Đi dọc con phố nhỏ mang tên Từ Hoa uốn lượn quanh rìa bán đảo Nghi Tàm giữa mặt nước mênh mang của Hồ Tây thuộc phường Tây Hồ, thành phố Hà Nội, quý vị sẽ thấy một tòa cổng gỗ lim hai tầng tám mái vươn cao trên một hàng bốn cột trụ tròn đặt trên chân tảng đá hoa sen. Từ xa nhìn lại, những đầu đao cong vút lợp ngói mũi hài rêu phong của tòa tam quan và ba nếp điện thờ xếp song song bên trong hiện lên hệt như những cánh hoa sen vàng đang bung nở giữa làn sương sóng Tây Hồ. Đó là Chùa Kim Liên, ngôi cổ tự được giới nghiên cứu kiến trúc tôn vinh là một trong những kiệt tác kiến trúc gỗ đẹp và tinh xảo bậc nhất Việt Nam.
Không mang vẻ đồ sộ uy nghiêm của những đại tự dựa lưng vào vách núi đá, Chùa Kim Liên cuốn hút người chiêm bái bằng sự thanh thoát, đăng đối của mỹ thuật cung đình thời Lê - Trịnh và thời Tây Sơn hòa quyện trên nền đất từng là hành cung trồng dâu nuôi tằm của một nàng công chúa nhà Lý cách đây gần chín trăm năm.

ICông Chúa Từ Hoa Thời Lý Và Truyền Thống Tiền Phật Hậu Thần
Chùa Kim Liên tọa lạc trên một doi đất cao bằng phẳng nhô ra phía đông bắc Hồ Tây tại phố Từ Hoa, làng cổ Nghi Tàm, thuộc địa bàn phường Tây Hồ, thành phố Hà Nội (trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 là phường Quảng An, quận Tây Hồ cũ, sau khi sắp xếp phần diện tích phía trong đê của các phường Quảng An, Nhật Tân, Tứ Liên, Yên Phụ cùng các phường Bưởi, Xuân La theo Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 thành lập phường Tây Hồ mới). Trong dòng chảy gần một thiên niên kỷ của kinh thành Thăng Long, mảnh đất này vừa là chốn cửa Phật thanh tịnh, vừa là nơi ghi dấu công đức khai mở nghề nông tang của Công chúa Từ Hoa dưới triều vua Lý Thần Tông (trị vì 1128 - 1138).
Qua các triều đại lịch sử, ngôi chùa đã mang bốn tên gọi nối tiếp nhau, mỗi cái tên là một dấu mốc văn hóa: khởi đầu từ Cung Từ Hoa (và am nhỏ thờ Phật của công chúa thời Lý), sang thời Trần đổi gọi là Đống Long Tự (chùa Đống Long), đến thời Lê Sơ thế kỷ 15 mang tên chữ Đại Bi Tự (大悲寺 - ngôi chùa của lòng Đại Bi cứu khổ), và từ đợt đại trùng tu năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771) dưới thời chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm chính thức mang tên Kim Liên Tự (金蓮寺 - Chùa Sen Vàng) cho đến ngày nay.
Sự hình thành của Chùa Kim Liên từ nền cung Từ Hoa phản ánh một nét đẹp đặc trưng của văn hóa Phật giáo thời Lý: sự hòa quyện giữa đạo tâm xuất thế và công hạnh lao động giúp dân. Theo sử cũ và thần tích làng Nghi Tàm, Công chúa Từ Hoa là con gái yêu của vua Lý Thần Tông. Khi đến tuổi trưởng thành, thay vì ở lại trong hoàng thành Thăng Long hưởng lụa là phú quý hay kết duyên quyền quý, công chúa đã xin vua cha cho đưa các cung nữ ra vùng bãi đất ven hồ Dâm Đàm (Hồ Tây) để lập Trại Tằm Tang (tiền thân của làng Nghi Tàm ngày nay), tự tay khai khẩn đất bãi trồng dâu, chăn tằm, ươm tơ, dệt lụa và truyền dạy nghề tơ tằm cho dân nghèo quanh vùng. Cuộc sống vừa lao động canh cửi vừa tụng kinh niệm Phật của công chúa và các cung nữ nơi cung Từ Hoa đã đặt nền móng tinh thần cho ngôi chùa: lấy lao động chân chính và lòng từ bi (Đại Bi) làm đóa sen vàng (Kim Liên) dâng lên Đức Phật.
