VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Hải Ấn (Haeinsa)

Haeinsa, 해인사, 海印寺, Hải Ấn Tự, Haeinsa Temple, Pháp Bảo Tông sát

Ngôi Pháp Bảo Tông sát trong Tam Bảo tự của Phật giáo Hàn Quốc ẩn sâu giữa rừng thông núi Gayasan, nơi bốn tòa kho gỗ thế kỷ 15 giữ nguyên vẹn hơn tám vạn mộc bản kinh Phật khắc từ thế kỷ 13.

Khởi dựng
Năm 802
thời vua Aejang nước Tân La, bởi hai thiền sư Suneung và Ijeong
Bảo vật
81.258 mộc bản
Bát vạn Đại tạng kinh khắc thời Cao Ly, đặt trong Tàng Kinh Bản Điện
Xếp hạng
Di sản Thế giới UNESCO
ghi danh năm 1995 (kiến trúc kho kinh) và Di sản Tư liệu năm 2007

Đi dọc thung lũng suối Hồng Lưu (Hongnyudong) rợp bóng thông già và phong cổ thụ trên sườn tây nam núi Gayasan, huyện Hapcheon, tỉnh Gyeongsangnam-do, quý vị sẽ bước qua cổng Nhất Trụ để tiến lên những tầng sân đá xếp nối tiếp nhau theo độ dốc sườn núi. Vượt qua cả chính điện Đại Tịch Quang (Daejeokgwangjeon), trên bậc nền cao nhất và tĩnh mịch nhất của toàn bộ tự viện, hai dãy nhà gỗ mộc mạc không sơn vẽ sặc sỡ nằm song song nhau, mặt tường trổ những ô cửa sổ song gỗ có kích thước trên dưới khác nhau. Nhìn qua song cửa, hàng vạn tấm ván gỗ đen bóng xếp ngay ngắn trên kệ từ sàn lên tới sát mái.

Đó là cụm Tàng Kinh Bản Điện (Janggyeong Panjeon) của Chùa Hải Ấn (Haeinsa, 海印寺), nơi lưu giữ trọn vẹn 81.258 mộc bản Bát vạn Đại tạng kinh (Palman Daejanggyeong, thế giới quen gọi là Tripitaka Koreana) được khắc ròng rã mười sáu năm dưới triều Cao Ly. Trong hệ thống Tam Bảo tự của Phật giáo Hàn Quốc, nếu chùa Thông Độ (Tongdosa) đại diện cho Phật bảo và chùa Tùng Quảng (Songgwangsa) đại diện cho Tăng bảo, thì chùa Hải Ấn giữ ngôi Pháp Bảo Tông sát (Beopbo Jongchal), tức tổ đình đại diện cho Pháp bảo.

Chùa Hải Ấn (Haeinsa)
Chùa Hải Ấn (Haeinsa). Ảnh: 한국교육방송공사, giấy phép CC BY 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IHải Ấn Tam Muội Và Ngôi Pháp Bảo Tông Sát Của Bán Đảo

Tên gọi Hải Ấn (Haein, 海印) bắt nguồn trực tiếp từ khái niệm Hải ấn tam muội (Haein sammae, tiếng Phạn là Sāgaramudrā-samādhi) trong kinh Hoa Nghiêm (Avataṃsaka Sūtra). Kinh ví tâm giác ngộ thanh tịnh của Đức Phật như mặt biển lớn khi sóng gió đã lặng yên hoàn toàn: muôn tượng vạn hình của vũ trụ đều in rõ mồn một trên mặt nước phẳng lặng ấy mà không hề xao động hay sai lệch. Đặt tên chùa là Hải Ấn vì ngôi già lam này vốn được khai sơn vào đầu thế kỷ 9 như một trung tâm tu học của Hoa Nghiêm tông (Hwaeomjong) dưới sự truyền thừa của Quốc sư Nghĩa Tương (Uisang, 625 tới 702).

Chính gốc rễ Hoa Nghiêm ấy giải thích vì sao tòa chính điện của chùa không mang tên Đại Hùng điện và không thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở vị trí trung tâm như phần lớn các tự viện Hàn Quốc khác. Chính điện của chùa Hải Ấn có tên là Đại Tịch Quang điện (Daejeokgwangjeon, 大寂光殿), thờ Đức Tỳ Lô Giá Na Phật (Vairocana, còn gọi là Đại Nhật Như Lai hay Pháp Thân Phật), vị giáo chủ của thế giới Liên Hoa Tạng trong kinh Hoa Nghiêm. Về sau, khi các dòng Phật giáo Hàn Quốc hợp nhất, chùa Hải Ấn trở thành tổ đình của Tùng lâm Hải Ấn thuộc tông Tào Khê (Jogye), duy trì song song cả truyền thống tham thiền (Seon) lẫn nghiên cứu kinh giáo.

