VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Cây Bồ Đề Jaya Sri Maha Bodhi, Anuradhapura

Jaya Sri Maha Bodhi, ජය ශ්‍රී මහා බෝධිය, महाबोधि (Anuradhapura), Uduvewa Bo Maluwa, Thánh thụ Bồ Đề Anuradhapura

Cội Bồ Đề thiêng có niên đại ghi chép lâu đời nhất thế giới do con người trồng từ thế kỷ 3 trước Công nguyên, mạch sống trực tiếp nối từ Bồ Đề Đạo Tràng sang cố đô Anuradhapura.

Niên đại trồng
288 TCN (hoặc 249 TCN)
triều vua Devanampiya Tissa, do Trưởng lão ni Sanghamitta rước sang
Đài thượng tầng
Cao 6,5 m
bao bọc bởi hàng rào vàng Ran Veta và các cây Parivara Bodhi
Xếp hạng
Di sản Thế giới UNESCO
Thành phố thiêng Anuradhapura, ghi danh năm 1982 (mã số 200)

Bước qua cổng đá phía bắc trên con đường cát trắng rợp bóng cây đại thụ của vườn thượng uyển Mahamevnawa tại cố đô Anuradhapura, quý vị sẽ nghe tiếng lá bồ đề hình trái tim xào xạc trong gió khô miền Bắc Trung Bộ, hòa cùng tiếng tụng kinh Pali trầm hùng của hàng ngàn tín đồ mặc y phục trắng tinh khiết đang ngồi xếp bằng trên nền cát. Chính giữa khuôn viên là một đài đất vuông vức xây gạch đá cao 6,5 mét so với mặt sân. Trên đỉnh đài cao ấy, vươn lên giữa hai lớp hàng rào mạ vàng sáng rực và được nâng đỡ bởi những trụ kim loại bọc vàng, là tán lá xanh thẫm của một cội bồ đề cổ thụ đã sống qua hơn hai thiên niên kỷ.

Người dân đảo quốc gọi cội cây ấy là Jaya Sri Maha Bodhi, nghĩa là Thánh thụ Bồ Đề Vĩ Đại Chiến Thắng. Được trồng vào thế kỷ 3 trước Công nguyên dưới triều vua Devanampiya Tissa từ chính nhánh phía nam của cội Bồ Đề gốc nơi Đức Phật Thích Ca thành đạo ở Bồ Đề Đạo Tràng (Ấn Độ), đây là cây cổ thụ do bàn tay con người trồng có lịch sử biên niên xác thực lâu đời nhất còn đang sống trên trái đất. Khi cội cây mẹ ở Ấn Độ từng nhiều lần bị tàn phá trong lịch sử, chính nhánh con tại Anuradhapura đã giữ trọn dòng máu sinh học của cội cây giác ngộ suốt hơn 2.300 năm qua.

Cây Bồ Đề Jaya Sri Maha Bodhi, Anuradhapura
Cây Bồ Đề Jaya Sri Maha Bodhi, Anuradhapura. Ảnh: Hirushini Dematagoda, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IHiện Thân Sống Của Đấng Giác Ngộ Và Sứ Mệnh Của Trưởng Lão Ni Sanghamitta

Trong truyền thống Phật giáo Thượng tọa bộ (Theravada) tại Sri Lanka, thánh tích được phân thành ba bậc: Saririka Cetiya (xá lợi thân cốt như xá lợi răng Phật ở Kandy), Paribhogika Cetiya (di vật gắn liền với sự thọ dụng của Đức Phật khi tại thế) và Uddesika Cetiya (tôn tượng biểu trưng). Cây Bồ Đề Jaya Sri Maha Bodhi thuộc bậc Paribhogika Cetiya tối thượng, vì thân cây này mọc lên trực tiếp từ nhánh chiết của cội cây Tất-bát-la (Assattha, danh pháp khoa học là Ficus religiosa) đã che bóng cho thái tử Tất-đạt-đa Cồ-đàm trong đêm ngài chứng quả Chánh đẳng Chánh giác bên dòng sông Ni-liên-thuyền (Neranjana). Bởi vậy, người Phật tử Tích Lan tôn kính cội cây trên đài Uduvewa Bo Maluwa như chính kim thân đang sống của Đức Thế Tôn.

