Từ mặt đê hữu sông Hồng rẽ xuống thôn Xâm Dương chừng ba trăm mét, quý vị sẽ thấy cổng nghinh môn sáu trụ bề thế, sau cổng là một vùng tán cây cổ thụ và một mặt hồ phẳng lặng. Nằm ngay trên hồ là một cổ lầu hai tầng có mái hình lục giác, bóng lầu in xuống mặt nước. Khoảng cách từ đền ra sông đủ gần để trong ngày hội người làng rước được nước thiêng về, vừa có khoảng đệm cây cổ thụ và hồ nước giữ vẻ tĩnh mịch.
Đây là đền thờ Mẫu Thoải, vị Mẫu cai quản miền sông nước trong điện thần Tứ Phủ. Giới hầu đồng miền Bắc nhắc đền Dầm như một cửa đền chính của Mẫu, nơi phải về trình khi theo giá Thoải. Bài này nói Mẫu là ai, vì sao nơi này được coi trọng, và tách lớp truyền thuyết khỏi những gì hiện vật còn cho thấy.

IMẫu Đệ Tam Thoải Phủ
Vị thờ chính ở đây là Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ, còn gọi Thủy Cung Thánh Mẫu. Trong đền còn có cung Trần triều thờ Hưng Đạo Vương, Lầu Cô, Lầu Cậu và động Sơn Trang, theo mô tả của VnExpress. Bốn chữ Hán ở đầu trang là cách thư viện ghi danh xưng Thủy Cung Thánh Mẫu, do thư viện suy ra từ danh xưng ấy chứ không chép từ một tấm hoành phi trong đền.
Theo cách tín ngưỡng thờ Mẫu tự thuật, thế giới chia làm các phủ, mỗi phủ một vị Mẫu và một sắc áo. Thoải phủ là miền sông nước, sắc trắng, và Mẫu Thoải là vị đứng đầu phủ ấy, xếp thứ ba trong hàng Tam tòa Thánh Mẫu, sau Mẫu Thượng Thiên và Mẫu Thượng Ngàn. Dưới hàng Mẫu là các Quan, các Chầu, các Ông Hoàng, các Cô, các Cậu, nhiều vị thuộc Thoải phủ mang áo trắng khi giáng giá, trong đó Quan Lớn Đệ Tam và Cô Ba Thoải là hai giá quen nhất của phủ nước. Người sống bằng sông, đi buôn đường thủy, làm nghề chài lưới xưa kia đặc biệt thờ Mẫu Thoải, vì Mẫu được tin là giữ cho sông yên và nước thuận.
Về thân thế Mẫu, nguồn kể có nhiều lớp. Theo lời kể mà VnExpress thuật lại, Mẫu là con gái Long Vương, từng có công phù trợ vua Trần Nhân Tông đánh quân Nguyên, khi chiến thắng trở về nhà vua cho xây đền Xâm Dương (còn gọi là đền Dầm) và đền Xâm Thị đều để thờ Mẫu Thoải. Cũng VnExpress kể một lớp thần tích khác gần với đời sống làng hơn, rằng vào một đêm dân làng nghe tiếng chó sủa liên hồi và cùng mộng thấy một người con gái mặc áo trắng mang đai ngọc lưu ly, cưỡi rồng vàng bay lên từ mặt nước nói giúp nước cứu dân, giải trừ dịch bệnh, sáng hôm sau bệnh dịch trong làng tiêu tan nên dân làng dựng miếu thờ. Một dị bản khác phổ biến trong văn chầu kể Mẫu Thoải là con gái Động Đình Quân và là vợ Kinh Dương Vương. Các lớp kể ấy không loại trừ nhau, và không lớp nào là sử liệu.
Điều quý vị cần biết khi hỏi vì sao đền Dầm được coi là cửa đền chính nằm ở chỗ đó là niềm tin trong đạo, gắn với chuyện Mẫu hiển linh ở khúc sông này, không phải vì có sử liệu về một nơi giáng sinh. Giới hầu đồng miền Bắc coi đây là nơi thờ Mẫu Thoải được trọng bậc nhất, và cái trọng ấy được giữ qua nhiều đời bằng lệ về trình, về hầu.
Hai chỗ hay nhầm. Thứ nhất, đền Dầm và đền Đại Lộ đứng chung một cụm di tích ven sông Hồng của xã Hồng Vân (cùng đền Mẫu Cửu Trùng Thiên và chùa Công Minh) và mở hội cùng dịp, nên nhiều người tưởng là một. Thực ra đền Đại Lộ khởi nguyên thờ Tứ Vị Thánh Nương rồi phát triển thành trung tâm thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ và đã được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 2014. Thứ hai, đền Xâm Thị cách chừng hai cây số cũng thờ Mẫu Thoải và cũng được truyền thuyết nhắc cùng lúc với đền Dầm, đó là hai ngôi đền khác nhau, không phải hai tên của một nơi.