Theo giáo nghĩa

Danh hiệu Pháp Bảo Tông sát của chùa Hải Ấn gắn liền với bộ mộc bản Đại tạng kinh Cao Ly. Trong quan niệm Phật giáo Đông Á, lời Phật dạy được ghi chép trong Tam tạng (Kinh, Luật, Luận) chính là thân Pháp (Pháp thân) tồn tại mãi mãi sau khi kim thân của Đức Phật nhập Niết bàn. Giữa thế kỷ 13, khi vương triều Cao Ly (Goryeo, 918 tới 1392) đứng trước họa xâm lăng của quân Mông Cổ và phải dời đô ra đảo Giang Hoa (Ganghwa), vua Cao Tông (Gojong) cùng triều thần và chư tăng đã phát nguyện khắc lại toàn bộ Đại tạng kinh bằng gỗ. Việc khắc từng chữ Hán lên gỗ với lễ nghi mỗi chữ một lạy được coi là pháp sự hộ quốc tối cao: nương nhờ uy lực của Pháp bảo để tiêu trừ tai ách và giữ gìn bờ cõi.

Theo sử liệu

Theo ghi chép của học giả Choe Chi-won (Thôi Trí Viễn, sinh năm 857) trong bài ký viết năm 900 về chùa Hải Ấn, hai vị thiền sư khai sơn là Thuận Ứng (Suneung) và đệ tử là Lợi Trinh (Ijeong) sau khi sang nhà Đường cầu pháp trở về đã dựng thảo am tu tập trên núi Gayasan vào mùa thu năm 802, tức năm thứ ba đời vua Ai Trang (Aejang, trị vì 800 tới 809) nước Tân La thống nhất. Tương truyền vương hậu của vua Ai Trang mắc bệnh hiểm nghèo là ung nhọt trên lưng, thuốc thang trong cung đều bất lực, hai vị thiền sư đã dùng sợi dây ngũ sắc buộc từ cây lê ngoài vườn nối vào chỗ đau và tụng chú cầu nguyện giúp vương hậu khỏi bệnh. Cảm kích ân đức ấy, vua Ai Trang đã xuất ngân khố hoàng gia để mở rộng thảo am thành đại tự viện Hải Ấn.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người khi đọc hồ sơ Di sản Thế giới thường nghĩ toàn bộ quần thể chùa Hải Ấn đều được UNESCO ghi danh. Trên thực tế, danh mục Di sản Thế giới năm 1995 (mã số 737) ghi danh đích danh Điện Janggyeong Panjeon của chùa Haeinsa, nơi lưu giữ các mộc bản Tripitaka Koreana (Haeinsa Temple Janggyeong Panjeon, the Depositories for the Tripitaka Koreana Woodblocks) nhờ giá trị khoa học bảo quản tự nhiên độc nhất vô nhị từ thế kỷ 15. Tới năm 2007, chính bộ mộc bản Đại tạng kinh cùng các ván khắc phụ trợ tiếp tục được UNESCO ghi danh vào danh mục Ký ức Thế giới (Memory of the World). Sự kết hợp giữa kho kiến trúc (Di sản Văn hóa Thế giới) và mộc bản bên trong (Di sản Tư liệu Thế giới) khiến nơi đây sánh ngang với các thánh tích hàng đầu bán đảo như Chùa Phật Quốc (Bulguksa), Gyeongju và Tông Miếu Seoul (Jongmyo).

IIHơn Mười Hai Thế Kỷ Từ Thảo Am Tân La Tới Kho Kinh Bất Hoại

Trải qua hơn 1.200 năm lịch sử kể từ năm 802, chùa Hải Ấn đã chứng kiến sự hưng phế của ba triều đại Tân La thống nhất, Cao Ly và Joseon. Trong khi các điện thờ phía dưới từng bảy lần bị hỏa hoạn thiêu rụi vào các năm 1695, 1743, 1763, 1780 và nặng nề nhất là trận cháy lớn năm 1817 rồi được dựng lại năm 1818, thì khu kho kinh Tàng Kinh Bản Điện trên đỉnh đồi phía bắc vẫn đứng vững một cách kỳ lạ trước mọi biến cố và ngọn lửa.

