Men theo những bậc đá cổ mòn nhẵn dẫn lên sườn phía nam của khối đá hoa cương đen sẫm vươn cao 160 mét giữa vùng đồng bằng khô hạn Matale, quý vị sẽ thấy toàn cảnh rừng cây nhiệt đới và bóng dáng pháo đài đá Sigiriya hiện ra ở đường chân trời cách đó mười chín cây số về phía đông bắc. Khi bước qua dãy hành lang vòm trắng nép dưới gờ đá khổng lồ nhô ra như mái hiên tự nhiên và bước chân trần vào lòng núi mát lạnh, ánh sáng rực rỡ của vùng nhiệt đới nhường chỗ cho ánh đèn dầu trầm mặc. Trước mắt quý vị, cả vòm trần đá gồ ghề uốn lượn biến thành một vòm lụa màu chu sa và vàng đất vẽ hàng ngàn đức Phật tọa thiền, còn dưới nền đá là hàng trăm pho tượng Phật tạc từ đá nguyên khối, gỗ và gạch phủ vữa sơn son thếp vàng đang lặng lẽ nhìn xuống nhân gian.
Danh thắng tâm linh ấy chính là Rangiri Dambulla Raja Maha Viharaya, thường được biết đến với tên gọi Chùa hang Dambulla hay Kim Sơn Thạch Tự (Ngôi đền Vàng trên Đá Dambulla). Được kiến tạo thành đại tự viện hoàng gia từ thế kỷ 1 trước Công nguyên dưới triều vua Valagamba để tạ ơn chư tăng đã che chở nhà vua suốt mười bốn năm ẩn náu, quần thể năm thạch động này là kho tàng điêu khắc và hội họa Phật giáo liên tục lớn nhất tại Sri Lanka, được UNESCO ghi danh là Di sản Thế giới vào năm 1991.

INơi Ẩn Náu Của Vua Valagamba Và Hai Mươi Hai Thế Kỷ Truyền Thừa
Trong tiếng Sinhala, chữ Dambulla ghép từ Damba (đá tảng) và Ulla (mạch nước ngầm tuôn chảy), gọi đúng đặc điểm tự nhiên của khối núi đá có dòng nước tinh khiết nhỏ giọt quanh năm không cạn bên trong lòng động. Danh hiệu Rangiri nghĩa là Hòn Đá Vàng (Kim Sơn), xuất phát từ sự kiện quốc vương Nissanka Malla của vương triều Polonnaruwa vào cuối thế kỷ 12 đã xuất ngân khố dát vàng hàng chục pho tượng Phật trong động và khắc bia đá phong tặng danh hiệu Swarnagiri Guha (Kim Sơn Thạch Động). Hiện nay, quần thể thạch tự nằm dưới sự trụ trì và quản lý của chư tăng thuộc chương Asgiriya trong hệ phái Siam Nikaya của Phật giáo Thượng tọa bộ Sri Lanka.
Khác với những ngôi chùa xây bằng gạch gỗ trên mặt đất vốn dễ bị thời gian và mưa bão hủy hoại, chùa hang Dambulla kế thừa truyền thống Len Vihara (tự viện hang đá) của các bậc Tỳ-kheo tu hạnh đầu-đà ở ẩn trong rừng núi từ buổi đầu Phật giáo truyền vào đảo quốc. Trên gờ đá phía ngoài các cửa hang, người xưa đã đục một đường rãnh sâu chạy dài gọi là Katara (rãnh cắt nước mưa) để ngăn nước mưa chảy tràn từ đỉnh núi thấm vào bên trong lòng hang. Dưới đường rãnh ấy là những dòng minh văn khắc bằng chữ Brahmi cổ đại từ thế kỷ 3 đến thế kỷ 1 trước Công nguyên, ghi lại lời phát nguyện hiến cúng các hang đá làm nơi an cư cho Tăng đoàn bốn phương (Agata Anagata Catudisa Sagasa).
