Từ con phố Chùa Láng sầm uất của phường Láng, thành phố Hà Nội, bước qua vòm cổng ngoài rồi đi dọc con đường gạch Bát Tràng rợp bóng những gốc muỗm cổ thụ hàng trăm năm tuổi, quý vị sẽ bắt gặp một bộ cổng tam quan bốn cột vuông vức có vòm mái uốn cong gắn vào một tấm sập đá chạm rồng như chiếc long sàng của bậc đế vương. Trên trán cổng đắp nổi ba chữ Hán lớn Chiêu Thiền Tự. Đó là cửa ngõ dẫn vào Chùa Láng, ngôi đại danh lam từng được người Thăng Long xưa tôn xưng là Đệ nhất tùng lâm của vùng đất kinh kỳ.
Không chỉ là một ngôi chùa Phật giáo thông thường, Chùa Láng là không gian linh thiêng bậc nhất của tín ngưỡng tiền Phật hậu Thánh trên đất Kẻ Láng (làng Yên Lãng cổ). Ngôi chùa được dựng ngay trên nền nhà cũ của cha mẹ Thiền sư Từ Đạo Hạnh, bậc cao tăng huyền thoại thời Lý vừa là thiền sư đắc đạo, vừa là pháp sư đại tài, vừa là ông tổ nghề hát chèo và theo truyền thuyết đã đầu thai làm vua Lý Thần Tông để nối ngôi báu cho vương triều Lý.
IThiền Sư Từ Đạo Hạnh Và Hoá Thân Vua Lý Thần Tông
Chùa Láng tọa lạc tại số 112 phố Chùa Láng, thuộc địa bàn phường Láng, thành phố Hà Nội (trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 là phường Láng Thượng, quận Đống Đa cũ, sau khi hợp nhất phường Láng Thượng với phần còn lại của phường Láng Hạ và phường Ngọc Khánh theo Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 thành lập phường Láng mới). Trong lịch sử địa danh Thăng Long, vùng đất này là làng Yên Lãng (tục gọi là Kẻ Láng, gồm ba thôn Láng Thượng, Láng Trung và Láng Hạ nằm dọc bờ hữu ngạn sông Tô Lịch), thuộc tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận cũ. Chùa có tên chữ là Chiêu Thiền Tự (昭禪寺), mang hàm nghĩa vì có điều thiện rõ rệt của bậc thiền sư mà lập chùa hoặc ngôi chùa làm rạng rỡ đạo Thiền.
Cấu trúc thờ tự của Chùa Láng theo thức tiền Phật hậu Thánh rất điển hình của văn hóa tâm linh châu thổ Bắc Bộ thời Lý. Tại tòa Tiền đường và Thiêu hương phía trước thờ hệ thống chư Phật, Bồ Tát, La Hán và Minh Vương theo nghi thức Phật giáo Bắc tông. Tại tòa Thượng điện (Hậu cung) thâm nghiêm phía trong cùng là nơi phụng thờ Đức Thánh Láng Từ Đạo Hạnh (tên thật là Từ Lộ, mất năm 1116) và vua Lý Thần Tông (Lý Dương Hoán, 1116 - 1138, vị vua thứ năm của triều Lý được tin là kiếp hóa thân của chính Thiền sư Từ Đạo Hạnh).
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thế kỷ 11 - 12, Thiền sư Từ Đạo Hạnh là bậc tổ sư thuộc thế hệ thứ 12 của Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, nổi tiếng với sự dung hợp nhuần nhuyễn giữa Thiền tông và Mật tông (Phật giáo thần thông) cùng tín ngưỡng dân gian bản địa. Trước khi trút bỏ báo thân trong hang đá núi Sài Sơn (chùa Thầy) vào năm Hội Tường Đại Khánh thứ 7 (1116), ngài đã để lại bài kệ hỏi đáp về Chân tâm và bài kệ thị tịch Thuận thế khẳng định triết lý sinh tử tự tại, hóa thân vào cõi đời để hộ quốc an dân. Việc Thiền sư Từ Đạo Hạnh đầu thai làm con trai của Sùng Hiền hầu (em ruột vua Lý Nhân Tông) để rồi lên ngôi vua Lý Thần Tông trong bối cảnh vua Lý Nhân Tông không có con nối dõi phản ánh mối gắn kết máu thịt giữa Tăng già và Vương quyền thời Lý, khi bậc quốc sư không đứng ngoài vận nước mà trực tiếp hóa thân làm vua để giữ yên xã tắc.