Bằng chứng sử liệu khắc đá xác thực nhất hiện còn tại chùa là tấm bia đá Đại Bi tự bi ký (大悲寺碑記) dựng từ thời Lê Sơ dưới triều vua Lê Nhân Tông, được giới nghiên cứu văn bia xác nhận là tấm bia đá có niên đại sớm nhất hiện còn trong các ngôi chùa ở nội thành Hà Nội. Về năm khắc cụ thể của tấm bia này, các tài liệu khảo cứu ghi nhận hai cách đọc chênh nhau hai năm trong cùng niên hiệu Thái Hòa: nhiều công trình lịch sử kiến trúc ghi bia dựng năm Thái Hòa thứ nhất (1443), trong khi một số bản dịch thác bản Hán Nôm ghi bia khắc năm Thái Hòa thứ 3 (Ất Sửu - 1445). Thư viện Vạn Đạo Đường ghi nhận rõ cả hai mốc 1443 và 1445. Nội dung văn bia cho biết vào đầu thời Lê Sơ, Tuyên Từ Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh (mẹ vua Lê Nhân Tông) đã ban cấp đất đai và tiền của để dựng lại ngôi chùa cổ trên nền cung Từ Hoa xưa và đặt tên là Đại Bi Tự.
Một nhầm lẫn rất hay gặp ở du khách khi tra cứu bản đồ di tích Hà Nội là nhầm Chùa Kim Liên (Kim Liên Tự ở làng Nghi Tàm bên Hồ Tây, thờ Phật và Công chúa Từ Hoa) với Đền Kim Liên (Cao Sơn Từ ở phường Kim Liên, quận Đống Đa cũ, ngôi đền trấn giữ phương Nam trong Thăng Long tứ trấn thờ thần Cao Sơn Đại Vương). Hai di tích này nằm ở hai phía hoàn toàn đối lập của kinh thành Thăng Long xưa (Đền Kim Liên ở cực Nam, Chùa Kim Liên ở phía Bắc bên Hồ Tây) và thuộc hai hệ thống tín ngưỡng khác nhau.
IITừ Cung Từ Hoa Thời Lý Đến Hai Đợt Đại Trùng Tu Năm 1771 Và 1792
Sau khi được Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh cho dựng lại với tên Đại Bi Tự và lập bia đá vào niên hiệu Thái Hòa (1443 / 1445), ngôi chùa bên bờ Hồ Tây tiếp tục trở thành điểm hành hương yêu thích của hoàng thất nhà Lê và phủ chúa Trịnh suốt các thế kỷ 17 và 18. Vào năm Quý Mùi, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 24 (1763) đời vua Lê Hiển Tông, Hoàng thái phi Vũ Thị Ngọc Tuyền (chính phi của chúa Ân Vương Trịnh Doanh và là thân mẫu của chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm) đã phát tâm cúng tiến tiền bạc để tu bổ chùa Đại Bi.
Đặc biệt, đến năm Tân Mão, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 32 (1771), chính chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (cầm quyền 1767 - 1782), một vị chúa nổi tiếng sùng Phật và say mê cảnh sắc thơ mộng của Hồ Tây, đã xuất ngân khố lớn, điều động thợ khéo của phủ chúa và cho chuyển vật liệu gỗ quý từ một hành cung về Nghi Tàm để kiến thiết lại toàn bộ ngôi chùa theo quy thức kiến trúc cung đình. Chính sau đợt đại trùng tu năm 1771 này, nhận thấy thế đất bán đảo Nghi Tàm nhô ra mặt nước Hồ Tây có hình dáng như một đài sen vàng, chúa Trịnh Sâm đã cho đổi tên chùa từ Đại Bi Tự thành Kim Liên Tự (Chùa Sen Vàng).