Theo bộ đại sử biên niên Mahavamsa (chương 33) và truyền thuyết lịch sử tại bản địa, vào năm 103 trước Công nguyên, chỉ năm tháng sau khi lên ngôi tại kinh đô Anuradhapura, quốc vương Valagamba (tức Vattagamani Abhaya) đã bị các đạo quân xâm lược từ Nam Ấn Độ đánh bại phải rút chạy về vùng núi rừng trung tâm. Nhà vua đã ẩn náu tại hệ thống hang động Dambulla dưới sự đùm bọc của các vị trưởng lão Tỳ-kheo (đặc biệt là đại sư Kupikkala Mahatissa Thera). Sau 14 năm (từ năm 103 đến năm 89 trước Công nguyên, một số tài liệu ghi làm tròn là gần 15 năm) tập hợp lực lượng trong vùng núi, vua Valagamba đã giành lại ngai vàng ở Anuradhapura. Để báo đáp ân đức Tam Bảo, nhà vua đã cho dựng các vách ngăn bằng gạch đá dưới mái vòm đá khổng lồ, tạc tượng và biến các hang tu khổ hạnh trên sườn núi Dambulla thành một đại tự viện hoàng gia uy nghiêm (Raja Maha Vihara).
Có hai chi tiết người tham quan lần đầu thường dễ nhầm lẫn. Thứ nhất, nhiều người nhìn thấy bức tượng Phật mạ vàng cao 30 mét và tòa bảo tàng hình miệng sư tử nằm ngay dưới chân đồi sát mặt đường lớn liền tưởng đó là di tích cổ Kim Sơn Thạch Tự. Thực ra tòa nhà dưới chân núi là khu Bảo tàng Phật giáo và Chùa Vàng hiện đại mới khánh thành vào năm 2000, còn khu di sản UNESCO 2.100 năm tuổi nằm ở lưng chừng núi đá phía trên cao hơn mặt đường khoảng 100 mét. Thứ hai là về kích thước pho tượng Phật nhập Niết bàn ở Động 1 (Devaraja Lena): hồ sơ chính thức của UNESCO và các bản khảo cứu khảo cổ đo phần thân tượng tạc liền khối đá dài 14 mét (khoảng 46 feet), trong khi một số cẩm nang du lịch tính gộp cả phần bệ đá và gối đầu nên ghi là 15 mét. Thư viện nêu rõ cả hai cách đo để quý vị tiện đối chiếu.
IITừ Di Chỉ Tiền Sử Ibbankatuwa Đến Các Đợt Đại Trùng Tu Polonnaruwa Và Kandy
Khảo cổ học hiện đại đã chứng minh vùng núi đá Dambulla có con người cư trú từ rất lâu trước khi Phật giáo truyền tới đảo quốc: cách chân núi Dambulla chưa đầy ba cây số là khu mộ táng cự thạch Ibbankatuwa với các bộ hài cốt người tiền sử và đồ trang sức bằng đá quý, đất nung có niên đại khoảng năm 700 trước Công nguyên (2.700 năm tuổi). Khi Phật giáo bén rễ tại Sri Lanka vào thế kỷ 3 trước Công nguyên, hơn tám mươi hang đá tự nhiên quanh khối núi Dambulla đã trở thành nơi thiền định của chư tăng, để rồi phát triển thành trung tâm nghệ thuật Phật giáo xuyên suốt ba thời kỳ đại vương triều Anuradhapura, Polonnaruwa và Kandy.
- Khoảng 700 TCNCư dân tiền sử tại di chỉ IbbankatuwaCác cộng đồng cư dân thời kỳ đồ sắt sơ kỳ sinh sống quanh vùng Dambulla và để lại khu mộ táng cự thạch Ibbankatuwa trước khi Phật giáo du nhập.