Mối dây tâm linh giữa cội Bồ Đề Anuradhapura và Phật giáo Việt Nam vô cùng mật thiết. Vào năm 1953, Đại lão Hòa thượng Narada Maha Thera từ Sri Lanka đã đích thân mang các cây Bồ Đề con chiết từ Jaya Sri Maha Bodhi sang trao tặng Phật giáo Việt Nam, hiện đang tỏa bóng xanh tốt tại chùa Xá Lợi, chùa Kỳ Viên ở Sài Gòn và nhiều tổ đình miền Trung, miền Nam. Đến năm 1959, Tổng thống Ấn Độ Rajendra Prasad cũng trao tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh một cây Bồ Đề chiết từ dòng giống thiêng này để trồng tại chùa Trấn Quốc bên hồ Tây Hà Nội.

Theo giáo nghĩa

Theo bộ đại sử biên niên tiếng Pali Mahavamsa (Đại Sử, chương 18 và 19) do đại sư Mahanama biên soạn vào thế kỷ 5 cùng bộ Mahabodhivamsa, sau khi Trưởng lão A-la-hán Mahinda (con trai hoàng đế Ashoka của đế chế Maurya) truyền bá Phật pháp cho quốc vương Devanampiya Tissa tại Sri Lanka, hoàng hậu Anula cùng năm trăm phụ nữ trong cung đã xin xuất gia. Vì giới luật không cho phép Tăng đoàn nam giới truyền đại giới cho nữ giới, Trưởng lão Mahinda đã khuyên nhà vua cử sứ thần là cháu trai Arittha sang kinh đô Pataliputra (Hoa Thị Thành) thỉnh cầu hoàng đế Ashoka cho phép con gái ngài là Trưởng lão ni Sanghamitta (Tăng-già-mật-đa) sang đảo truyền giới Tỳ-kheo-ni, đồng thời rước theo nhánh phía nam của cội Bồ Đề thiêng tại Bồ Đề Đạo Tràng.

Theo sử liệu

Sử biên niên Mahavamsa chép rằng khi hoàng đế Ashoka đứng dưới cội Bồ Đề ở Bodh Gaya và dùng bút chu sa vẽ một vòng tròn quanh nhánh lớn phía nam cùng lời nguyện thành tâm, nhánh cây ấy đã tự tách rời khỏi thân mẹ và nhẹ nhàng hạ vào chiếc bình vàng đựng đất thơm. Trưởng lão ni Sanghamitta cùng mười một vị Tỳ-kheo-ni và đoàn tùy tùng thuộc mười tám phường hội hoàng gia (Attharasakulika) đã hộ tống bình vàng chứa nhánh Bồ Đề đi thuyền từ cảng Tamralipti vượt vịnh Bengal cập bến cảng Jambukola (nay thuộc bán đảo Jaffna ở cực bắc Sri Lanka). Vua Devanampiya Tissa đã lội xuống nước biển ngang cổ để tự tay nghênh đón bình Bồ Đề trên đầu mình, rồi mở đại lễ rước suốt mười bốn ngày về kinh đô Anuradhapura, trồng nhánh cây xuống vườn thượng uyển Mahamevnawa vào ngày trăng tròn tháng Unduvap (tháng 12 dương lịch). Việc rước nhánh Bồ Đề vì thế gắn liền với hai dấu mốc lịch sử: sự cắm rễ vĩnh cửu của Phật pháp tại đảo quốc và sự khai sáng Ni đoàn Tỳ-kheo-ni (Bhikkhuni Sasana) đầu tiên ngoài lãnh thổ Ấn Độ.

Chỗ hay hiểu lầm

Khi tra cứu niên đại trồng cây Jaya Sri Maha Bodhi, người đọc thường gặp ba con số khác nhau là 288 trước Công nguyên, 249 trước Công nguyên và 236 trước Công nguyên. Sự khác biệt này không phải do sai sót tư liệu mà bắt nguồn từ cách quy đổi giữa niên biểu truyền thống của sử biên niên Mahavamsa (tính mốc Đức Phật nhập diệt là năm 543 TCN và năm trồng cây là năm thứ 255 Phật lịch, tức 288 TCN) với niên biểu khảo cổ học hiện đại về triều đại hoàng đế Ashoka (trị vì khoảng 268 tới 232 TCN, theo đó sứ đoàn sang đảo vào khoảng năm 249 TCN hoặc 236 TCN). Thư viện ghi rõ cả ba mốc niên đại để quý vị nắm được căn nguyên lịch pháp. Điểm cần lưu ý thứ hai là cội Bồ Đề hiện đang đứng bên cạnh tháp Mahabodhi ở Bồ Đề Đạo Tràng (Ấn Độ) ngày nay thực chất là cây thế hệ thứ tư hoặc thứ năm được nhà khảo cổ Alexander Cunningham trồng lại vào cuối thế kỷ 19 từ hạt hoặc nhánh của chính cây Jaya Sri Maha Bodhi ở Anuradhapura sau khi cây cũ ở Ấn Độ bị bão quật đổ năm 1876.