Hai thập niên sau, vào năm Nhâm Tý, niên hiệu Quang Trung thứ 5 (1792) dưới vương triều Tây Sơn (và hoàn thiện vào năm Cảnh Thịnh thứ nhất - 1793), Chùa Kim Liên tiếp tục trải qua một đợt đại trùng tu, mở rộng quy mô lớn do các vị quan lại và nhân dân làng Nghi Tàm hưng công. Đợt đại trùng tu năm 1792 đã định hình trọn vẹn bố cục ba tòa chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng xếp song song theo hình chữ Tam (三) cùng tòa cổng Tam quan gỗ một hàng cột chồng diêm tám mái độc nhất vô nhị còn giữ nguyên cho tới ngày nay.
- Thế kỷ 12 (1128 - 1138)Công chúa Từ Hoa lập cung Từ Hoa và Trại Tằm TangDưới triều vua Lý Thần Tông, Công chúa Từ Hoa đưa các cung nữ ra bãi ven Hồ Tây lập cung Từ Hoa và Trại Tằm Tang dạy dân trồng dâu nuôi tằm, sau khi bà mất nhân dân lập chùa thờ Phật và tưởng niệm công chúa.
- Thế kỷ 13 - 14Mang tên Đống Long Tự dưới triều TrầnSang thời nhà Trần, ngôi chùa trên nền cung Từ Hoa được mở rộng và mang tên chữ là Đống Long Tự.
- 1443 / 1445Dựng lại chùa Đại Bi và khắc bia đá niên hiệu Thái HòaDưới triều vua Lê Nhân Tông (niên hiệu Thái Hòa thứ nhất 1443 hoặc Thái Hòa thứ 3 - 1445), Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh cấp đất dựng lại chùa với tên Đại Bi Tự và dựng tấm bia đá Đại Bi tự bi ký cổ nhất nội thành Hà Nội.
- 1763Hoàng thái phi Vũ Thị Ngọc Tuyền hưng công tu bổNăm Cảnh Hưng thứ 24 (1763) đời vua Lê Hiển Tông, Hoàng thái phi Vũ Thị Ngọc Tuyền cúng tiến ngân lộc trùng tu chùa Đại Bi bên bờ Hồ Tây.
- 1771Chúa Trịnh Sâm đại trùng tu và đổi tên thành Kim Liên TựNăm Cảnh Hưng thứ 32 (1771), Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm xuất tiền và gỗ quý kiến thiết lại chùa theo phong cách kiến trúc cung đình và đổi tên chùa thành Kim Liên Tự (Chùa Sen Vàng).
- 1792 - 1793Đại trùng tu thời Tây Sơn định hình bố cục chữ TamNăm Quang Trung thứ 5 (1792), chùa được trùng tu lớn, hoàn chỉnh kết cấu ba nếp chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng hình chữ Tam và cổng Tam quan gỗ chồng diêm tám mái.
- 1962Xếp hạng Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp quốc giaNgày 28 tháng 4 năm 1962, Bộ Văn hóa ban hành Quyết định số 313-VH/VP xếp hạng Chùa Kim Liên là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngay trong đợt đầu tiên.
Hệ thống bia đá tại Chùa Kim Liên là một bộ biên niên sử bằng đá liên tục từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19. Ngoài tấm bia Đại Bi tự bi ký niên hiệu Thái Hòa (1443 / 1445), chùa còn lưu giữ các tấm bia khắc năm Hoằng Định thứ 7 (1606) đời vua Lê Kính Tông, bia năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771) ghi việc chúa Trịnh Sâm trùng tu đổi tên chùa Kim Liên, và bia năm Quang Trung thứ 5 (1792) ghi nhận đợt đại trùng tu thời Tây Sơn. Chính nhờ chuỗi văn bia xác thực này mà các nhà nghiên cứu kiến trúc cổ Việt Nam có thể định niên đại chính xác cho từng bộ vì kèo, từng bức chạm rồng mây trên gỗ của ngôi chùa.
IIIKiệt Tác Tam Quan Gỗ Một Hàng Cột Và Ba Nếp Chùa Chữ Tam
Trong lịch sử kiến trúc cổ truyền Việt Nam, Chùa Kim Liên được đánh giá là một kiệt tác độc bản bởi sự kết hợp giữa Cổng Tam quan gỗ kiểu một hàng cột (độc trụ hoành liệt) và mặt bằng ba tòa chính điện xếp theo hình chữ Tam (三) mang đậm hơi thở kiến trúc cung đình thế kỷ 18. Toàn bộ khu nội tự được đặt trên một nền gạch cao ráo bó vỉa đá xanh vững chãi, muốn bước vào chùa phải đi qua những bậc thềm đá từ phía mặt hồ Tây đi lên.