  • 802Khởi dựng dưới triều vua Ai Trang nước Tân La
    Ngày 16 tháng 10 năm 802, hai thiền sư Thuận Ứng (Suneung) và Lợi Trinh (Ijeong) khởi công dựng chùa Hải Ấn trên núi Gayasan với sự bảo trợ của vua Ai Trang và vương hậu.
  • Đầu thế kỷ 10Thiền sư Hy Lãng mở rộng chùa thời Hậu Tam Quốc
    Trụ trì Hy Lãng (Huirang, 889 tới 966) giảng dạy Hoa Nghiêm học tại chùa và ủng hộ Vương Kiến (Wang Geon, tức vua Thái Tổ nhà Cao Ly) thống nhất bán đảo. Vua Thái Tổ ban ruộng đất và sắc phong Hải Ấn làm quốc찰 của triều đại mới.
  • 1236 tới 1251Khắc bộ mộc bản Bát vạn Đại tạng kinh
    Sau khi bộ Sơ điêu Đại tạng kinh thế kỷ 11 bị cháy năm 1232, vua Cao Tông nhà Cao Ly lập Đại Tạng Đô Giám trên đảo Ganghwa và tại Nam Hải, giao đại sư Thủ Kỳ (Sugi) hiệu đính và khắc mới 81.258 mộc bản từ năm 1236 tới năm 1251 (một số nguồn ghi 1237 tới 1248).
  • 1398Rước mộc bản về tôn trí tại chùa Hải Ấn
    Năm thứ bảy đời vua Thái Tổ nhà Joseon, toàn bộ mộc bản Đại tạng kinh được chuyển từ chùa Thiền Nguyên (Seonwonsa) trên đảo Ganghwa qua trạm trung chuyển ở Hanyang (Seoul) về cất giữ vĩnh viễn tại vùng núi sâu chùa Hải Ấn.
  • 1481 tới 1488Trùng tu lớn và hoàn thiện Tàng Kinh Bản Điện
    Dưới triều vua Thế Tổ, Thành Tông và sự bảo trợ của hai vị vương phi Nhân Túy (Insu) và Nhân Huệ (Inhye), học giả Học Tổ (Hakjo) chủ trì xây dựng lại khu kho kinh Janggyeong Panjeon hoàn thành năm 1488.
  • 1817 tới 1818Hỏa hoạn lớn và tái thiết Đại Tịch Quang điện
    Trận cháy năm 1817 (năm thứ 17 đời vua Thuần Tổ) thiêu hủy hầu hết các điện thờ bên dưới, riêng Tàng Kinh Bản Điện trên gò cao thoát nạn. Chùa được dựng lại toàn diện vào năm 1818.
  • 1962Xếp hạng Quốc bảo Hàn Quốc
    Chính phủ Hàn Quốc xếp hạng bộ mộc bản Đại tạng kinh Cao Ly là Quốc bảo số 32 và cụm kiến trúc Tàng Kinh Bản Điện là Quốc bảo số 52 vào ngày 20 tháng 12 năm 1962.
  • 1995 và 2007Di sản Thế giới và Di sản Tư liệu Thế giới UNESCO
    Năm 1995, UNESCO công nhận Tàng Kinh Bản Điện chùa Hải Ấn là Di sản Văn hóa Thế giới. Năm 2007, các mộc bản Tripitaka Koreana được ghi danh vào chương trình Ký ức Thế giới của UNESCO.
Theo sử liệu

Về niên đại khắc mộc bản và năm chuyển về chùa. Trong các tài liệu quốc tế có hai cách ghi mốc thời gian khắc bộ Tái điêu Đại tạng kinh (tức Tripitaka Koreana). Cục Di sản Quốc gia Hàn Quốc (KHS, trước là CHA), Britannica và sử biên niên Cao Ly sử ghi công cuộc khắc ván bắt đầu năm 1236 (năm thứ 23 đời vua Cao Tông, khi lập Đại Tạng Đô Giám) và hoàn tất năm 1251, tổng cộng 16 năm. Trong khi đó, bản tóm tắt trên trang UNESCO ghi khoảng thời gian khắc trực tiếp các tấm ván từ năm 1237 tới 1248 hoặc 1249. Về thời điểm chuyển bộ mộc bản từ đảo Ganghwa về chùa Hải Ấn, văn bản chính thống ghi cuộc vận chuyển lớn diễn ra vào năm 1398 (đầu thời Joseon), dù một số giả thuyết sử học cho rằng việc di dời từng phần đã bắt đầu từ cuối thời Cao Ly để tránh cướp biển Oa khấu.