IIHơn Hai Thiên Niên Kỷ Vương Triều Hộ Trì Và Bảo Tồn Thánh Thụ

Từ ngày bén rễ trên đất vườn Mahamevnawa cách đây hơn hai mươi ba thế kỷ, Jaya Sri Maha Bodhi đã đứng ở tâm điểm của đại tu viện Mahavihara (Đại Tự), trung tâm học thuật và bảo tồn kinh điển Pali lớn nhất thế giới Phật giáo Nam Tông cổ đại. Trong danh sách Atamasthana (Bát đại thánh tích của cố đô Anuradhapura), cội Bồ Đề luôn giữ vị trí đứng đầu. Trải qua bao cuộc thiên đô về Polonnaruwa, Dambadeniya hay Kandy khi rừng già từng phủ lấp cố đô Anuradhapura suốt nhiều thế kỷ, các thế hệ chư tăng, quốc vương và cư sĩ trong mười tám dòng tộc hộ pháp cổ truyền vẫn duy trì ngọn lửa canh giữ liên tục để bảo vệ cây trước voi rừng, gió bão và sự lão hóa tự nhiên.

  • 288 TCN (hoặc 249 TCN)Rước nhánh Bồ Đề từ Ấn Độ và trồng tại vườn Mahamevnawa
    Trưởng lão ni Sanghamitta hộ tống nhánh nam cội Bồ Đề từ Bồ Đề Đạo Tràng vượt biển sang cảng Jambukola. Vua Devanampiya Tissa (trị vì khoảng 307 tới 267 TCN theo truyền thống, hoặc 250 tới 210 TCN theo sử học hiện đại) cử hành đại lễ trồng cây trên nền đất thiêng tại kinh đô Anuradhapura.
  • 161 tới 137 TCNVua Dutugemunu tổ chức đại lễ cúng dường Bồ Đề
    Sau khi thống nhất đảo quốc và xây dựng đại bảo tháp Ruwanwelisaya cùng giảng đường chín tầng Lovamahapaya ngay kế bên, vua Dutugemunu dành ngân khố lớn để trang hoàng đài Bồ Đề và thiết lập nghi lễ cúng dường trọng thể.
  • 65 tới 236Tôn tạo tượng Phật và kiến trúc Bodhighara bao quanh
    Vua Vasabha (trị vì 65 tới 107) cho dựng ngôi nhà thờ bao quanh gốc cây (Bodhighara) và đặt bốn pho tượng Phật ở bốn phương của đài cây. Vua Voharika Tissa (214 tới 236) bổ sung thêm các pho tượng đồng và hệ thống đèn chiếu sáng.
  • 459 tới 477Vua Dhatusena trùng tu Bodhighara và kênh dẫn nước
    Dưới triều vua Dhatusena (cha của vua Kashyapa xây pháo đài đá Sigiriya), nhà vua cho cải tạo lại điện thờ quanh gốc Bồ Đề và mở các lễ hội tưới nước thơm quy mô lớn.
  • 569 tới 866Đào hệ thống mương dẫn nước nuôi rễ thánh thụ
    Vua Mahanaga (569 tới 571) cho đào hệ thống kênh dẫn nước tưới quanh đài Bồ Đề từ hồ Tissa Wewa, sau đó vua Sena II (846 tới 866) cho nạo vét và kè đá hoàn chỉnh toàn bộ thủy đạo.
  • 1747 tới 1782Xây tường thành đá Prakaraya chống voi rừng thời Kandy
    Dưới triều vua Kirti Sri Rajasinha của vương quốc Kandy, Hòa thượng Ilupandeniye Aththadassi Thera chỉ huy nhân dân xây dựng bức tường đá kiên cố (Prakaraya) cao 3 mét, dày 1,5 mét bao quanh khuôn viên để ngăn đàn voi rừng phá hoại cây và duy trì tục đốt củi sưởi ấm ngăn thú dữ.
  • 1969Lắp đặt hàng rào vàng Ran Veta bảo vệ đài thượng
    Dưới sự hướng dẫn của Hòa thượng Yatirawana Narada Thera và Hòa thượng Yagirala Pannananda Thera, hàng rào mạ vàng đầu tiên (Ran Veta) cùng hàng rào sắt nghệ thuật phía dưới được lắp đặt bao quanh đài Bồ Đề, sau đó được gia cố thêm lớp hàng rào vàng thứ hai vào đầu thế kỷ 21.
  • 1982Ghi danh Di sản Thế giới UNESCO
    UNESCO công nhận Thành phố thiêng Anuradhapura là Di sản Thế giới theo các tiêu chí (ii), (iii) và (vi) với mã số 200, trong đó khuôn viên Jaya Sri Maha Bodhi là hạt nhân tâm linh sống động nhất.
Theo sử liệu