Công trình làm say lòng mọi kiến trúc sư và họa sĩ ngay từ cái nhìn đầu tiên là Cổng Tam quan Chùa Kim Liên. Khác với các cổng tam quan xây gạch hay dựng hai hàng cột thông thường, Tam quan Chùa Kim Liên được tạo dựng hoàn toàn bằng gỗ lim theo kết cấu một hàng bốn cột cái lớn đứng thẳng hàng ngang, chân cột kê trên bốn tảng đá xanh chạm cánh sen tinh tế. Để giữ cho một hàng cột gỗ đứng vững trước gió bão Hồ Tây mà không bị đổ nghiêng, các nghệ nhân thế kỷ 18 đã sử dụng hệ thống xà ngang, kẻ bẩy, ván bưng và bộ vì chồng diêm hai tầng tám mái tạo thế cân bằng trọng lực tuyệt hảo. Khoảng giữa hai cột trung tâm mở lối đi chính rộng rãi có bộ cánh cửa gỗ bức bàn, hai khoảng bên thu hẹp hơn làm hai cổng phụ. Phía trên là hai tầng tám mái lợp ngói mũi hài với tám đầu đao uốn cong vút như cánh phượng, dưới diềm mái và trên các bức cốn nách là những mảng chạm lộng, chạm nổi hình lưỡng long chầu nguyệt, rồng ổ, phượng hàm thư, tứ linh, hoa dây mang đường nét trau chuốt của điêu khắc cuối thời Lê Trung hưng và thời Tây Sơn.
Ba nếp chùa chữ Tam và hệ thống tượng thờ lịch sử
Bước qua cổng Tam quan và khoảng sân gạch rộng là khu chính điện được bố trí theo mặt bằng hình chữ Tam (三) gồm ba nếp nhà Chùa Hạ (Tiền đường), Chùa Trung (Thiêu hương) và Chùa Thượng (Thượng điện) nằm song song với nhau, ngăn cách bởi hai khoảng sân hẹp lộ thiên (thiên tỉnh) vừa giúp lấy ánh sáng tự nhiên và thông gió từ mặt Hồ Tây, vừa tạo chiều sâu lớp lang như các lớp cung điện thời xưa. Cả ba tòa đều dựng kiểu trùng thiềm điệp ốc (hai tầng tám mái chồng diêm), đầu đao gắn rồng đất nung uốn cong mềm mại. Đặc biệt, ở hai bên tường hồi của các nếp chùa được trổ những ô cửa sổ tròn hình chữ Thọ (sắc không song) xây gạch hoa rất thanh nhã.
Hệ thống tượng pháp bên trong ba nếp chùa hội tụ những tác phẩm điêu khắc gỗ thế kỷ 18 - 19 có giá trị nghệ thuật rất cao. Tại Chùa Hạ và Chùa Trung bài trí các pho tượng Hộ Pháp, Bát Bộ Kim Cương và các bức cửa võng chạm khắc hoa văn rồng phượng sơn son thếp vàng rực rỡ. Tại Chùa Thượng (nếp trong cùng cao nhất) tôn trí bộ tượng Tam Thế Phật, Di Đà Tam Tôn, Thích Ca Mâu Ni, Quan Âm Chuẩn Đề và tòa Cửu Long.
Điểm đặc biệt hiếm có trong phối thờ tại Chùa Kim Liên là bên cạnh chư Phật, chùa còn dành những không gian trang trọng để thờ hai nhân vật lịch sử có công lớn nhất với ngôi chùa: một là tượng Công chúa Từ Hoa (tạc trong dáng vẻ một vị nữ quý tộc triều Lý hiền từ, đoan trang, bên cạnh có tượng các thị nữ dâng hầu) để tưởng nhớ vị tổ nghề dâu tằm và người lập cung Từ Hoa, hai là tượng Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1739 - 1782), pho tượng chân dung tạc vị chúa Trịnh ngồi trên sập trong trang phục vương giả nhưng mang nét mặt trầm tư của một cư sĩ Phật giáo, đặc biệt phần râu và tóc trên pho tượng được cấy bằng tóc thật theo kỹ thuật tạc tượng chân dung truyền thống thế kỷ 18.