Tiểu sử và hành trạng của Thiền sư Từ Đạo Hạnh được ghi chép chi tiết trong hai bộ cổ thư quan trọng nhất là Thiền uyển tập anh (soạn thời Trần) và Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ, quyển 3), cùng tấm bia đá Chiêu Thiền tự tạo lệ bi khắc năm Thịnh Đức thứ 4 (1656) hiện đặt tại chùa. Theo đó, thân phụ của Từ Đạo Hạnh là quan Đô sát Từ Vinh (quê gốc ở hương An Lãng / Yên Lãng), từng giữ chức Tăng quan Đô sát ở kinh thành Thăng Long và kết duyên cùng bà Tăng Thị Loan ở thôn Dịch Vọng (nay thuộc khu vực chùa Hoa Lăng, Cầu Giấy), rồi về dựng nhà sinh sống tại trại Yên Lãng (nền Chùa Láng ngày nay). Do Từ Vinh dùng pháp thuật trêu ghẹo phu nhân của Diên Thành hầu nên bị Pháp sư Đại Điên dùng phép đánh chết ném xác xuống sông Tô Lịch. Từ Lộ (Từ Đạo Hạnh) quyết chí sang Tây Thiên học phép Mật tông, trì tụng kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni đủ mười vạn tám nghìn biến, báo thù cho cha nơi cầu Yên Quyết trên sông Tô Lịch, sau đó giác ngộ lý nhân quả của Thiền học dưới sự chỉ điểm của Thiền sư Kiều Trí Huyền và Thiền sư Sùng Phạm, bèn lui về núi Phật Tích (Sài Sơn, Quốc Oai) tu hành đắc đạo.
Người hành hương khi nhắc tới Thiền sư Từ Đạo Hạnh thường chỉ nhớ tới Chùa Thầy (Thiên Phúc Tự ở Sài Sơn, Quốc Oai) mà quên mất mối quan hệ song hành giữa Chùa Thầy và Chùa Láng. Trong tâm thức người Thăng Long - Xứ Đoài, Chùa Thầy là nơi Đức Thánh Từ Đạo Hạnh tu hành, thuyết pháp và thoát xác nhập niết bàn (nơi lưu giữ bàn chân Thánh trên đá), còn Chùa Láng là nơi sinh trưởng trên nền nhà cũ của cha mẹ ngài và là nơi tôn vinh kiếp hóa thân làm vua Lý Thần Tông. Bởi vậy dân gian mới có câu ca gắn kết hai di tích: Nhớ ngày mùng bảy tháng ba, Trở vào hội Láng, trở ra hội Thầy.
IIGần Chín Trăm Năm Lịch Sử Của Đệ Nhất Tùng Lâm
Về niên đại khởi dựng và vị vua trực tiếp ban chiếu lập Chùa Láng, các nguồn sử liệu và văn bia ghi nhận hai thuyết gắn liền với hai vị hoàng đế nhà Lý trong thế kỷ 12. Thuyết thứ nhất (dựa theo truyền ngôn dân gian và một số thần tích vùng Yên Lãng) cho rằng chính vua Lý Thần Tông (trị vì 1128 - 1138) đã cho dựng chùa trên nền nhà cũ của cha mẹ kiếp trước (ông Từ Vinh và bà Tăng Thị Loan) để thờ tiền thân của mình là Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Thuyết thứ hai (được khắc rõ trên tấm bia đá Chiêu Thiền tự tạo lệ bi năm Thịnh Đức thứ 4 - 1656 do Tiến sĩ Nguyễn Văn Trạc soạn và được nhiều sử gia hiện đại đồng thuận) khẳng định vua Lý Anh Tông (trị vì 1138 - 1175, con trai của vua Lý Thần Tông) vì lòng hiếu kính với phụ hoàng Lý Thần Tông và cảm phục thánh đức của tiền thân vua cha là Thiền sư Từ Đạo Hạnh nên đã xuống chiếu khởi dựng đại tự Chiêu Thiền tại làng Yên Lãng để phụng thờ cả hai vị. Thư viện Vạn Đạo Đường dẫn rõ cả hai nguồn để tôn trọng tính xác thực của tư liệu.