Hồ sơ của UNESCO (mã số 200) và trang thông tin chính thức srimahabodhi.lk nhấn mạnh rằng Jaya Sri Maha Bodhi sở hữu một thiết chế quản trị truyền thừa đặc biệt gọi là Atamasthana Palakasabha, đứng đầu là vị Hòa thượng Trưởng ban Quản trị Bát đại thánh tích (Atamasthanadhipathi) thuộc sơn môn Malwatta của hệ phái Siam Nikaya. Trong suốt thời kỳ cố đô Anuradhapura bị bỏ hoang giữa rừng già từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 19, cư dân các làng truyền thống quanh vùng Nuwarakalawiya vẫn giữ tục lệ mang củi khô đến đốt lửa suốt đêm quanh chân đài (nghi lễ Daramiriya) để xua đuổi voi rừng và bảo vệ chồi non của thánh thụ. Nhờ sự chăm sóc kết hợp giữa lòng sùng tín truyền thống và các chuyên gia thực vật học của Vườn Bách thảo Hoàng gia Peradeniya hiện đại, cội cây hơn hai ngàn ba trăm tuổi vẫn đâm chồi nảy lộc đều đặn qua từng mùa mưa nắng.

IIICấu Trúc Đài Thượng Tầng, Hàng Rào Vàng Ran Veta Và Tượng Phật Đá Hoa Cương

Không gian kiến trúc của Jaya Sri Maha Bodhi tiêu biểu cho loại hình Bodhighara (điện thờ cây Bồ Đề) cổ đại của Sri Lanka: một cấu trúc mở hoàn toàn ở phần mái trung tâm để tán cây đón nắng mưa tự nhiên, kết hợp với các tầng nền bậc cấp đồng tâm bằng đá hoa cương và gạch nung. Toàn bộ khu đất thánh có mặt bằng hình chữ nhật chạy dài theo trục bắc nam, được bao bọc bởi bức tường đá cổ Prakaraya dài 118,3 mét (388 feet) theo chiều bắc nam, rộng 83,5 mét (274 feet) theo chiều đông tây, cao 3,0 mét (10 feet) và dày 1,5 mét (5 feet), trên mặt tường khoét hàng trăm ô hốc nhỏ để thắp đèn dầu đất nung vào các đêm trăng tròn Poya.

Trung tâm của khuôn viên là Udu Maluwa (Đài Thượng tầng), một khối bệ đất đắp cao khoảng 6,5 mét (21,3 feet) so với mặt sân cát bên dưới. Trên mặt đài cao này, cây Jaya Sri Maha Bodhi vươn cao khoảng 20 mét, các cành cổ thụ vươn ngang nặng trĩu được nâng đỡ cẩn trọng bằng hệ thống trụ chống kim loại mạ vàng sáng bóng để tránh gãy đổ khi có gió lốc. Bao quanh đài thượng là các tầng nền thấp hơn gọi là Pahatha Maluwa, nơi trồng 41 cây Bồ Đề hộ vệ (Parivara Bodhi) chia làm bốn phía như những hàng quân vệ sĩ che chắn sức gió, điều hòa độ ẩm đất và bảo vệ sinh thái cho cội cây gốc ở chính giữa.

Đài Thượng tầng (Udu Maluwa) và Thánh thụ chính

Nền đài vuông vức cao 6,5 mét ở trung tâm khuôn viên, nơi cây Jaya Sri Maha Bodhi gốc được trồng từ thế kỷ 3 TCN. Bốn mặt đài kè đá hoa cương kiên cố, lối lên chính mở ở hướng bắc qua cổng vòm chạm khắc tinh xảo.

Hai lớp Hàng rào Vàng (Ran Veta)

Hệ thống lan can bảo vệ mạ vàng rực rỡ bao quanh mép Đài Thượng tầng (lớp đầu tiên dựng năm 1969, lớp thứ hai bổ sung năm 2003), trên đỉnh các trụ rào tạo hình búp sen và lá bồ đề, vừa ngăn động vật hoang dã vừa tôn vinh vẻ uy nghiêm của thánh tích.