IITruyền Thuyết Thời Trần Và Sắc Phong Thời Lê
Năm khởi dựng đền Dầm chưa khảo được. Truyền thuyết gắn đền với thời vua Trần Nhân Tông, nhưng thời điểm truyền thuyết kể không phải năm dựng. Mốc chắc hơn là bộ sắc phong khi VnExpress ghi đền được ban 6 đạo, sớm nhất từ đời vua Lê Thần Tông, muộn nhất vào đời vua Khải Định. Báo Nông nghiệp và Môi trường cùng Cổng thông tin xã Hồng Vân ghi đền Đại Lộ trong cụm khởi dựng từ thời Lê Trung Hưng vào thế kỷ 17, cùng thời kỳ với đạo sắc sớm nhất tại đền Dầm.
- Thời TrầnLớp truyền thuyếtTương truyền Mẫu hiển linh phù trợ vua Trần Nhân Tông đánh quân Nguyên, được nhà vua cho lập đền Xâm Dương (đền Dầm) và đền Xâm Thị để thờ. Đây là thời điểm trong truyện kể, không phải năm dựng đền.
- Thế kỷ 17Dấu ấn thời Lê Trung HưngTheo báo Nông nghiệp và Môi trường và Cổng thông tin xã Hồng Vân, cụm đền ven sông tại đây mang dấu ấn khởi dựng từ thời Lê Trung Hưng thế kỷ 17.
- Đời Lê Thần TôngĐạo sắc phong sớm nhấtĐạo sắc sớm nhất trong số sáu đạo VnExpress ghi nhận tại đền Dầm, vào thế kỷ 17.
- Đời Khải ĐịnhĐạo sắc phong muộn nhấtĐạo sắc cuối trong bộ sáu đạo, khoảng năm 1916 tới 1925, cho thấy đền được triều đình ghi nhận liên tục qua các triều.
- 2016UNESCO ghi danhThực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đền Dầm là một nơi thực hành ấy diễn ra thường xuyên.
- 2025Địa giới mớiKhu vực xã Ninh Sở thuộc huyện Thường Tín cũ nhập vào xã Hồng Vân. Cụm đền Đại Lộ và đền Dầm nay thuộc xã Hồng Vân, Hà Nội.
Hai chỗ nguồn vênh, xin ghi thẳng. Về số sắc phong, VnExpress ghi 6 đạo từ đời Lê Thần Tông đến đời Khải Định, còn trang phuday.com (một trang tổng hợp tâm linh) ghi đền lưu giữ 24 đạo sắc và Mẫu được phong tặng 28 lần. Thư viện dùng số của VnExpress ở bảng tóm tắt vì là nguồn báo chí nêu rõ niên hiệu đầu cuối, đồng thời ghi nhận con số kia để quý vị biết có lưu hành. Về xếp hạng, lãnh đạo xã Hồng Vân trên báo Nông nghiệp và Môi trường cho biết toàn xã có 92 di tích lịch sử văn hóa, trong đó 30 di tích đã được xếp hạng. Đền Đại Lộ kế cận đã có Quyết định số 3095/QĐ-BVHTTDL ngày 23 tháng 9 năm 2014 xếp hạng Di tích quốc gia, còn đền Dầm được một số tư liệu địa phương ghi nhận xếp hạng cấp thành phố năm 2001 nhưng chưa công bố số quyết định trên cổng thông tin điện tử.
IIINghinh Môn Sáu Trụ, Các Điện Và Lầu Cô Trên Hồ
Khuôn viên đền Dầm là một quần thể nhiều hạng mục chứ không phải một tòa đơn lẻ. Phía ngoài là nghinh môn với sáu trụ bề thế, uy nghiêm mở vào khoảng sân thoáng đãng có hồ nước và nhiều cây cổ thụ. Bên trong chia thành các khu gồm gian chính thờ Mẫu Đệ Tam, cung Trần triều thờ Hưng Đạo Vương, Lầu Cậu, động Sơn Trang, và nổi bật ngay trên mặt hồ là Lầu Cô hai tầng mái hình lục giác. Lối bày nhiều cung điện quanh một ban chính là lối quen của các đền Tứ Phủ, mỗi hàng thánh một chỗ ngự để người đi lễ theo thứ bậc mà trình từng ban.
Ngôi chính của đền, thờ Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ. Theo lệ Thoải phủ, sắc trắng là sắc chủ trên ban thờ và trong khăn áo hầu giá Mẫu.