Trải qua gần chín thế kỷ, Chùa Láng được các triều đại Trần, Lê Sơ, Mạc, Lê Trung hưng và Nguyễn liên tục trùng tu mở rộng. Đợt đại trùng tu quan trọng bậc nhất định hình nên quy mô kiến trúc truyền thống diễn ra vào năm Bính Thân, niên hiệu Thịnh Đức thứ 4 (1656) đời vua Lê Thần Tông, với sự đóng góp công đức của các bậc vương thân phủ chúa Trịnh và nhân dân ba thôn Kẻ Láng. Tiếp đó, vào giữa thế kỷ 19 dưới triều Nguyễn (đặc biệt là đợt trùng tu năm Tự Đức thứ 12 - 1859 và cuối thế kỷ 19), chùa được tu bổ hoàn chỉnh hệ thống cổng tam quan, nhà bát giác và các dãy hành lang nội công ngoại quốc như diện mạo còn thấy ngày nay.
- 1116Thiền sư Từ Đạo Hạnh hóa thân và Lý Dương Hoán chào đờiNăm Hội Tường Đại Khánh thứ 7 (1116), Thiền sư Từ Đạo Hạnh trút bỏ nhục thân tại núi Sài Sơn, cùng năm ấy phu nhân của Sùng Hiền hầu hạ sinh hoàng tử Lý Dương Hoán, người lên ngôi vua Lý Thần Tông năm 1128.
- Thế kỷ 12 (1128 - 1175)Khởi dựng Chiêu Thiền Tự trên nền nhà cũ tại Yên LãngDưới triều vua Lý Thần Tông (1128 - 1138) hoặc vua Lý Anh Tông (1138 - 1175, theo văn bia năm 1656), triều đình cho dựng chùa Chiêu Thiền trên nền nhà cũ của cha mẹ Thiền sư Từ Đạo Hạnh ở làng Yên Lãng.
- 1656Đại trùng tu thời Lê Trung hưng và dựng bia Thịnh ĐứcNăm Thịnh Đức thứ 4 (1656) đời vua Lê Thần Tông, chùa được đại trùng tu quy mô lớn và dựng tấm bia đá lớn Chiêu Thiền tự tạo lệ bi do Tiến sĩ Nguyễn Văn Trạc soạn văn bia.
- 1859 - cuối thế kỷ 19Trùng tu lớn thời Nguyễn dưới triều Tự ĐứcChùa được tu bổ toàn diện hệ thống Cổng Tam quan sập rồng, nhà Bát giác giữa sân, Tiền đường, Thượng điện và hai dãy hành lang thập điện Diêm Vương.
- 1962Xếp hạng Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp quốc giaNgày 28 tháng 4 năm 1962, Bộ Văn hóa ban hành Quyết định số 313-VH/VP xếp hạng Chùa Láng vào danh sách Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia đợt đầu tiên.
- 2015Vinh danh quần thể Cây Di sản Việt Nam tại Chùa LángQuần thể 19 cây cổ thụ lâu năm nhất trong khuôn viên Chùa Láng (gồm 15 cây muỗm cổ thụ từ 300 đến gần 900 năm tuổi, 2 cây đại, 1 cây đa, 1 cây sếu) được công nhận là Cây Di sản Việt Nam.