- Thế kỷ 3 tới 2 TCNHình thành cụm thạch thất của Tăng đoàn sơ kỳNgay sau khi Phật giáo truyền vào đảo quốc thời vua Devanampiya Tissa, các bậc Tỳ-kheo tu ẩn đã đục rãnh thoát nước mưa (Katara) và khắc minh văn chữ Brahmi cổ trên vòm đá Dambulla.
- 103 tới 77 TCNVua Valagamba kiến tạo đại thạch tự hoàng giaSau 14 năm ẩn náu (103 tới 89 TCN) và khôi phục ngai vàng tại Anuradhapura (trị vì lần hai từ 89 tới 77 TCN), vua Valagamba xây tường chắn vòm đá và thiết lập các điện thờ trong hang động Dambulla, cùng lúc với việc cho kết tập kinh điển Tam Tạng Pali viết lên lá bối tại chùa Aluvihara (Matale) gần đó.
- 1055 tới 1110Vua Vijayabahu I trùng tu các thạch độngSau khi giải phóng đảo quốc khỏi ách cai trị của đế chế Chola và dời đô về Polonnaruwa, vua Vijayabahu I cho tu bổ lại các hang động và phục hồi hoạt động lễ bái tại Dambulla.
- 1190Vua Nissanka Malla thếp vàng 73 pho tượng PhậtQuốc vương Nissanka Malla (trị vì 1187 tới 1196) của vương triều Polonnaruwa đích thân hành hương tới Dambulla, xuất 700.000 đồng tiền vàng để trùng tu, thếp vàng hơn 70 pho tượng Phật, tạc tượng chính mình trong Động 2 và khắc bài bia đá lớn ngay lối vào, đặt tên chùa là Swarnagiri Guha (Kim Sơn).
- 1747 tới 1798Đại trùng tu và vẽ bích họa dưới vương triều KandyCác vị vua sùng Phật của vương quốc Kandy là Kirti Sri Rajasinha (1747 tới 1782) và Rajadhi Rajasinha (1782 tới 1798) cho mở rộng thêm Động 3 (Maha Aluth Vihara), tạc mới hàng chục pho tượng và vẽ lại gần như toàn bộ 2.100 mét vuông bích họa trên trần và vách đá theo phong cách hội họa Kandy.
- 1915 và 1938Thiết lập Động 5 và dựng hành lang vòm trắng mặt tiềnKhoảng năm 1915, khoang hang thứ năm (Devana Aluth Vihara) được tu bổ và tôn tạo tượng thờ. Năm 1938, dãy hành lang hiên có mái ngói dốc và hàng cột vòm trắng (veranda) chạy dọc mặt ngoài năm cửa động được xây dựng.
- 1991Ghi danh Di sản Thế giới UNESCOUNESCO chính thức công nhận Chùa Vàng Dambulla (Golden Temple of Dambulla) là Di sản Thế giới theo tiêu chí (i) và (vi) với mã số 561.
Một tấm bia đá quan trọng bậc nhất tại di tích là Bia đá của vua Nissanka Malla khắc vào cuối thế kỷ 12 ngay trên vách đá gần lối vào thạch động, cùng với bức văn kiện hoàng gia Kandy thế kỷ 18 mang tên Dambulu Vihara Tudapatha (năm 1780). Nếu bia ký của vua Nissanka Malla xác nhận quy mô thếp vàng các pho tượng cổ và khẳng định vị thế quốc tự của Dambulla dưới thời Polonnaruwa, thì văn bản Tudapatha thời Kandy lại ghi chép tỉ mỉ danh sách từng pho tượng, từng mảng bích họa trần động được dòng họ họa sĩ truyền thống Nilagama trực tiếp chấp bút dưới sự bảo trợ của vua Kirti Sri Rajasinha và vua Rajadhi Rajasinha. Theo báo cáo bảo tồn của UNESCO và dự án Tam giác Văn hóa Sri Lanka (1982 tới 1996), khoảng 80 phần trăm diện tích bích họa hiện còn thấy trên vòm đá Dambulla mang bút pháp nguyên bản của thế kỷ 18 chồng lên các lớp vữa cổ hơn từ thời Anuradhapura và Polonnaruwa.