Quần thể Cây Bồ Đề Hộ Vệ (Parivara Bodhi)

Các cây Bồ Đề cổ thụ mọc trên các tầng nền thấp bao quanh bốn phương của đài chính, được trồng từ các hạt và nhánh chiết của chính cây mẹ qua nhiều thế kỷ nhằm tạo vành đai sinh học chắn gió bão cho cội cây trung tâm.

Điện thờ Phật phía Đông và Tượng Phật Xúc Địa bằng đá Dolomite

Ngôi điện thờ (Viharage) nằm ở phía đông chân đài Bồ Đề, nơi tôn trí pho tượng Phật ngồi cao 3,3 mét tạc liền khối từ đá cẩm thạch dolomite có niên đại khoảng thế kỷ 6. Đây là pho tượng cổ hiếm hoi ở Sri Lanka tạc Đức Phật ngồi thế Kim Cương (Vajraparyankasana) và bắt ấn Xúc Địa hàng ma (Bhumisparsa Mudra).

Phiến đá Bán nguyệt (Sandakada Pahana) và Đá Thần Rắn Naga

Tại bậc thềm lối vào cổng Bắc và cổng Đông lưu giữ các phiến đá bán nguyệt chạm nổi hoa sen, dây leo, đàn voi, ngựa, sư tử và thiên nga thời kỳ Anuradhapura, cùng các trụ đá chạm hình rắn thần Naga bảy đầu (Muragala) giữ cửa.

Bức tường Voi (Ath Pawura) và Cổng đá cổ

Hệ thống tường bao bằng đá nguyên khối xây từ thế kỷ 18 dưới thời vua Kirti Sri Rajasinha để ngăn voi rừng, kết hợp với bốn cổng ra vào ở bốn phương bắc, nam, đông, tây và các bệ đá cổ dùng để dâng hoa sen của các bậc đế vương.

Một điểm khảo cổ học nghệ thuật rất đáng chú ý tại điện thờ phía đông của đài Bồ Đề là pho tượng Phật bằng đá cẩm thạch dolomite cao 3,3 mét (an vị tại điện thờ này từ năm 1911, có niên đại gốc vào khoảng thế kỷ 6). Trong khi hầu hết tượng Phật ngồi cổ đại tại Sri Lanka (như tượng Phật Samadhi nổi tiếng) đều xếp chân theo thế Bán già (Sattvaparyankasana) và đặt hai bàn tay chồng lên nhau trong ấn Thiền định (Dhyana Mudra), pho tượng tại Jaya Sri Maha Bodhi lại ngồi kiết già toàn phần với hai lòng bàn chân ngửa lên (Vajraparyankasana), tay phải buông xuống chạm đất trong ấn Xúc Địa (Bhumisparsa Mudra). Ấn tướng gọi đất mẹ làm chứng khi hàng phục ma quân Mara dưới cội Bồ Đề ở Bodh Gaya được đặt ngay dưới bóng nhánh chiết của chính cội cây ấy tại Anuradhapura tạo nên sự tương ứng trọn vẹn giữa Pháp thân và Thánh tích.

IVThế Đất Và Hướng

Phật giáo Thượng tọa bộ tại Sri Lanka không sử dụng thuật phong thủy Trung Hoa hay Việt Nam, mà quy hoạch không gian thánh tích theo mô hình vũ trụ quan Phật giáo cổ đại kết hợp với nghệ thuật trị thủy hồ chứa (Wewa) của nền văn minh Sinhala tại vùng khô hạn Rajarata. Khi vua Devanampiya Tissa hiến tặng vườn thượng uyển Mahamevnawa cho Tăng đoàn, vị trí trồng cây Jaya Sri Maha Bodhi được chọn tại nơi mà theo truyền thuyết kinh điển, cây thiêng của ba vị Phật quá khứ trong hiền kiếp này (Kakusandha, Konagamana và Kassapa) từng đứng. Phần dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép hình thế cổ truyền của thư viện dựa trên bản đồ vệ tinh và địa hình thực tế của cố đô Anuradhapura.