Kiệt tác kiến trúc gỗ độc nhất vô nhị dựng trên một hàng bốn cột cái đặt trên chân tảng đá sen, nâng bộ mái chồng diêm tám mái và các bức cốn chạm rồng mây tinh xảo.
Ba tòa điện gỗ hai tầng tám mái xếp song song kiểu chữ Tam (三) trên nền gạch cao bó đá xanh, nối với nhau qua sân thiên tỉnh thoáng đãng và trổ cửa sổ tròn chữ Thọ.
Tấm bia đá thời Lê Sơ dưới triều vua Lê Nhân Tông ghi việc dựng chùa Đại Bi trên nền cung Từ Hoa, được xác nhận là tấm bia chùa cổ nhất còn lưu giữ trong nội thành Hà Nội.
Bộ tượng gỗ sơn son thếp vàng tôn vinh Công chúa Từ Hoa (con gái vua Lý Thần Tông), người lập Trại Tằm Tang Nghi Tàm và khai mở nguồn gốc ngôi chùa.
Pho tượng chân dung nghệ thuật thế kỷ 18 có cấy râu tóc thật, ghi nhận công đức đại trùng tu và đổi tên chùa thành Kim Liên Tự năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771).
Nhiều người khi ngắm nhìn vẻ đẹp lộng lẫy như cung điện của ba nếp nhà Chùa Kim Liên thường nghĩ đây là kiến trúc nguyên bản từ thời Lý của Công chúa Từ Hoa. Thực tế, kiến trúc thời Lý của cung Từ Hoa chỉ còn lưu lại ở vị trí nền đất lịch sử, còn toàn bộ hệ khung gỗ, cổng Tam quan một hàng cột và ba nếp chùa chữ Tam hiện thấy là tinh hoa kiến trúc gỗ cuối thế kỷ 18 (kết tinh từ hai đợt đại trùng tu năm 1771 thời Lê - Trịnh và năm 1792 thời Tây Sơn). Chính sự nguyên vẹn của kiến trúc gỗ thế kỷ 18 này đã đưa Chùa Kim Liên vào danh sách những di tích kiến trúc cổ tiêu biểu nhất Việt Nam.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay sử liệu của chùa. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu lịch sử và đâu là kiến giải địa lý phong thủy.
Tại tọa độ 21,0585 độ vĩ Bắc và 105,8329 độ kinh Đông, Chùa Kim Liên tọa lạc trên một doi đất bán đảo thuộc làng cổ Nghi Tàm vươn ra mặt nước phía đông bắc của Hồ Tây (đầm Dâm Đàm / Lãng Bạc cổ). Trong phong thủy địa lý kinh thành Thăng Long, Hồ Tây là đại tụ thủy (minh đường nước lớn nhất của kinh đô) được hình thành từ một đoạn sông Hồng cổ để lại. Những mũi đất nhô ra lòng Hồ Tây như bán đảo Nghi Tàm, bán đảo Quảng An, bán đảo Tây Hồ (Phủ Tây Hồ) và đảo Cá Vàng (chùa Trấn Quốc) được cổ nhân ví như những đài sen nổi trên mặt nước (liên hoa xuất thủy), nơi thủy khí bao bọc ba mặt giúp trường khí vừa thanh khiết vừa không bao giờ bị tán loạn.
Xét về sơn hướng và trục cảnh quan, toàn bộ ba nếp chùa chữ Tam và cổng Tam quan Chùa Kim Liên đều tọa Đông - Đông Bắc (tọa Cấn - Dần), quay mặt chính về hướng Tây - Tây Nam (hướng Khôn - Thân) nhìn thẳng ra khoảng mặt nước mênh mông rộng lớn nhất của Hồ Tây. Lưng chùa ở phía đông tựa vào con đê cổ Nghi Tàm và dòng sông Hồng (Nhị Hà) chảy bên ngoài đê làm hậu chẩm vững chãi, trong khi mặt trước đón trọn làn gió mát và ánh hoàng hôn rực rỡ phản chiếu trên sóng nước Tây Hồ làm đại minh đường. Khi nhìn từ mặt nước Hồ Tây vào buổi chiều tà, tòa Tam quan tám mái và ba lớp mái chồng diêm của Chùa Hạ, Chùa Trung, Chùa Thượng xếp lớp cao dần trên nền đá xanh thực sự hiện hình thành một đóa sen vàng (Kim Liên) đang nở rộ trên mặt nước. Sự trùng khớp tuyệt đối giữa địa hình bán đảo ven hồ, kiến trúc mái cong tầng lớp và tên hiệu Kim Liên Tự cho thấy nhãn quan phong thủy cảnh quan bậc thầy của các kiến trúc sư thế kỷ 18.