IIINăm Thạch Động Liên Hoàn, 153 Tượng Phật Và 2.100 Mét Vuông Bích Họa
Toàn bộ khu chánh điện của Chùa hang Dambulla nằm ẩn dưới một vòm đá hoa cương khổng lồ vươn ra ở độ cao hơn 100 mét trên sườn phía nam của khối đá cao 160 mét. Một vách đá tự nhiên chạy dài hơn 150 mét được ngăn bằng các bức tường gạch trát vữa trắng và nối liền bởi dãy hành lang vòm xây năm 1938, chia không gian trong lòng núi thành 5 thạch động chính (Pancha Maha Lena) xếp nối tiếp nhau từ đông sang tây. Trong năm thạch động ấy hiện lưu giữ tổng cộng 153 pho tượng Phật ở đủ các tư thế đứng, ngồi thiền định và nằm nhập Niết bàn, cùng 3 pho tượng quốc vương Sri Lanka (vua Valagamba, vua Nissanka Malla và vua Kirti Sri Rajasinha) và 4 pho tượng thần linh (gồm thần hộ pháp Upulvan tức Vishnu, thần Saman, thần Kataragama và thần Ganesha).
Đặc sắc nghệ thuật độc nhất vô nhị của Dambulla nằm ở 2.100 mét vuông bích họa (khoảng 23.000 feet vuông) phủ kín toàn bộ vòm trần đá tự nhiên và các vách hang. Không cần làm phẳng mặt đá lồi lõm, các nghệ nhân trường phái Kandy thế kỷ 18 đã phủ một lớp vữa mỏng pha nhựa cây và đất sét trắng lên thẳng thớ đá gồ ghề, rồi dùng màu khoáng tự nhiên (đỏ chu sa, vàng hoàng thổ, đen bồ hóng, xanh chàm và trắng kaolin) vẽ thuận theo độ uốn lượn của vòm đá, tạo cảm giác như một tấm lụa khổng lồ đang phập phồng bay lượn trên đầu người lễ Phật.
Thạch động đầu tiên ở phía đông, nổi bật với pho tượng Đức Phật nhập Đại Bát Niết Bàn dài 14 mét (tính cả bệ là 15 mét) tạc liền vào khối đá núi, lòng bàn chân còn giữ nét vẽ hoa sen đỏ tinh xảo. Dưới chân Phật là tôn giả Ananda đang trầm tư thương tiếc, phía đầu Phật là tượng thần Vishnu (Upulvan) gắn với truyền thuyết chư thiên trợ lực tạo dựng thạch động.
Thạch động lớn nhất và lộng lẫy nhất quần thể, rộng khoảng 52 mét từ đông sang tây, sâu 23 mét từ cửa vào vách hậu và vòm trần cao 7 mét. Động tôn trí gần 60 pho tượng Phật (16 tượng đứng, 40 tượng ngồi), tượng hai vị Bồ Tát Maitreya (Di Lặc) và Natha (Quán Thế Âm) bằng gỗ thếp vàng, tượng hai vua Valagamba và Nissanka Malla, ngôi bảo tháp nhỏ ở giữa hang cùng chiếc bình hứng giọt nước thiêng nhỏ xuống quanh năm từ khe nứt trên trần đá.
Thạch động lớn thứ hai, dài khoảng 27 mét, rộng 24 mét và cao 11 mét, vốn là kho chứa được vua Kirti Sri Rajasinha (1747 tới 1782) cải tạo thành đại điện Phật. Trong động có 50 pho tượng Phật, gồm một pho tượng Phật nhập Niết bàn dài 9 mét, pho tượng Phật ngồi dưới vòm cổng rồng Makara Torana tuyệt mỹ, một pho tượng gỗ tạc chân dung vua Kirti Sri Rajasinha và vòm trần vẽ hơn 1.000 hình Đức Phật tọa thiền.