- 2019Lễ hội Chùa Láng thành Di sản văn hóa phi vật thể quốc giaNgày 12 tháng 12 năm 2019, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký Quyết định số 4602/QĐ-BVHTTDL ghi danh Lễ hội Chùa Láng vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Tấm bia đá Chiêu Thiền tự tạo lệ bi khắc ngày lành tháng Chạp năm Bính Thân, niên hiệu Thịnh Đức thứ 4 (1656) tại Chùa Láng là một văn kiện sử liệu hạng nhất về cảnh quan Thăng Long thế kỷ 17. Bài văn bia do bậc đại khoa Nguyễn Văn Trạc (đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Thìn năm Vĩnh Tộ thứ 10 - 1628) chấp bút đã ca ngợi cảnh sắc Chiêu Thiền Tự là danh lam bậc nhất chốn đế đô với rừng thông, vườn muỗm cổ thụ rợp bóng mát bốn mùa, đồng thời quy định chi tiết các lệ tế tự, ruộng tam bảo và nghi thức rước thánh của dân làng Yên Lãng.
IIIKiến Trúc Nội Công Ngoại Quốc, Tam Quan Sập Rồng Và 198 Pho Tượng
Chùa Láng là một trong những quần thể kiến trúc cổ truyền quy mô và hoàn chỉnh bậc nhất còn bảo tồn nguyên vẹn trong lòng nội đô Hà Nội. Toàn bộ công trình được bố cục đăng đối nghiêm ngặt theo trục thần đạo hướng Tây - Tây Nam, đi từ ngoài vào qua ba lớp cổng và một nhà Bát giác rồi mới tiến vào khu chính điện kiểu nội công ngoại quốc (bên trong hình chữ Công 工 gồm Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện, bên ngoài hình chữ Quốc 國 gồm hai dãy hành lang dài hai bên nối khép kín với khu Nhà Tổ và Nhà Mẫu phía sau).
Điểm nhấn kiến trúc độc nhất vô nhị làm nên dấu ấn cung đình của Chùa Láng chính là Cổng Tam quan chính (cổng thứ hai sau cổng ngoài ngoài phố). Cổng gồm bốn cột trụ vuông xây gạch ốp đá vững chãi chia làm ba lối đi, nhưng thay vì lợp ngói phẳng hay chồng diêm thông thường, phần mái giữa được tạo tác thành hệ thống khung vòm uốn cong mềm mại gắn liền với một phiến sập đá vuông chạm rồng đặt ngay dưới vòm cổng. Kiến trúc cổng gắn liền với sập đá biểu trưng cho sập rồng (long sàng) của nhà vua, nhắc nhở mọi người bước qua cổng rằng nơi đây thờ một vị thiền sư đồng thời là bậc thiên tử (vua Lý Thần Tông). Trong ngày thường, cánh cổng chính ở giữa luôn đóng kín, chỉ mở vào dịp đại lễ rước kiệu Thánh.
Bước qua Tam quan sập rồng là khoảng sân gạch Bát Tràng rộng lớn rợp bóng cây cổ thụ, ở chính tâm sân nổi bật tòa Nhà Bát giác (Phương đình) hai tầng tám mái với tám đầu đao uốn cong vút chạm rồng chầu mặt nguyệt. Đây là nơi đặt kiệu rước và tôn trí tượng Đức Thánh Từ Đạo Hạnh trong những ngày diễn ra lễ hội tháng Ba để thần dân chiêm bái. Đi tiếp qua lớp cổng thứ ba là khu nội tự gồm Tiền đường 9 gian, Thiêu hương và Thượng điện kết nối hài hòa, bao quanh bởi hai dãy hành lang tả hữu (mỗi bên 15 gian) và khu Hậu đường phía sau.