Công lao hiệu đính của đại sư Thủ Kỳ (Sugi). Giá trị học thuật vượt trội của bộ mộc bản chùa Hải Ấn nằm ở tính chính xác của văn bản. Giữa thế kỷ 13, đại sư Thủ Kỳ cùng ban khảo đính đã đối chiếu ba bộ Đại tạng kinh đương thời là bản Bắc Tống (Khai Bảo tạng), bản Khiết Đan (Liêu tạng) và bản Sơ điêu Cao Ly thế kỷ 11, sửa chữa hàng nghìn chữ in sai, chữ thiếu hoặc thứ tự quyển bị đảo lộn, rồi ghi chép toàn bộ lý do hiệu đính vào tác phẩm Cao Ly Quốc Tân Điêu Đại Tạng Hiệu Chính Biệt Lục gồm 30 quyển.

IIIKhoa Học Khí Động Học Thế Kỷ 15 Và 81.258 Mộc Bản Kinh Phật

Quần thể chùa Hải Ấn được quy hoạch theo trục nam bắc leo dần lên bốn tầng nền đá trên sườn núi Gayasan. Bắt đầu từ cổng Nhất Trụ (Iljumun), cổng Phượng Hoàng (Bonghwangmun) và cổng Giải Thoát (Haetalmun), khách hành hương bước lên sân Cửu Quang lâu (Gugwangnu), rồi mới tới sân chính điện Đại Tịch Quang điện (Daejeokgwangjeon) xây trên nền đá cao với mái lợp ngói xám kiểu paljak (tám mái đầu hồi). Nhưng đỉnh cao kiến trúc của toàn tự viện nằm ở tầng nền thứ tư trên cùng: khu Tàng Kinh Bản Điện (Janggyeong Panjeon), một kiệt tác kỹ thuật bảo quản sinh thái tiền hiện đại.

Tàng Kinh Bản Điện gồm bốn tòa nhà gỗ xếp thành một hình chữ nhật khép kín quanh sân trong, hoàn toàn không dùng hệ đấu củng phức tạp của chùa chiền mà áp dụng kiểu kiến trúc mộc mạc như cung điện thời kỳ đầu Joseon để tránh chim chóc làm tổ. Hai tòa kho lớn nằm theo trục đông tây dài tới 60,44 mét (chia làm 15 gian mặt tiền, 2 gian chiều sâu): tòa phía nam gọi là Tu Đa La Tạng (Sudarajang, tức kho Kinh) có cổng chính ở giữa, tòa phía bắc gọi là Pháp Bảo Điện (Beopbojeon) đặt ở cốt nền cao hơn. Hai đầu đông và tây được khóa lại bằng hai kho nhỏ 2 gian gọi là Đông Tạng Khố và Tây Tạng Khố (tức Tự Tư Điện, Saganpanjeon), nơi cất giữ khoảng gần 6.000 mộc bản khắc riêng của chư tổ Hàn Quốc (như các tác phẩm của Quốc sư Nghĩa Thiên, đại sư Nhất Nhiên và thơ văn của Thôi Trí Viễn).

Cơ chế thông gió cửa sổ trên và dưới

Mặt trước và mặt sau của hai tòa Tu Đa La Tạng và Pháp Bảo Điện đều trổ hai hàng cửa sổ song gỗ hở nhưng kích thước ngược nhau: ở tường phía nam (mặt trước), cửa sổ tầng dưới lớn gấp bốn lần cửa sổ tầng trên, còn ở tường phía bắc (mặt sau), cửa sổ tầng trên lại lớn hơn cửa sổ tầng dưới. Thiết kế bất đối xứng này tạo ra dòng đối lưu không khí xoáy tròn liên tục từ dưới sàn lên nóc nhà rồi thoát ra ngoài, giữ nhiệt độ và độ ẩm quanh các kệ gỗ luôn ổn định suốt bốn mùa.

