ngày lễ quan trọng nhất trong năm tại Chùa Liên Phái là Lễ húy kỵ (Giỗ Tổ) Đệ nhất Tổ Lân Giác Thượng Sĩ Trịnh Thập vào ngày 14 tháng Hai âm lịch hàng năm. Vào ngày này, chư tăng ni và Phật tử thuộc môn phái Liên Phái từ khắp các tỉnh miền Bắc về Tổ đình làm lễ nhiễu tháp Cứu Sinh, dâng hương tưởng niệm Tổ sư khai sơn và cử hành nghi thức phóng sinh truyền thống.

›Đọc Tiếp