Hệ thống 198 pho tượng thờ và vườn cây muỗm di sản
Chùa Láng từ lâu đã nổi tiếng trong giới nghiên cứu mỹ thuật cổ truyền với hệ thống tượng pháp đồ sộ lên tới 198 pho tượng lớn nhỏ bằng gỗ, đất luyện và mây đan sơn son thếp vàng. Tại tòa Tiền đường là hai pho tượng Hộ Pháp Khuyến Thiện và Trừng Ác khổng lồ cao gần 4 mét cùng bộ tượng Bát Bộ Kim Cương và Thập Điện Diêm Vương đầy tính giáo hóa. Tại tòa Thiêu hương và Thượng điện là hệ thống tượng Phật Tam Thế, Di Đà Tam Tôn, Quan Âm Chuẩn Đề, Quan Âm Nam Hải, tòa Cửu Long và Thập Bát La Hán.
Đặc biệt nhất tại cung cấm Thượng điện là hai pho tượng nhân vật lịch sử mang giá trị nghệ thuật độc bản: chính giữa trên bệ cao là tượng vua Lý Thần Tông đội mũ bình thiên, mặc hoàng bào, tay cầm hốt ngọc ngự trên ngai rồng chạm trổ tinh xảo, bên cạnh là tượng Thiền sư Từ Đạo Hạnh trong dáng vẻ một vị thiền sư khoác áo cà sa, đội mũ thất phật. Điểm kỳ thú của pho tượng Từ Đạo Hạnh là cốt tượng được đan bằng mây theo kỹ thuật cổ truyền rồi mới bồi vải và phủ nhiều lớp sơn ta thếp vàng bên ngoài, giúp pho tượng vừa bền chắc qua nhiều thế kỷ vừa rất nhẹ để các trai đinh làng Láng có thể rước lên kiệu bát cống vượt sông Tô Lịch trong ngày hội lớn.
Bao bọc quanh quần thể kiến trúc là vườn cây cổ thụ từng đi vào ca dao Thăng Long: Nhất cao là núi Ba Vì, Thứ ba chùa Láng, thứ nhì Độc Tôn. Tương truyền xưa kia chùa có tới hàng trăm cây thông và gần hai trăm cây muỗm cổ thụ do vua nhà Lý và nhân dân trồng. Hiện nay, khuôn viên chùa vẫn còn lưu giữ hàng chục cây cổ thụ đại lão, trong đó có 15 cây muỗm cổ thụ (có những gốc muỗm đường kính thân hơn một mét, tuổi đời từ 300 đến gần 900 năm) đã được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là Cây Di sản Việt Nam năm 2015.
Kiệt tác kiến trúc bốn cột trụ vuông kết hợp mái vòm cong và sập đá chạm rồng biểu trưng cho long sàng của vua Lý Thần Tông, trên đề ba chữ Chiêu Thiền Tự.
Tòa đình tám cạnh lợp ngói mũi hài với tám đầu đao chạm rồng uốn cong đặt tại trung tâm sân gạch Bát Tràng, nơi ngự kiệu Thánh Từ Đạo Hạnh trong kỳ hội lớn.
Hai pho tượng cổ quý hiếm tại Hậu cung, trong đó tượng Từ Đạo Hạnh có cốt đan bằng mây phủ sơn ta nhẹ nhàng để rước hội và tượng Lý Thần Tông ngự trên ngai rồng.
Hệ thống 15 tấm bia đá cổ (sớm nhất là bia năm Thịnh Đức thứ 4 - 1656 do Tiến sĩ Nguyễn Văn Trạc soạn) cùng quả đại hồng chung đúc thời Hậu Lê - Nguyễn.
Rừng cây cổ thụ gồm 15 cây muỗm nhiều thế kỷ tuổi cùng cây đại, cây đa, cây sếu bao quanh đường thần đạo và sân chùa, tạo nên danh hiệu Đệ nhất tùng lâm.