Nền đất bốn lớp hút ẩm và chống mối mọt

Dưới nền đất nện của kho kinh, các nghệ nhân thế kỷ 15 đã đào sâu và đầm bốn lớp vật liệu tự nhiên gồm đất sét, than củi, vôi bột và muối biển cùng cát mịn. Khi mùa mưa ẩm ướt tới, than củi và muối hút bớt hơi nước trong không khí, còn khi mùa khô hanh tới, nền đất lại nhả độ ẩm ra để các tấm ván gỗ không bị nứt nẻ, đồng thời ngăn chặn tuyệt đối mối mọt và côn trùng từ lòng đất bò lên.

81.258 mộc bản Bát vạn Đại tạng kinh

Quốc bảo Hàn Quốc (số 32 cũ). Mỗi tấm ván chuẩn dài khoảng 69,6 cm, cao khoảng 24 cm, dày từ 2,6 tới 4 cm, nặng từ 3 tới 4 kg, hai đầu đóng nẹp gỗ để chống cong vênh và bọc đồng ở bốn góc. Toàn bộ bộ kinh gồm 1.496 bộ kinh điển chia thành 6.568 quyển, khắc chữ Hán chân phương sắc nét cả hai mặt với 23 dòng mỗi mặt, mỗi dòng 14 chữ, tổng cộng khoảng hơn 52 triệu chữ Hán mà không có một vết đục sửa sai.

Quy trình xử lý gỗ bạch dương biển

Gỗ dùng khắc kinh chủ yếu là gỗ cây bạch dương bạc (cây tự mộc, Betula schmidtii), cây mộc lan trắng và cây anh đào rừng khai thác từ các đảo phía nam như đảo Geoje và đảo Wando. Gỗ sau khi xẻ ván được ngâm dưới nước biển ba năm, sau đó vớt lên luộc trong nước muối để rút hết nhựa cây và diệt nấm mốc, rồi phơi khô trong bóng râm thêm nhiều năm trước khi đưa vào khắc chữ và phủ sơn mài trộn tinh dầu chống mục.

Đại Tịch Quang điện và tượng Tỳ Lô Giá Na

Chính điện của chùa Hải Ấn, dựng lại năm 1818 trên nền cũ thời Tân La, rộng 5 gian mặt tiền và 4 gian chiều sâu. Bên trong tôn trí bộ tượng Tam thân Phật, ở giữa là tượng gỗ Đức Phật Tỳ Lô Giá Na tạo tác từ thời Tân La thống nhất (năm 883, phát hiện năm 2005 qua minh văn trong lòng tượng), cổ nhất trong số các tượng Phật bằng gỗ còn lại tại Hàn Quốc.

Tượng chân dung gỗ sơn mài Thiền sư Hy Lãng

Quốc bảo Hàn Quốc (được nâng từ Bảo vật số 999 lên Quốc bảo năm 2020), niên đại khoảng đầu thế kỷ 10 thời Cao Ly. Đây là bức tượng chân dung cao tăng bằng gỗ phủ sơn khô cổ nhất còn tồn tại ở Hàn Quốc, khắc họa sống động vị tổ sư chùa Hải Ấn với một lỗ nhỏ trước ngực tương truyền là nơi ngài từng trích máu nuôi muỗi khi tọa thiền.

Bảng thông số kỹ thuật của khu Tàng Kinh Bản Điện và bộ mộc bản Đại tạng kinh tại chùa Hải Ấn. Nguồn: Hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO số 737, Cục Di sản Quốc gia Hàn Quốc (KHS), Britannica..
Hạng mụcThông số và đặc điểmNguồn kiểm chứng
Tổng số mộc bản81.258 tấm ván chính của Đại tạng kinh (kèm khoảng 5.987 ván khắc phụ tại Tự Tư Điện)UNESCO, Cục Di sản Quốc gia Hàn Quốc (KHS)
Kích thước mỗi mộc bảnDài 69,6 cm, rộng 24 cm, dày 2,6 tới 4 cm, nặng 3 tới 4 kgUNESCO, Britannica
Chiều dài kho kinh chínhTu Đa La Tạng và Pháp Bảo Điện đều dài 60,44 m, rộng 8,73 m (15 gian mặt tiền, 2 gian sâu)Hồ sơ UNESCO số 737, Smarthistory
Số chữ khắc trên mỗi mặt23 dòng mỗi mặt, mỗi dòng 14 chữ Hán, khắc cả hai mặt ván, tổng cộng khoảng 52,38 triệu chữCục Di sản Quốc gia Hàn Quốc (KHS)
Tượng Phật cổ nhất tại chùaCặp tượng gỗ Tỳ Lô Giá Na Phật niên đại năm 883 (thời Tân La thống nhất)Cục Di sản Quốc gia Hàn Quốc (KHS)