Thế đất và hướng

Xét về đại cục sơn thủy và long mạch đồng bằng, cố đô Anuradhapura nằm trên vùng bình nguyên bằng phẳng thuộc lưu vực sông Malwathu Oya (tên cổ là Kadamba Nadi). Khuôn viên Jaya Sri Maha Bodhi tọa lạc ở tọa độ 8,3447 độ vĩ Bắc, 80,3967 độ kinh Đông, nằm trên dải đất cao ráo kẹp giữa dòng sông Malwathu Oya uốn lượn ở phía đông và hệ thống hai đại hồ nhân tạo cổ đại ở phía tây và tây nam là Tissa Wewa (do chính vua Devanampiya Tissa đào vào thế kỷ 3 TCN) và Basawakkulama Wewa (hồ Abhaya Wewa đào từ thế kỷ 4 TCN). Trong phép xem đất bình dương (đồng bằng không có núi cao), nhất thốn cao vi sơn, nhất thốn thấp vi thủy (cao một tấc là núi, thấp một tấc là nước): việc đắp nền Đài Thượng tầng cao vọt lên 6,5 mét giữa sân cát phẳng chính là phép tạo chủ sơn nhân tạo để kết tụ sinh khí, đồng thời giúp bộ rễ cội Bồ Đề thoát úng trong mùa mưa lũ và đón mạch nước ngầm thẩm thấu từ các hồ lớn dẫn về.

Xét về trục định hướng và tứ phương hộ vệ, khuôn viên Jaya Sri Maha Bodhi mở cổng chính ở hướng Bắc (hướng về phía kinh thành cổ và đại bảo tháp trắng Ruwanwelisaya cao 103 mét đứng sừng sững cách đó khoảng 500 mét về phía bắc), đồng thời mở cổng phụ và điện thờ Phật chính quay mặt về hướng Đông đón ánh bình minh. Nhìn trên trục bắc nam của đại tu viện Mahavihara: phía bắc có đại bảo tháp Ruwanwelisaya và tháp Thuparama làm tiền án và hậu chẩm liên hoàn, phía đông bắc có 1.600 cột đá của giảng đường đồng Lovamahapaya làm tả Thanh Long, phía tây và tây nam có mặt nước mênh mông của hồ Tissa Wewa làm hữu Bạch Hổ tụ thủy, còn bốn mươi mốt cây Bồ Đề con (Parivara Bodhi) vây quanh bốn mặt đài chính đóng vai trò lớp hộ sa che chắn gió khô mùa gió mùa Tây Nam. Thế đất bằng phẳng, thủy mạch bao quanh và rừng bồ đề đồng khí tương cầu đã giúp thánh thụ trường tồn hơn 2.300 năm giữa vùng khí hậu bán khô hạn.

VTứ Đại Lễ Nông Lịch Và Các Kỳ Trăng Tròn Poya Tại Đài Bồ Đề

Tại Jaya Sri Maha Bodhi, nhịp sống tâm linh vận hành theo lịch Phật giáo âm dương của Sri Lanka gắn với các ngày trăng tròn (Poya) hằng tháng và bốn đại lễ hoàng gia theo mùa nông nghiệp (Sathara Mangallaya) có truyền thống từ thời các vua Anuradhapura. Mỗi ngày, nghi thức cúng dường Thewawa được cử hành ba thời (sáng sớm, trưa và chiều tối) trong tiếng trống Hevisi và kèn Horanawa do các gia tộc nhạc công truyền thống đảm trách. Đặc biệt, nông dân khắp vùng đồng bằng Bắc Trung Bộ vẫn giữ tục lệ dâng những hạt gạo đầu mùa từ vụ gặt chính lên cội Bồ Đề để cầu mưa thuận gió hòa và mùa màng bội thu.