Thạch động thứ tư (vốn nằm ở cực tây trước khi mở thêm Động 5), tôn trí các pho tượng Phật ngồi kết ấn Thiền định dưới vòm Makara Torana và ngôi bảo tháp gạch nhỏ ở chính giữa mang tên Soma Chetiya, tương truyền là nơi cất giữ trang sức châu báu của hoàng hậu Somawathie (chánh hậu của vua Valagamba).
Thạch động nhỏ nhất nằm ở đầu phía tây cùng, trước kia dùng làm nhà kho và được kiến tạo thành điện thờ Phật vào khoảng năm 1915. Động tôn trí một pho tượng Phật nhập Niết bàn dài 10 mét đắp bằng gạch và vữa hồ, vây quanh là mười một pho tượng Phật đứng và ngồi cùng các bức tượng thần Vishnu, Kataragama và thần địa phương Bandara.
Trên vòm trần rộng lớn của Động Maharaja Lena là những bức tranh tường kinh điển của hội họa Sinhala: cảnh Đức Phật hàng phục ma quân Mara (Mara Parajaya) với đoàn quỷ sứ cưỡi voi dữ, cảnh Đức Phật thuyết pháp lần đầu tại vườn Lộc Uyển, cảnh vua Devanampiya Tissa đón nhánh Bồ Đề và trận đấu voi lịch sử giữa vua Dutugemunu và vua Elara.
Điểm kỳ diệu về mặt kỹ thuật tự nhiên bên trong Động 2 (Maharaja Lena) là mạch nước ngầm nhỏ giọt trên vòm trần. Dù mặt đất bên ngoài vùng Matale có trải qua những tháng hạn hán khắc nghiệt nhất, từ một khe đá nhỏ trên trần động, những giọt nước trong vắt vẫn chảy ngược theo độ nghiêng của vòm đá rồi nhỏ từng giọt đều đặn xuống một chiếc bình lớn đặt bên trong hàng rào gỗ. Người xưa đã vẽ trên trần đá quanh khe nứt ấy hình những đàn cá bơi lội giữa đầm sen để đánh dấu mạch thủy linh thiêng, và nguồn nước tinh khiết ấy chỉ được múc ra để phục vụ các nghi thức cúng dường Đức Phật hàng ngày.
IVThế Đất Và Hướng
Phật giáo Thượng tọa bộ không lựa chọn địa điểm tu hành dựa trên lý thuyết phong thủy ngũ hành Á Đông, mà chọn các thạch động trên núi Dambulla vì sự tĩnh mịch tách biệt với phố thị để chư tăng chuyên tâm hành thiền, đồng thời tận dụng địa thế hiểm yếu trên cao làm nơi trú ẩn an toàn trong thời kỳ biến động lịch sử thế kỷ 1 trước Công nguyên. Phần dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép hình thế cổ truyền của thư viện dựa trên địa hình thực tế và tọa độ vệ tinh của núi đá Dambulla.
Xét về long mạch và hình thế chủ sơn, khối đá Dambulla tọa lạc ở tọa độ 7,8567 độ vĩ Bắc, 80,6492 độ kinh Đông, ngay tại điểm chuyển tiếp địa chất giữa các dãy núi cao nguyên trung tâm ở phía nam (vùng Matale và Kandy) đổ xuống vùng đồng bằng Rajarata ở phía bắc. Trong địa chất học, đây là một khối đá inselberg (núi đá đơn độc trồi lên giữa bình nguyên) bằng đá gneiss và hoa cương tiền Cambri cao 160 mét so với mặt ruộng xung quanh và có chu vi chân núi rộng hơn 1,5 cây số, lưng khối đá tròn đầy đen bóng như mu một con rùa khổng lồ (Kim Quy sơn) hoặc lưng một chú voi phục giữa đồng bằng. Năm thạch động nằm ở lưng chừng sườn núi phía nam, lấy toàn bộ khối đá đặc nguyên khối cao vọt phía sau và phía trên đỉnh đầu làm hậu chẩm (Huyền Vũ) vững chãi tuyệt đối, che chắn mọi luồng gió bấc và bảo vệ nội điện khỏi sự xâm thực của thời tiết suốt hơn hai ngàn năm.