VLễ Hội Tưởng Niệm Công Chúa Từ Hoa Và Nghi Lễ Chùa Kim Liên
Sinh hoạt lễ hội truyền thống tại Chùa Kim Liên gắn liền mật thiết với đạo lý uống nước nhớ nguồn của cư dân làng cổ Nghi Tàm đối với Đức Phật và vị tổ nghề tằm tang là Công chúa Từ Hoa. Hàng năm, lễ hội chính của chùa (lễ kỷ niệm ngày hóa và tưởng niệm công đức Công chúa Từ Hoa) được tổ chức trang trọng vào ngày mùng 1 tháng 3 âm lịch (cùng chuỗi lễ hội truyền thống vùng Nghi Tàm vào tháng Hai và đầu tháng Ba âm lịch). Vào ngày này, các bậc cao niên và nhân dân làng Nghi Tàm cử hành lễ dâng hương, dâng hoa tươi và các phẩm vật truyền thống của vùng đất ven Hồ Tây lên Tam Bảo và ban thờ Công chúa Từ Hoa để tri ân người đã truyền nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa cho dân làng từ thế kỷ 12.
Bên cạnh ngày lễ tưởng niệm Công chúa Từ Hoa đầu tháng Ba âm lịch, Chùa Kim Liên còn là điểm hành hương lễ Phật đầu xuân nổi tiếng của người dân Hà Nội trong hành trình du xuân quanh Hồ Tây (kết nối chùa Trấn Quốc, đền Quán Thánh, phủ Tây Hồ, chùa Tảo Sách, chùa Vạn Niên và chùa Kim Liên) vào dịp Tết Nguyên Đán, Rằm tháng Giêng, lễ Phật Đản (Rằm tháng Tư) và lễ Vu Lan (Rằm tháng Bảy).
| Thời gian âm lịch | Tên kỳ lễ | Nghi thức và hoạt động chính |
|---|---|---|
| Mùng 1 tháng 3 (chính lễ) | Lễ tưởng niệm Công chúa Từ Hoa | Lễ dâng hương, dâng hoa và lễ phẩm truyền thống của dân làng Nghi Tàm tại Chùa Kim Liên nhằm tưởng niệm công đức Công chúa Từ Hoa thời Lý |
| Mùng 10 tháng 2 | Hội làng Nghi Tàm kết nối cụm di tích đình - chùa | Nhân dân làng Nghi Tàm tổ chức tế lễ và dâng hương tại cụm di tích đình Nghi Tàm và Chùa Kim Liên cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa |
| Mùng 1 đến Rằm tháng Giêng | Lễ cầu an đầu xuân bên Hồ Tây | Phật tử và du khách thập phương hành hương lễ Phật đầu năm, chiêm ngưỡng kiến trúc Tam quan gỗ và cầu bình an |
| Rằm tháng Tư và Rằm tháng Bảy | Đại lễ Phật Đản và Vu Lan báo hiếu | Lễ tắm Phật, tụng kinh Đại Bi và cầu siêu báo hiếu cha mẹ theo truyền thống Phật giáo Bắc tông |
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Phố Từ Hoa, làng Nghi Tàm, phường Tây Hồ (trước ngày 01/07/2025 là phường Quảng An, quận Tây Hồ cũ), thành phố Hà Nội
- Đường tới
- Từ trung tâm hồ Hoàn Kiếm, đi theo đường Trần Nhật Duật - Yên Phụ - Nghi Tàm về phía tây bắc khoảng 5 km, sau đó rẽ trái vào phố Từ Hoa (con đường ven mặt nước Hồ Tây ôm quanh khu khách InterContinental) đi tiếp khoảng 600 mét là tới cổng Tam quan Chùa Kim Liên.