Nhiều người khi nghe câu nói về con số 198 ở Chùa Láng thường nhầm lẫn giữa 198 pho tượng và 198 cây muỗm. Theo hồ sơ kiểm kê di vật của ngành văn hóa Hà Nội, con số 198 là tổng số pho tượng thờ từng được thống kê đầy đủ trong các tòa điện của Chùa Láng (hiện nay còn bảo tồn gần như nguyên vẹn), còn số cây muỗm cổ thụ hiện còn sống quanh chùa là vài chục cây (trong đó 15 cây muỗm cổ thụ nhất được công nhận Cây Di sản). Tuy nhiên, cả rừng muỗm già và hệ thống 198 pho tượng đều là hai báu vật song hành tạo nên hồn cốt của Chiêu Thiền Tự.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay thần tích của chùa. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu lịch sử và đâu là kiến giải địa lý phong thủy.
Tại tọa độ 21,02343 độ vĩ Bắc và 105,80277 độ kinh Đông, Chùa Láng tọa lạc trên dải đất cao trù phú của làng Yên Lãng cổ ở phía tây kinh thành Thăng Long, nằm kề bên hữu ngạn dòng sông Tô Lịch. Trong cấu trúc địa hình cổ của Thăng Long, sông Tô Lịch là huyết mạch thủy đạo nối từ sông Hồng (qua cửa Hương Bài) chảy vòng qua phía bắc và phía tây kinh thành rồi xuôi về phía nam. Đoạn sông Tô Lịch chảy qua địa phận Kẻ Láng uốn một vòng cung lớn ôm lấy gò đất Yên Lãng, tạo thành thế khúc thủy triều đường (nước uốn vòng ôm lấy huyệt trường) đắc cách bậc nhất ở vùng đồng bằng sông Hồng.
Xét về phương vị và trục hướng, toàn bộ quần thể Chùa Láng từ cổng ngoài, đường thần đạo rợp bóng muỗm, Tam quan sập rồng, nhà Bát giác cho tới Thượng điện đều dàn trên một trục thẳng tắp tọa Đông - Đông Bắc (tọa Cấn - Dần), mặt hướng về phía Tây - Tây Nam (hướng Khôn - Thân). Hướng Tây - Tây Nam này chứa đựng hai tầng ý nghĩa phong thủy và tâm linh sâu sắc: thứ nhất, mặt chùa nhìn thẳng ra dòng sông Tô Lịch chảy phía trước mặt làm minh đường tụ thủy (cách bờ sông Tô Lịch chỉ khoảng vài trăm mét về phía tây) và nhìn sang chùa Hoa Lăng ở bờ bên kia sông (nơi thờ thân mẫu Tăng Thị Loan của Đức Thánh), thứ hai, trục Tây - Tây Nam cũng chính là phương hướng nhìn thẳng về núi Sài Sơn (Chùa Thầy) ở xứ Đoài, nơi Thiền sư Từ Đạo Hạnh tu hành đắc đạo và hóa thân. Quanh chùa lại có các hồ nước cổ (hồ Láng) và rừng cây muỗm cổ thụ hàng trăm năm tuổi che chở bốn phía như bức trướng xanh giữ cho trường khí luôn tĩnh tại, mát lành, xứng danh là huyệt đạo tâm linh trấn giữ cửa ngõ phía tây Thăng Long.
VLễ Hội Chùa Láng: Di Sản Phi Vật Thể Quốc Gia Và Tục Đấu Thần
Lễ hội Chùa Láng (còn gọi là Hội Láng) diễn ra vào ngày mùng 7 tháng 3 âm lịch hàng năm (ngày sinh và cũng là ngày hội tưởng niệm Đức Thánh Từ Đạo Hạnh) là một trong những lễ hội lớn và đặc sắc nhất vùng kinh kỳ Thăng Long, đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2019. Xưa kia, hội lớn (đại đám) tổ chức từ mùng 5 đến mùng 15 tháng 3 âm lịch với sự tham gia của hàng chục làng kết chạ thuộc tổng Hạ và vùng ven sông Tô Lịch như Láng Thượng, Láng Trung, Láng Hạ, Dịch Vọng, Mọc (Nhân Chính), Thượng Yên Quyết, Hạ Yên Quyết.