Nơi thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, lớp thờ Đức Thánh Trần thường đứng cạnh điện thần Tứ Phủ ở các đền Bắc Bộ.
Nghinh môn sáu trụ bề thế ở phía ngoài và Lầu Cô là một cổ lầu hai tầng có mái hình lục giác nằm ngay trên hồ nước, soi bóng xuống mặt hồ.
Lầu Cậu thờ hàng Cậu. Động Sơn Trang dựng dáng núi đá, thờ các vị thuộc lớp Sơn Trang của Nhạc phủ.
Cây đa trong khuôn viên buông nhiều rễ phụ. Một số trang giới thiệu ghi tuổi cây chừng tám trăm năm, con số chưa có kiểm chứng khoa học.
Chỗ đáng dừng lâu nhất là Lầu Cô. Đặt một cổ lầu hai tầng mái lục giác ngay trên mặt hồ ở đền Mẫu Thoải là đặt nơi thờ vào đúng môi trường của phủ nước, người đứng bên hồ nhìn lầu thì thấy cả lầu và bóng lầu, trên trời dưới nước, một cặp hình ảnh mà văn chầu Thoải phủ hay nhắc. Ở nhiều đền Tứ Phủ khác, lầu cô chỉ là một gian nhỏ nép bên hông, còn ở đây lầu trở thành điểm nhìn trung tâm của cả khuôn viên.
Có nguồn giới thiệu cây đa trong sân đền là cây tám trăm năm, rồi dùng tuổi cây làm tuổi đền. Tuổi ấy chưa có đo đạc hay kiểm chứng công bố. Thư viện chỉ gọi là cây đa cổ thụ, và xin quý vị đừng lấy tuổi cây để suy ra năm dựng đền.
IVThế Đất Và Hướng
Những gì dưới đây không lấy từ sắc phong hay thần tích của đền. Thư viện đọc chỗ đứng của đền bằng con mắt phong thủy cổ truyền, và ghi lại như một lời bình để quý vị đối chiếu với điều mình thấy tại chỗ.
Với một đền thờ Mẫu Thoải, câu hỏi đầu tiên là nước ở đâu. Ở đền Dầm câu trả lời có hai tầng. Tầng lớn là sông Hồng chảy cách đền chừng vài trăm mét. Tầng nhỏ là hồ nước ngay trong khuôn viên, nơi Lầu Cô đứng trên mặt nước. Theo lối xem đất cổ truyền, nước lớn ở ngoài là nguồn khí, nước nhỏ tụ trước sân là chỗ khí dừng lại. Một đền của phủ nước có cả nguồn lẫn chỗ tụ thì là thần được đặt vào đúng hành của mình.
Tầng thứ hai là con đê và dải bãi ven sông. Đền nằm ở khu vực bãi ngoài đê hữu sông Hồng, từ mặt đê rẽ xuống khoảng ba trăm mét. Phía sau có tuyến đê hữu Hồng chạy dài tạo thế tựa vững chãi, phía trước là dải đất bãi bồi và mặt hồ điều hòa, gần sông đủ để lễ rước nước ngày hội đi về trong một buổi, lại có khoảng đệm cây cổ thụ và hồ nước giữ cho khuôn viên sự tĩnh tại. Người đồng bằng xưa không có núi để tựa, nên thế đất ven đê và bãi bồi cổ thụ thường giữ vai trò che chở và tụ khí.
Tầng thứ ba là lễ rước nước. Mỗi năm vào hội tháng Hai, người làng ra sông Hồng lấy nước đem về đền. Đọc theo con mắt phong thủy, đó là một lần nối lại mạch giữa đền và dòng sông, đưa khí của nước lớn về chỗ thờ. Thư viện nói rõ rằng đây là cách đọc phong thủy, còn với người làng, rước cấp thủy trước hết là một nghi thức dâng Mẫu, không cần một lời giải thích phong thủy nào.
Sau cùng, chữ đắc vị dùng được cho cả Lầu Cô. Hàng Cô Thoải phủ là những vị gần nước nhất, và một lầu thờ cô đặt trên mặt hồ thì theo lối nhìn cổ truyền là đúng chỗ. Cái hợp giữa vị thần với cảnh đất ở đền Dầm không đến từ quy mô đồ sộ mà đến từ những chi tiết nhỏ ấy.