- Toạ độ
- 21.0585, 105.8329
Chùa Kim Liên là một kiệt tác kiến trúc gỗ cổ truyền có tuổi đời hơn hai thế kỷ rưỡi nằm trong khuôn viên thanh tịnh bên bờ Hồ Tây. Khi tới chiêm bái, quý vị xin mặc trang phục kín đáo, lịch sự, đi nhẹ nói khẽ qua cổng Tam quan gỗ, tuyệt đối không tựa người, không khắc vẽ hay chạm tay vào các bức chạm lộng rồng phượng trên gỗ lim và bề mặt tấm bia đá Thái Hòa thế kỷ 15. Việc chụp ảnh ngoại cảnh tại sân chùa cần giữ trật tự, tránh làm ảnh hưởng tới không gian lễ Phật của đại chúng.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Kim Liên
Contribute photos, information or video for Kim Liên PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Kim Liên có nguồn gốc từ đâu và thờ những ai?
Chùa Kim Liên khởi nguồn từ cung Từ Hoa được xây dựng dưới triều vua Lý Thần Tông (1128 - 1138), nơi Công chúa Từ Hoa cùng các cung nữ lập Trại Tằm Tang dạy dân trồng dâu nuôi tằm dệt lụa. Sau khi công chúa qua đời, nơi đây trở thành ngôi chùa thờ Phật kết hợp thờ Công chúa Từ Hoa và về sau phối thờ thêm chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm, người có công đại trùng tu chùa năm 1771.
Chùa Kim Liên đã trải qua những tên gọi nào trong lịch sử?
Ngôi chùa lần lượt mang bốn tên gọi gắn với bốn thời kỳ lịch sử: thời Lý khởi nguyên là Cung Từ Hoa (và am thờ Phật của công chúa), sang thời Trần gọi là chùa Đống Long (Đống Long Tự), đến thời Lê Sơ thế kỷ 15 đổi thành chùa Đại Bi (Đại Bi Tự) gắn với tấm bia đá Thái Hòa năm 1443/1445, và từ năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771) khi chúa Trịnh Sâm đại trùng tu đã chính thức đổi tên thành chùa Kim Liên (Kim Liên Tự, tức Chùa Sen Vàng).
Kiến trúc Cổng Tam quan và ba nếp chùa Kim Liên có gì đặc sắc?
Chùa Kim Liên nổi tiếng với Cổng Tam quan dựng hoàn toàn bằng gỗ lim theo kiểu một hàng bốn cột cái đặt trên chân tảng đá sen, nâng hệ mái chồng diêm hai tầng tám mái chạm khắc rồng phượng tinh xảo. Bên trong là ba nếp Chùa Hạ, Chùa Trung và Chùa Thượng xếp song song theo hình chữ Tam (三), mỗi nếp đều có hai tầng tám mái lợp ngói mũi hài và cửa sổ tròn chữ Thọ, định hình từ hai đợt đại trùng tu năm 1771 và 1792.
Tấm bia đá cổ nhất tại Chùa Kim Liên có niên đại từ năm nào?
Đó là tấm bia đá Đại Bi tự bi ký dựng dưới triều vua Lê Nhân Tông thời Lê Sơ, được xác nhận là tấm bia chùa có niên đại sớm nhất hiện còn trong khu vực nội thành Hà Nội. Các tài liệu nghiên cứu ghi nhận hai cách đọc năm khắc trong cùng niên hiệu Thái Hòa là năm Thái Hòa thứ nhất (1443) hoặc năm Thái Hòa thứ 3 (1445), ghi chép việc Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh cấp đất dựng lại chùa Đại Bi.
Chùa Kim Liên thuộc phường nào của thành phố Hà Nội sau ngày 01/07/2025?
Chùa Kim Liên nằm tại phố Từ Hoa, làng Nghi Tàm, thuộc địa bàn phường Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Trước ngày 01 tháng 7 năm 2025, chùa thuộc phường Quảng An, quận Tây Hồ cũ. Theo Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, phần diện tích phía trong đê của phường Quảng An và các phường lân cận quanh Hồ Tây được hợp nhất thành phường Tây Hồ mới trực thuộc thành phố Hà Nội.