IVThế Đất Và Hướng

Trong truyền thống Phật giáo Hàn Quốc, việc chọn đất lập chùa gắn chặt với thuyết Phong thủy Đồ sấm (Pungsu-jiri, 風水地理) do Quốc sư Đạo Tiên (Doseon, 827 tới 898) hệ thống hóa từ cuối thời Tân La và truyền sang thời Cao Ly. Chính vị trí hiểm yếu nhưng ôn hòa của núi Gayasan là lý do triều đình Joseon năm 1398 quyết định chuyển bộ mộc bản quốc bảo về cất giữ tại chùa Hải Ấn. Phần dưới đây đối chiếu địa hình thực tế của chùa theo phép xem hình thế cổ truyền của thư viện để quý vị dễ hình dung cách người xưa chọn huyệt điểm giữ kinh.

Thế đất và hướng

Xét về đại cục sơn xuyên tại tọa độ 35,8014 độ vĩ bắc, 128,0981 độ kinh đông, chùa Hải Ấn tọa lạc ở độ cao khoảng 650 mét trên mặt nước biển, nép mình nơi sườn tây nam của đỉnh Gayasan (Già Da sơn, cao 1.430 mét, đỉnh Thượng Vương Phong). Trong địa lý cổ truyền bán đảo Triều Tiên, núi Gayasan được mệnh danh là một trong Bát cảnh của xứ Hải Đông, có dáng thế như đầu một con trâu thần (Ngưu đầu sơn) hoặc như một tòa sen đá khổng lồ nở giữa mây ngàn. Đỉnh chính Gayasan sừng sững phía đông bắc tạo thành hậu chẩm (chỗ dựa lưng) dày và cao, che chắn hoàn toàn những luồng gió bắc lạnh giá và ẩm ướt từ lục địa thổi xuống vào mùa đông. Hai nhánh núi vươn dài sang hai bên tả hữu tạo thế Thanh Long và Bạch Hổ ôm lấy thung lũng, còn phía trước mặt mở ra tầm nhìn thoáng về hướng tây nam đón nắng ấm và gió khô từ thung lũng thổi lên, tạo nên một vi khí hậu khô ráo hiếm có giữa vùng núi cao.

Xét về thủy pháp và trục kiến trúc, dòng suối từ các khe núi Gayasan chảy tụ về phía nam chùa tạo thành thung lũng Hồng Lưu Động (Hongnyudong) dài hơn bốn cây số, uốn lượn qua mười chín thắng cảnh đá tảng và rừng thông trước khi đổ ra sông lớn, ứng với thế thủy tụ minh đường rồi mới thoát đi theo lối khứ thủy quanh co giữ khí. Toàn bộ trục chùa và cụm kho kinh Tàng Kinh Bản Điện được đặt theo hướng tọa Đông Bắc hướng Tây Nam. Trong phong thủy hình thế kết hợp khoa học khí hậu, hướng Tây Nam đón ánh nắng chiều sâu vào sườn núi và đón luồng gió thung lũng thổi ngược lên sườn đồi vào ban ngày, rồi đổi chiều thổi từ đỉnh núi xuống thung lũng vào ban đêm. Chính sự giao hòa giữa mạch núi chắn gió độc, dòng suối điều hòa nhiệt độ và hướng cửa kho đón đúng luồng gió đối lưu tự nhiên của thung lũng đã biến khu gò đất cao nhất của chùa thành một bảo tàng tự nhiên giữ nguyên vẹn hơn tám vạn tấm ván gỗ suốt hơn bảy thế kỷ.

VLễ Hội Văn Hóa Đại Tạng Kinh Và Nghi Lễ Hàng Năm

Là một trong bốn Tùng lâm lớn của tông Tào Khê với đầy đủ Thiền viện, Giảng viện và Luật viện, chùa Hải Ấn duy trì nghiêm ngặt thời khóa tụng niệm hàng ngày và hai mùa an cư kiết hạ, kiết đông theo âm lịch. Bên cạnh các đại lễ chung của Phật giáo Hàn Quốc như Phật Đản (mùng 8 tháng Tư âm lịch), chùa Hải Ấn còn có một đại lễ riêng gắn liền với bảo vật của chùa là Ngày Đại Tạng Kinh (Daejanggyeong-ui Nal) và nghi thức rước kinh đội trên đầu (Jeongdae Bulsa). Bảng dưới đây tổng hợp các kỳ lễ chính trong năm.