VHội Tháng Hai Và Lễ Rước Nước
Hội đền Dầm mở cùng dịp với đền Đại Lộ trong cụm di tích, kéo dài từ mùng 1 tới mùng 10 tháng 2 âm lịch (năm 2026 rơi vào ngày 19 đến ngày 28 tháng 3 dương lịch), chính hội ngày mùng 5. Theo Cổng thông tin xã Hồng Vân, Nông nghiệp và Môi trường và vietnam.vn, lễ hội quy tụ khoảng bốn trăm người tham gia các nghi thức truyền thống gồm khai hội, tế lễ, rước văn, rước cấp thủy ra sông Hồng lấy nước, rước sắc, rước cỗ, cùng các vấn hầu đồng trong suốt kỳ hội.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 1 tháng 2 | Khai hội | Mở kỳ hội chung của cụm đền Đại Lộ và đền Dầm. |
| Những ngày đầu hội | Rước cấp thủy (rước nước) | Đoàn rước ra sông Hồng lấy nước thiêng đem về đền, nghi thức đặc trưng của nơi thờ Mẫu Thoải. |
| Mùng 5 tháng 2 | Chính hội | Tế lễ lớn tại đền, rước sắc phong, rước văn và rước cỗ. |
| Mùng 1 tới mùng 10 | Hầu đồng, hát văn | Các vấn hầu nối nhau trong kỳ hội, có cung văn đi kèm. |
| Mùng 10 tháng 2 | Kết hội | Khép lại kỳ hội mười ngày. |
Hầu đồng ở đền Dầm là một phần của Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, được UNESCO ghi danh năm 2016. Trong một vấn hầu, thanh đồng lần lượt hầu các giá, mỗi giá có khăn áo theo sắc phủ, có điệu múa và bản văn riêng. Ở một cửa đền Thoải phủ như nơi này, các giá mang sắc trắng của phủ nước được hầu dày hơn. Điều UNESCO ghi danh là tập quán của cộng đồng thực hành, không phải một lời xác nhận về niềm tin.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Xâm Dương, xã Hồng Vân (xã Ninh Sở cũ, huyện Thường Tín cũ), Hà Nội
- Đường tới
- Nằm ở thôn Xâm Dương, xã Hồng Vân (xã Ninh Sở cũ, huyện Thường Tín cũ), Hà Nội, từ đê hữu sông Hồng rẽ vào khoảng ba trăm mét. Đền Đại Lộ nằm kế cận trong cùng cụm di tích, còn đền Xâm Thị cùng thờ Mẫu Thoải cách chừng hai cây số.
- Toạ độ
- 20.9045, 105.8912
Đền đông nhất trong mười ngày hội tháng Hai. Lệ nhà vẫn là ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các điện, không leo lên Lầu Cô hay bước xuống mép hồ. Khi đoàn rước nước đi qua sân, xin quý vị dạt sang hai bên. Gặp vấn hầu, đứng ngoài chiếu hầu, không đi cắt ngang giữa thanh đồng và ban thờ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Dầm
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền Dầm thờ ai
Thờ Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ, còn gọi Thủy Cung Thánh Mẫu, vị Mẫu đứng đầu Thoải phủ là miền sông nước, sắc trắng, trong điện thần Tứ Phủ. Trong đền còn có cung Trần triều thờ Hưng Đạo Vương, Lầu Cô, Lầu Cậu và động Sơn Trang.
Vì sao đền Dầm được coi là đền chính của Mẫu Thoải
Vì giới hầu đồng miền Bắc coi đây là nơi thờ Mẫu Thoải trọng bậc nhất, gắn với chuyện Mẫu hiển linh phù vua Trần Nhân Tông và cứu dân ở khúc sông này. Đó là niềm tin trong đạo, giữ bằng lệ về trình, về hầu qua nhiều đời, không phải vì có sử liệu về một nơi Mẫu giáng sinh.
Đền Dầm có từ bao giờ
Chưa khảo được năm khởi dựng chính xác. Truyền thuyết gắn đền với thời vua Trần Nhân Tông. Báo Nông nghiệp và Môi trường ghi cụm đền mang dấu ấn thời Lê Trung Hưng thế kỷ 17, còn VnExpress ghi đền được ban 6 đạo sắc phong từ đời Lê Thần Tông tới đời Khải Định.
Đền Dầm và đền Đại Lộ khác nhau thế nào
Hai đền cùng nằm trong cụm di tích ven sông Hồng ở xã Hồng Vân và mở hội cùng dịp tháng Hai, nhưng thờ chính khác nhau. Đền Dầm thờ Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ. Đền Đại Lộ khởi nguyên thờ Tứ Vị Thánh Nương và được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 2014.
Lễ hội đền Dầm vào ngày nào
Từ mùng 1 tới mùng 10 tháng 2 âm lịch, chính hội ngày mùng 5. Hội có tế lễ, rước cấp thủy (rước nước) từ sông Hồng về đền, rước sắc, rước văn, rước cỗ và các vấn hầu đồng, mở chung với đền Đại Lộ trong cùng cụm di tích.