Xét về sơn hướng và minh đường, cửa của cả năm thạch động và dãy hành lang mặt tiền đều mở về hướng Nam và Tây Nam, nhìn ra một khoảng sân đá phẳng phiu chạy dọc triền núi đóng vai trò nội minh đường. Ngay trên mặt sân đá trước cửa động có một hồ nước tự nhiên nhỏ đọng trên hõm đá quanh năm không cạn cùng cây Bồ Đề cổ thụ tỏa bóng, tạo thế tụ thủy ngay trước huyết mạch. Phía xa hơn về hướng nam và đông nam là vùng bình nguyên rộng mở với hồ chứa nước cổ Kandalama Wewa và dãy núi Ritigala, Sigiriya ở phía bắc đông bắc ứng chiếu làm ngoại minh đường và triều sơn. Nhờ vòm đá trên đỉnh vươn ra phía trước như chiếc mũ sắt che chở (tàng phong) và mạch nước ngầm tự nhiên rỉ ra trong lòng Động 2 (đắc thủy), thạch động Dambulla hội đủ hai yếu tố cốt lõi là tàng phong và đắc thủy ngay giữa lòng đá cứng.
VNghi Thức Cúng Dường Nước Thiêng Và Các Kỳ Lễ Lớn Tại Thạch Tự
Là một tự viện hoàng gia (Raja Maha Vihara) hoạt động liên tục suốt hai mươi hai thế kỷ mà chưa từng bị gián đoạn, Chùa hang Dambulla duy trì nếp phụng tự cổ truyền theo lịch Phật giáo âm dương của Sri Lanka. Mỗi ngày, chư tăng thuộc sơn môn Asgiriya đều mở cửa năm thạch động để cử hành ba thời lễ dâng hoa sen, thắp đèn dầu dừa và dâng nước thiêng lấy từ chiếc bình trong Động 2 lên chư Phật. Vào các ngày rằm trăng tròn (Poya) hàng tháng, hàng ngàn Phật tử bản địa mặc áo trắng mang theo hoa súng tím và hoa đại trắng leo bộ từ chân núi lên sân đá trước cửa hang để thọ Bát quan trai giới và ngồi thiền dưới bóng vòm đá.