Lịch lễ hội và tu học hàng năm tại Tùng lâm Hải Ấn trên núi Gayasan. Nguồn: Tổng cục Du lịch Hàn Quốc (VisitKorea), Korean Temple Guide và trang thông tin chùa Haeinsa..
Thời gianTheo lịch nàoTên lễ tiếtNghi thức và ý nghĩa
Khoảng tháng 4 dương lịch (thường vào tháng Ba âm lịch)Âm lịch kết hợp lịch sự kiện mùa xuân của chùaLễ Đảnh Đới Đại Tạng Kinh (Palman Daejanggyeong Jeongdae Bulsa)Chư tăng và hàng nghìn Phật tử dùng khăn trắng nâng các bản in mộc bản Đại tạng kinh đội lên đỉnh đầu, đi nhiễu hành quanh khuôn viên chùa và trận đồ Pháp giới (Beopgyedo) trên sân chính điện, tái hiện cảnh dân chúng thời Joseon năm 1398 đội mộc bản trên đầu rước từ đảo Ganghwa về núi Gayasan.
Mùng 8 tháng TưÂm lịch (lệ chung Phật giáo Hàn Quốc)Đại lễ Phật Đản (Bucheonim Osin Nal)Treo hàng nghìn đèn lồng hoa sen rực rỡ khắp sân Cửu Quang lâu và sân Đại Tịch Quang điện, cử hành lễ tắm Phật và đi nhiễu tháp cầu quốc thái dân an.
Tháng 9 hoặc tháng 10 hàng nămDương lịch (mùa thu lá phong đỏ trên núi Gayasan)Lễ hội Văn hóa Thế giới Đại Tạng Kinh (Tripitaka Koreana Festival)Kỷ niệm sự kiện hoàn thành bộ mộc bản và tưởng nhớ chư vị tiền nhân hộ quốc. Lễ hội gồm pháp hội cúng dường chư tổ, triển lãm kỹ thuật khắc in mộc bản truyền thống và biểu diễn âm nhạc Phật giáo.
Rằm tháng Tư tới rằm tháng Bảy, và rằm tháng Mười tới rằm tháng GiêngÂm lịchMùa An cư Kiết hạ (Ha-ango) và An cư Kiết đông (Dong-ango)Mỗi kỳ kéo dài ba tháng, hàng trăm thiền tăng trong Tùng lâm Hải Ấn cấm túc tọa thiền liên tục tại Thiền viện, giữ thanh quy tĩnh lặng tuyệt đối.

Nghi thức Đảnh đới (Jeongdae, 頂戴, tức nâng vật thiêng lên đỉnh đầu) tại chùa Hải Ấn gây xúc động mạnh cho bất kỳ ai chứng kiến. Giữa sân chùa trước chính điện có một đồ hình chữ Vạn vuông gọi là Hải Ấn Đồ (Haeindo, tức Pháp giới đồ của Quốc sư Nghĩa Tương gồm 210 chữ Hán của bài Pháp Tính Kệ). Trong ngày lễ, đoàn người nâng kinh bản trên đầu bước đi chậm rãi theo đúng những đường gấp khúc của đồ hình ấy, vừa đi vừa niệm danh hiệu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, kết nối lòng thành kính của người hôm nay với tâm nguyện của những người thợ khắc ván cách đây gần tám trăm năm.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
122 Haeinsa-gil, Gaya-myeon, Hapcheon-gun, Gyeongsangnam-do (sườn tây nam núi Gayasan)
Đường tới
Chùa nằm tại số 122 Haeinsa-gil, xã Gaya-myeon, huyện Hapcheon, tỉnh Gyeongsangnam-do. Từ thành phố Daegu (Bến xe phía Tây Seobu), quý vị đi xe buýt liên tỉnh chạy thẳng tới trạm xe buýt chùa Haeinsa mất khoảng một tiếng rưỡi, sau đó đi bộ dọc đường rừng suối Hồng Lưu khoảng hơn một cây số là tới cổng chùa.
Toạ độ
35.8014, 128.0981
Khi tới nơi