Các ngày lễ Poya tính theo chu kỳ trăng tròn của lịch Phật giáo Sri Lanka nên ngày dương lịch thay đổi theo từng năm. Nguồn: srimahabodhi.lk, whc.unesco.org/en/list/200..
Thời điểmTheo lịch nàoTên lễ hộiNghi thức và ý nghĩa
Rằm tháng Unduvap (tháng 12 dương lịch)Lịch Phật giáo Sri LankaĐại lễ Unduvap Poya (Sanghamitta Day)Đại lễ quan trọng nhất trong năm tại thánh tích, kỷ niệm ngày Trưởng lão ni Sanghamitta rước nhánh Bồ Đề từ Ấn Độ cập bến Sri Lanka và trồng tại Anuradhapura, đồng thời thành lập Ni đoàn Tỳ-kheo-ni.
Tháng Duruthu (tháng 1 dương lịch)Lịch nông nghiệp và Phật lịch Sri LankaLễ Dâng Gạo Mới (Aluth Sahal Mangallaya)Một trong tứ đại lễ cổ truyền: nông dân khắp vùng Rajarata rước phần lúa gạo đầu tiên thu hoạch từ vụ mùa Maha dâng vào chiếc bát vàng khổng lồ đặt trước đài Bồ Đề để nấu cơm sữa (Kiribath) cúng Phật.
Tháng Bak (tháng 4 dương lịch)Lịch cổ truyền SinhalaLễ Năm Mới và Tắm Thảo Mộc (Parana và Aluth Avurudu Mangallaya)Dịp Tết cổ truyền của người Sinhala: cử hành lễ dâng nước giải khát dược thảo (Gilanpasa) trước Tết một tuần và lễ Nanumura Mangallaya dùng nước thơm nấu từ thảo mộc để sái tịnh thánh tích.
Rằm tháng Poson (tháng 6 dương lịch)Lịch Phật giáo Sri LankaĐại lễ Poson PoyaKỷ niệm ngày Trưởng lão A-la-hán Mahinda truyền bá Phật giáo vào Sri Lanka dưới triều vua Devanampiya Tissa, hàng triệu tín đồ mặc áo trắng hành hương về Anuradhapura và núi Mihintale.
Tháng Nikini (tháng 8 dương lịch)Lịch truyền thống vùng NuwarakalawiyaLễ Rước Củi Thiêng (Daramiriya Perahera)Nghi thức cổ xưa có từ thời các vua Kandy: cư dân địa phương rước những bó củi khô trên xe bò được trang hoàng rực rỡ về dâng cho chùa, nhắc lại truyền thống đốt lửa canh voi rừng bảo vệ cây Bồ Đề xưa kia.
Rằm tháng Il hoặc Kati (tháng 11 dương lịch)Lịch Phật giáo Sri LankaLễ Hội Ánh Sáng (Kati Mangallaya)Khép lại mùa an cư kiết hạ và lễ dâng y Kathina, hàng vạn ngọn đèn dầu đất nung được thắp sáng suốt đêm dọc theo bức tường đá Prakaraya và quanh các tầng nền của cội Bồ Đề.

Với các phái đoàn Tăng Ni và Phật tử Việt Nam hành hương về xứ Phật Tích Lan, lễ nhiễu ba vòng quanh đài Bồ Đề Jaya Sri Maha Bodhi, dâng y lụa vàng quấn quanh hàng rào tầng dưới và nhặt một chiếc lá bồ đề rụng tự nhiên trên sân cát về ép vào trang kinh là trải nghiệm thiêng liêng bậc nhất. Ngồi tĩnh tọa dưới bóng mát của cội cây có chung mạch sống với những cây Bồ Đề đang đứng ở chùa Trấn Quốc Hà Nội hay chùa Xá Lợi Sài Gòn, người hành hương cảm nhận rõ sợi dây nối liền hơn hai thiên niên kỷ lịch sử Phật giáo Nam Á và Đông Nam Á.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Vườn thượng uyển Mahamevnawa (Mahamewuna Uyana), khu Thành phố thiêng Anuradhapura, tỉnh Bắc Trung Bộ, Sri Lanka
Đường tới
Thánh tích nằm tại trung tâm khu Thành phố thiêng Anuradhapura, cách thủ đô Colombo khoảng 205 cây số về phía bắc đông bắc. Từ ga tàu hỏa Anuradhapura hoặc bến xe trung tâm thành phố mới (cách khoảng 3 đến 4 cây số về phía đông), quý vị có thể đi xe tuk-tuk hoặc xe đạp dọc theo đại lộ Sanghamitta Mawatha rợp bóng cây cổ thụ để tới thẳng cổng phía bắc của vườn Mahamevnawa.
Toạ độ
8.3447, 80.3967
Khi tới nơi

Vì đây là thánh tích sống được tôn kính bậc nhất tại Sri Lanka, quý vị đến chiêm bái cần mặc trang phục kín đáo từ vai xuống quá đầu gối, ưu tiên sắc trắng thanh tịnh theo phong tục bản địa. Quý vị cởi bỏ giày dép, tất và mũ nón tại khu gửi giày trước khi bước qua cổng kiểm tra an ninh để vào sân cát. Để bảo vệ bộ rễ và tuổi thọ của cội cây hơn 2.300 năm tuổi, tầng Đài Thượng (Udu Maluwa) hiện chỉ mở cho chư tăng làm lễ và công tác bảo tồn thực vật, khách hành hương sẽ đảnh lễ, dâng hoa sen, treo cờ nguyện ước và đi nhiễu tại các tầng sân dưới. Quý vị tuyệt đối không tự ý bứt lá tươi hay bẻ cành của các cây Bồ Đề trong khuôn viên, chỉ được phép nhặt những chiếc lá đã rụng tự nhiên xuống mặt đất.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Cây Bồ Đề Jaya Sri Maha Bodhi, Anuradhapura

Contribute photos, information or video for Jaya Sri Maha Bodhi

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Vì sao cây Jaya Sri Maha Bodhi ở Anuradhapura được coi là cây cổ thụ lịch sử lâu đời nhất thế giới?