| Thời điểm | Theo lịch nào | Tên lễ hội | Nghi thức và hoạt động chính |
|---|---|---|---|
| Rằm tháng Vesak (tháng 5 dương lịch) | Lịch Phật giáo Sri Lanka | Đại lễ Phật Đản Vesak Poya | Đại lễ lớn nhất trong năm kỷ niệm ngày Đức Phật đản sinh, thành đạo và nhập Niết bàn: toàn bộ sườn núi và năm thạch động được thắp sáng bằng hàng ngàn ngọn đèn dầu và lồng đèn giấy (Vesak kudu), tín đồ thức trắng đêm nghe pháp và hành thiền trên sân đá. |
| Rằm tháng Poson (tháng 6 dương lịch) | Lịch Phật giáo Sri Lanka | Đại lễ Poson Poya | Kỷ niệm sự kiện Phật giáo truyền vào đảo quốc: dọc đường lên núi Dambulla mở các trạm phát cơm chay và nước uống miễn phí (Dansala) cho khách hành hương đi lễ các thánh tích trong vùng Tam giác Văn hóa. |
| Tháng Vap (tháng 10 tới tháng 11 dương lịch) | Lịch Phật giáo Sri Lanka | Đại lễ Dâng Y Kathina (Katina Pinkama) | Khép lại ba tháng an cư mùa mưa (Vassa), cư sĩ Phật tử vùng Matale tổ chức đoàn rước y Kathina từ chân núi lên dâng cúng chư tăng trụ trì thạch tự trong tiếng trống truyền thống. |
| Tháng Duruthu và tháng Bak (tháng 1 và tháng 4 dương lịch) | Lịch nông nghiệp truyền thống Sinhala | Lễ Dâng Lúa Mới (Aluth Sahal Mangallaya) | Nông dân các làng thuộc trang ấp truyền thống của chùa (Viharagam) dâng phần gạo đầu mùa thu hoạch từ ruộng lúa quanh vùng Dambulla lên cúng Phật tại năm thạch động. |
| Hằng ngày (sáng sớm, trưa và chiều tối) | Nếp phụng tự thường nhật | Ba thời lễ Thewawa (Buddha Puja) | Chư tăng cử hành nghi thức dâng hương hoa, thực phẩm và nước tinh khiết hứng từ mạch nước nhỏ giọt trên trần Động 2 lên các pho tượng Phật trong tiếng trống lễ. |
Đối với các đoàn hành hương Phật giáo từ Việt Nam sang Sri Lanka, Chùa hang Dambulla nằm ngay trên trục đường huyết mạch nối giữa cố đô Anuradhapura, pháo đài đá Sigiriya và thánh địa Chùa Răng Phật Kandy. Bước chân vào không gian tĩnh lặng của Động 1 và Động 2, chiêm ngưỡng pho tượng Phật nhập Niết bàn tạc liền vào vách núi đá đã tồn tại hơn hai thiên niên kỷ và nhìn những giọt nước trong vắt rơi đều đặn giữa lòng đá khô cằn, người hành hương dễ dàng tìm thấy sự lắng dịu sâu sắc sau chặng đường leo núi.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đồi đá Dambulla (Rangiri), đường Kandy đi Anuradhapura (A9), thị trấn Dambulla, huyện Matale, tỉnh Trung Bộ, Sri Lanka
- Đường tới
- Quần thể nằm ngay cạnh quốc lộ A9 (trục đường Kandy đi Anuradhapura) ở phía nam thị trấn Dambulla, cách thủ đô Colombo khoảng 148 cây số về phía đông bắc và cách thành phố Kandy 72 cây số về phía bắc. Từ bến xe buýt trung tâm Dambulla hoặc từ pháo đài đá Sigiriya (cách 19 cây số), quý vị đi xe buýt hoặc xe tuk-tuk chừng 5 đến 25 phút là tới chân đồi đá Dambulla.
- Toạ độ
- 7.8567, 80.6492
Để lên tới năm thạch động cổ trên lưng chừng núi, quý vị cần vượt qua khoảng 350 đến 400 bậc đá và đường dốc thoai thoải từ chân đồi (mất khoảng 15 tới 20 phút đi bộ). Quý vị bắt buộc phải mặc trang phục kín vai và dài qua đầu gối, cởi bỏ hoàn toàn giày dép, tất và mũ nón tại quầy giữ giày trước khi bước qua cổng vào sân đá trước cửa động (vào buổi trưa nắng gắt, mặt đá ngoài sân có thể khá nóng nên quý vị có thể đi tất trên sân ngoài rồi tháo tất khi bước vào cửa hang). Bên trong các thạch động, quý vị giữ trật tự tuyệt đối, không chạm tay vào các lớp bích họa cổ trên vách và trần đá, không dùng đèn nháy (flash) khi chụp ảnh và tuyệt đối không đứng quay lưng vào tượng Phật để chụp hình cá nhân.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa hang Dambulla (Kim Sơn Thạch Tự)
Contribute photos, information or video for Dambulla cave templeThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa hang Dambulla được hình thành từ bao giờ và gắn với vị vua nào?