Để bảo vệ tuyệt đối 81.258 mộc bản khỏi nguy cơ hỏa hoạn và biến đổi độ ẩm, chùa Hải Ấn áp dụng quy định bảo quản rất nghiêm ngặt: quý vị không được mang bật lửa, diêm hay bất kỳ vật phát lửa nào qua cổng kiểm soát rừng núi Gayasan, và chỉ được đứng ngắm các kệ mộc bản từ bên ngoài qua song cửa gỗ của Tàng Kinh Bản Điện chứ không được bước vào bên trong lòng kho hay chạm tay vào cửa sổ. Khi đi qua khu vực Thiền viện và Giảng viện, xin quý vị giữ bước chân nhẹ nhàng, không nói to và cởi giày dép nếu vào lễ Phật trong Đại Tịch Quang điện.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Hải Ấn (Haeinsa)

Contribute photos, information or video for Haeinsa

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Hải Ấn (Haeinsa) thuộc tông phái nào và thờ vị Phật nào ở chính điện?

Chùa Hải Ấn thuộc tông Tào Khê (Jogye), tông phái lớn nhất của Phật giáo Hàn Quốc, nhưng có gốc khai sơn từ Hoa Nghiêm tông năm 802. Vì vậy, chính điện của chùa mang tên Đại Tịch Quang điện (Daejeokgwangjeon) và thờ Đức Phật Tỳ Lô Giá Na (Vairocana, Pháp thân Phật trong kinh Hoa Nghiêm) ở vị trí trung tâm, trong đó pho tượng gỗ Tỳ Lô Giá Na tạc năm 883 là tượng Phật bằng gỗ cổ nhất còn lại ở Hàn Quốc.

Vì sao chùa Hải Ấn được gọi là Pháp Bảo Tông sát trong Tam Bảo tự Hàn Quốc?

Phật giáo Hàn Quốc tôn vinh ba ngôi đại tự viện đại diện cho Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng): chùa Thông Độ (Tongdosa) giữ xá lợi chân thân Đức Phật nên là Phật Bảo Tông sát, chùa Tùng Quảng (Songgwangsa) xuất sinh mười sáu vị Quốc sư nên là Tăng Bảo Tông sát, còn chùa Hải Ấn lưu giữ trọn bộ 81.258 mộc bản Bát vạn Đại tạng kinh (lời Phật dạy) nên được tôn là Pháp Bảo Tông sát.

Bộ mộc bản Bát vạn Đại tạng kinh (Tripitaka Koreana) được khắc khi nào và có bao nhiêu tấm?

Bộ mộc bản hiện lưu giữ tại chùa Hải Ấn gồm 81.258 tấm ván gỗ (thường gọi tròn là tám vạn bốn nghìn pháp môn hay Bát vạn Đại tạng kinh), được khắc dưới triều vua Cao Tông nhà Cao Ly từ năm 1236 tới năm 1251 (một số tài liệu UNESCO ghi giai đoạn khắc ván từ 1237 tới 1248) để cầu nguyện Phật lực hộ quốc trước cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ, rồi được rước về chùa Hải Ấn năm 1398.

Nhờ đâu Tàng Kinh Bản Điện giữ được hơn tám vạn mộc bản suốt hơn 500 năm không bị mối mọt?

Cụm kho kinh Tàng Kinh Bản Điện (hoàn thiện năm 1488) vận dụng nguyên lý khí động học tự nhiên: nằm ở gò cao nhất hướng Tây Nam đón nắng và gió thung lũng, trổ các ô cửa sổ song gỗ có kích thước trên dưới ngược nhau giữa tường trước và tường sau để tạo luồng gió đối lưu liên tục, kết hợp với nền đất đầm bốn lớp đất sét, than củi, vôi bột và muối biển giúp tự động hút ẩm mùa mưa và nhả ẩm mùa khô.

Khách tham quan có được vào bên trong kho Tàng Kinh Bản Điện để xem mộc bản không?

Để duy trì vi khí hậu tự nhiên ổn định và phòng chống cháy nổ tuyệt đối cho Quốc bảo, du khách không được bước vào bên trong lòng hai tòa kho Tu Đa La Tạng và Pháp Bảo Điện. Tuy nhiên, quý vị được đi vào sân trong của Tàng Kinh Bản Điện và nhìn trực tiếp qua các ô cửa sổ song gỗ hở để quan sát rõ ràng những dãy kệ mộc bản xếp ngay ngắn bên trong.

›Đọc Tiếp