Mặc dù trong tự nhiên có những cây thông hoặc cây tùng mọc hoang dã lâu năm hơn, Jaya Sri Maha Bodhi là cây cổ thụ do bàn tay con người trồng có niên đại lịch sử được ghi chép xác thực lâu đời nhất còn đang sống trên thế giới. Bộ đại sử biên niên Mahavamsa ghi rõ cây được chiết từ nhánh phía nam của cội Bồ Đề gốc ở Bồ Đề Đạo Tràng (Ấn Độ) và được vua Devanampiya Tissa trồng tại vườn Mahamevnawa vào năm 288 trước Công nguyên (hoặc khoảng năm 249 đến 236 trước Công nguyên theo niên biểu sử học hiện đại).

Ai là người đã đưa nhánh cây Bồ Đề từ Ấn Độ sang Sri Lanka?

Theo sử biên niên Mahavamsa và Dipavamsa, người trực tiếp hộ tống nhánh Bồ Đề thiêng vượt biển từ Ấn Độ sang Sri Lanka là Trưởng lão ni Sanghamitta (Tăng-già-mật-đa), con gái của hoàng đế Ashoka và là em gái của Trưởng lão A-la-hán Mahinda. Bà đã cập bến cảng Jambukola ở miền bắc đảo quốc cùng mười một vị Tỳ-kheo-ni và mười tám phường hội hoàng gia, vừa trao nhánh Bồ Đề cho vua Devanampiya Tissa vừa truyền giới lập nên Ni đoàn Tỳ-kheo-ni đầu tiên tại Sri Lanka.

Cội Bồ Đề ở Anuradhapura có mối liên hệ gì với cây Bồ Đề hiện nay tại Bồ Đề Đạo Tràng (Ấn Độ) và tại Việt Nam?

Khi cội Bồ Đề gốc ở Bồ Đề Đạo Tràng (Ấn Độ) bị hủy hoại qua các biến cố lịch sử và bị bão quật đổ vào năm 1876, nhà khảo cổ học người Anh Alexander Cunningham đã lấy hạt giống và nhánh chiết từ chính cây Jaya Sri Maha Bodhi ở Anuradhapura đem về trồng lại bên tháp Mahabodhi vào năm 1881. Tại Việt Nam, các cây Bồ Đề cổ thụ ở chùa Xá Lợi, chùa Kỳ Viên (Thành phố Hồ Chí Minh) và chùa Trấn Quốc (Hà Nội) cũng đều có nguồn gốc chiết từ dòng máu thiêng của cội cây này vào thập niên 1950.

Hàng rào vàng Ran Veta và các cây Parivara Bodhi quanh thánh thụ có tác dụng gì?

Cây Jaya Sri Maha Bodhi mọc trên Đài Thượng tầng cao 6,5 mét và được bao bọc bởi hai lớp hàng rào mạ vàng gọi là Ran Veta (lắp đặt từ năm 1969 và bổ sung năm 2003) cùng hệ thống trụ chống mạ vàng nâng đỡ các cành ngang già cỗi. Xung quanh đài chính ở các tầng nền thấp hơn có 41 cây Bồ Đề con gọi là Parivara Bodhi, đóng vai trò như một vành đai sinh thái che chắn gió lốc, giữ độ ẩm đất và bảo vệ cây mẹ ở trung tâm.

Pho tượng Phật trong điện thờ phía đông của đài Bồ Đề có điểm gì khác biệt so với các tượng Phật cổ khác ở Sri Lanka?

Trong điện thờ phía đông dưới chân đài Bồ Đề có tôn trí một pho tượng Phật ngồi cao 3,3 mét được tạc từ một khối đá cẩm thạch dolomite duy nhất vào khoảng thế kỷ 6. Khác với đại đa số tượng Phật cổ tại Sri Lanka thường ngồi thế Bán già và kết ấn Thiền định, pho tượng này tạc Đức Phật ngồi kiết già Kim Cương với hai lòng bàn chân ngửa lên và tay phải chạm đất trong ấn Xúc Địa (Bhumisparsa Mudra), tái hiện khoảnh khắc Đức Phật gọi đất mẹ chứng minh khi thành đạo dưới cội Bồ Đề.

›Đọc Tiếp