Nghi thức độc đáo và nổi tiếng nhất của Lễ hội Chùa Láng là lễ rước kiệu Thánh qua sông Tô Lịch và tục đấu thần (đấu pháo). Sáng ngày mùng 7 tháng 3, pho tượng mây đan của Thiền sư Từ Đạo Hạnh được làm lễ mộc dục bằng nước thơm rồi rước lên kiệu bát cống từ Thượng điện ra ngự tại Nhà Bát giác giữa sân, sau đó đoàn rước khởi hành từ Chùa Láng đi qua sông Tô Lịch sang chùa Hoa Lăng (phường Dịch Vọng, nơi thờ thân mẫu ngài là bà Tăng Thị Loan) để Đức Thánh về thăm mẹ. Đặc biệt, khi kiệu Thánh đi qua đoạn đường gần đền Láng / pháo đài Láng (nơi thờ thần Đại Điên hoặc thần Lệ Mật có hiềm khích từ kiếp trước với cha con Từ Vinh - Từ Đạo Hạnh), các trai đinh khiêng kiệu chạy rầm rập như bay, đốt pháo thăng thiên bắn sang phía đền và giương lọng che kín mặt kiệu để diễn lại tích đấu thần giữa Từ Đạo Hạnh và Đại Điên năm xưa. Cũng trong dịp hội Láng, thời tiết đầu tháng Ba âm lịch thường có mưa rào bất chợt mà dân gian gọi là mưa rửa đền, mưa rước kiệu gắn với câu ca Dù ai đi đâu về đâu, Mùng bảy hội Láng, mùng mười hội Thầy.
| Thời gian âm lịch | Tên kỳ lễ / nghi thức | Nội dung và diễn xướng cổ truyền |
|---|---|---|
| Mùng 6 tháng 3 | Lễ mộc dục và tế khai hội | Tắm tượng Đức Thánh Từ Đạo Hạnh bằng nước thơm hoa bưởi, rước tượng từ Hậu cung ra kiệu đặt tại Nhà Bát giác và cử hành lễ tế cáo yết |
| Mùng 7 tháng 3 (chính hội) | Đại lễ rước kiệu Thánh qua sông Tô Lịch và tục đấu thần | Rước kiệu Đức Thánh từ Chùa Láng vượt sông Tô Lịch sang chùa Hoa Lăng thăm mẹ, tái hiện nghi thức đấu thần, đón kiệu của các làng kết chạ Láng - Mọc, lễ dâng hoa và cơm nắm muối vừng |
| Mùng 8 tháng 3 | Lễ tế tạ và hoàn cung | Tế tạ chư Phật, Đức Thánh Từ Đạo Hạnh và vua Lý Thần Tông, rước tượng Thánh từ Nhà Bát giác trở về an vị tại cung cấm Thượng điện |
| Rằm tháng Giêng, Rằm tháng Tư và Rằm tháng Bảy | Lễ Thượng nguyên, Phật Đản và Vu Lan | Các kỳ đại lễ Phật giáo truyền thống thu hút đông đảo Phật tử và sinh viên các trường đại học quanh phố Chùa Láng tới dâng hương cầu an |
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 112 phố Chùa Láng, phường Láng (trước ngày 01/07/2025 là phường Láng Thượng, quận Đống Đa cũ), thành phố Hà Nội
- Đường tới
- Chùa nằm tại số 112 phố Chùa Láng, phường Láng, cách ngã tư Nguyễn Chí Thanh - Đường Láng - Trần Duy Hưng khoảng 800 mét về phía bắc. Từ trung tâm hồ Hoàn Kiếm có thể đi theo trục Kim Mã - Nguyễn Chí Thanh rẽ vào phố Chùa Láng (khoảng 6 km) hoặc đi dọc Đường Láng ven sông Tô Lịch.