Mặc dù các hang đá tại Dambulla đã có chư tăng Phật giáo cư trú tu tập từ thế kỷ 3 đến thế kỷ 2 trước Công nguyên (như minh văn chữ Brahmi cổ trên gờ đá chứng thực), quần thể chính thức trở thành đại tự viện hoàng gia vào thế kỷ 1 trước Công nguyên dưới triều vua Valagamba (Vattagamani Abhaya). Nhà vua đã ẩn náu tại đây suốt 14 năm khi kinh đô Anuradhapura bị ngoại bang chiếm đóng, và sau khi giành lại ngai vàng vào năm 89 trước Công nguyên, ông đã xây dựng hệ thống điện thờ trong lòng các hang đá để tạ ơn Tăng đoàn.
Bên trong 5 thạch động của Chùa hang Dambulla có bao nhiêu pho tượng và diện tích bích họa lớn đến mức nào?
Theo hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO (mã số 561), năm thạch động chính của Dambulla lưu giữ tổng cộng 153 pho tượng Phật ở các tư thế đứng, ngồi thiền định và nhập Niết bàn, cùng với 3 pho tượng quốc vương Sri Lanka (vua Valagamba, vua Nissanka Malla và vua Kirti Sri Rajasinha) và 4 pho tượng thần linh (như thần Vishnu và thần Ganesha). Toàn bộ vòm trần đá và vách trong của các hang được phủ kín bởi 2.100 mét vuông bích họa màu khoáng tự nhiên.
Vì sao Chùa hang Dambulla lại có tên gọi là Kim Sơn Thạch Tự (Rangiri Dambulla)?
Tên gọi Rangiri trong tiếng Sinhala (tương đương với Swarnagiri trong tiếng Phạn, nghĩa là Núi Vàng hay Kim Sơn) bắt nguồn từ sự kiện năm 1190 dưới triều đại Polonnaruwa. Khi ấy, quốc vương Nissanka Malla đã hành hương tới Dambulla, xuất ngân khố dát vàng 73 pho tượng Phật lớn trong các hang động và cho khắc tấm bia đá ngay gần lối vào để ban tặng danh hiệu Kim Sơn Thạch Động cho ngôi chùa.
Mạch nước nhỏ giọt trong Động 2 (Maharaja Lena) có điều gì kỳ lạ?
Bên trong Động thứ hai (Maharaja Lena, tức Động Đại Vương), có một mạch nước ngầm tự nhiên rỉ ra từ khe nứt trên vòm trần đá hoa cương. Điều đặc biệt là dòng nước chảy ngược theo độ dốc của trần đá rồi nhỏ từng giọt đều đặn xuống một chiếc bình đặt giữa hang suốt hơn hai ngàn năm qua, ngay cả trong những mùa khô hạn gay gắt nhất khi vùng đồng bằng xung quanh cạn kiệt nước. Nước trong bình được coi là nước thiêng, chỉ dùng cho các nghi thức cúng dường Đức Phật.
Các bức tranh tường trên trần đá Dambulla thuộc thời kỳ lịch sử nào?
Mặc dù truyền thống vẽ tranh trong hang đá Dambulla đã bắt đầu từ thời kỳ Anuradhapura và Polonnaruwa, khoảng 80 phần trăm diện tích bích họa hiện còn thấy ngày nay là tác phẩm của đợt đại trùng tu vào thế kỷ 18 dưới triều các vua Kirti Sri Rajasinha và Rajadhi Rajasinha của vương quốc Kandy. Các nghệ nhân thuộc gia tộc họa sĩ truyền thống Nilagama đã vẽ trực tiếp lên lớp vữa mỏng phủ theo độ lồi lõm tự nhiên của trần đá, tái hiện cuộc đời Đức Phật và các sự kiện lớn trong lịch sử Phật giáo Sri Lanka.