- Toạ độ
- 21.02343, 105.80277
Khi tới chiêm bái Chùa Láng, quý vị đi qua cổng ngoài nhưng khi gặp Cổng Tam quan sập rồng ở giữa sẽ đi theo hai cổng phụ hai bên (Tả môn và Hữu môn) vì cổng chính giữa chỉ mở vào ngày đại hội rước Thánh. Trong không gian nội tự có tới 198 pho tượng cổ và nhiều bia đá thời Lê, xin quý vị ăn mặc kín đáo, đi nhẹ nói khẽ, không sờ tay lên các pho tượng sơn son thếp vàng và không tự ý mở cửa khám thờ tại khu Hậu cung.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Láng
Contribute photos, information or video for Láng PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Láng thờ ai và vì sao vừa thờ Phật vừa thờ vua?
Chùa Láng (Chiêu Thiền Tự) thờ Phật ở phía trước và thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh cùng vua Lý Thần Tông ở Hậu cung phía sau theo thức tiền Phật hậu Thánh. Theo sử sách và truyền thuyết thời Lý, Thiền sư Từ Đạo Hạnh sau khi viên tịch tại núi Sài Sơn năm 1116 đã đầu thai làm con của Sùng Hiền hầu và lên ngôi vua Lý Thần Tông, nên chùa được dựng ngay trên nền nhà cũ của cha mẹ ngài để thờ cả hai kiếp tiền thân và hậu thân.
Chùa Láng do vị vua nào khởi dựng vào thế kỷ 12?
Các nguồn tư liệu ghi nhận hai thuyết: truyền ngôn dân gian cho rằng vua Lý Thần Tông (trị vì 1128 - 1138) cho dựng chùa trên nền nhà cũ của cha mẹ kiếp trước để thờ tiền thân của mình là Thiền sư Từ Đạo Hạnh, trong khi tấm bia đá Chiêu Thiền tự tạo lệ bi khắc năm Thịnh Đức thứ 4 (1656) tại chùa ghi rõ vua Lý Anh Tông (con trai vua Lý Thần Tông, trị vì 1138 - 1175) là người khởi dựng chùa để báo hiếu phụ hoàng và tôn vinh Đức Thánh.
Kiến trúc Cổng Tam quan Chùa Láng có điểm gì độc đáo?
Cổng Tam quan Chùa Láng gồm bốn cột trụ vuông xây gạch ốp đá nâng hệ thống mái vòm uốn cong, bên dưới vòm cổng chính gắn một phiến sập đá vuông chạm rồng tượng trưng cho sập rồng (long sàng) của nhà vua. Cấu trúc cổng tam quan gắn liền với sập rồng này là thiết kế độc nhất vô nhị trong kiến trúc chùa Việt Nam, khẳng định vị thế hoàng gia của vua Lý Thần Tông và Đức Thánh Từ Đạo Hạnh.
Lễ hội Chùa Láng diễn ra vào ngày nào và tục đấu thần là gì?
Lễ hội Chùa Láng (Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2019) diễn ra chính hội vào ngày mùng 7 tháng 3 âm lịch hàng năm. Trong lễ hội có nghi thức rước kiệu tượng mây đan của Đức Thánh Từ Đạo Hạnh vượt sông Tô Lịch sang chùa Hoa Lăng thăm mẹ, kèm theo tục đấu thần (khiêng kiệu chạy nhanh và đốt pháo bắn sang nơi thờ Pháp sư Đại Điên để diễn lại tích Từ Đạo Hạnh dùng pháp thuật báo thù cho cha).
Chùa Láng thuộc phường nào của thành phố Hà Nội sau ngày 01/07/2025?
Chùa Láng nằm tại số 112 phố Chùa Láng, thuộc địa bàn phường Láng, thành phố Hà Nội. Trước ngày 01 tháng 7 năm 2025, chùa thuộc phường Láng Thượng, quận Đống Đa cũ. Theo Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, phường Láng Thượng cùng phần còn lại của phường Láng Hạ và phường Ngọc Khánh được hợp nhất thành phường Láng mới trực thuộc thành phố Hà Nội.