Vào những tháng mùa nước nổi từ tháng Bảy đến tháng Mười âm lịch hằng năm, khi nước từ thượng nguồn sông Mê Kông tràn qua biên giới đổ vào vùng bồn trũng Đồng Tháp Mười biến hàng vạn mẫu ruộng phèn thành một biển nước mênh mông trắng xóa, nếu ngồi xuồng xuôi theo dòng sông Vàm Cỏ Tây và nhánh sông Long Khốt thuộc vùng biên viễn xã Tuyên Bình ngày nay, quý vị sẽ chứng kiến một cảnh tượng kỳ thú. Giữa bốn bề sóng nước ngập lút ngọn tràm, có một gò đất tròn xanh thẫm bóng đại thụ vươn cao khỏi mặt nước như một ốc đảo linh thiêng không bao giờ chìm, trên đỉnh gò là mái chùa cổ kính rêu phong nhìn thẳng ra bến sông. Đó là Chùa Nổi, tên chữ là Cổ Sơn Tự (古山寺), kết nối cùng không gian tưởng niệm trang nghiêm của Đền thờ Long Khốt ở phía thượng lưu dòng sông.
Không chỉ nổi danh bởi hiện tượng tự nhiên kỳ lạ nước lũ dâng cao đến đâu, nền chùa như nổi cao lên đến đó suốt hơn hai thế kỷ kể từ ngày Thiền sư Thiện Nhiêu khai sơn vào năm Quý Mùi (1823), mảnh đất dưới chân Cổ Sơn Tự còn ẩn chứa một tầng sâu lịch sử đáng kinh ngạc. Những cuộc khai quật khảo cổ học tại Gò Chùa Nổi đã làm xuất lộ lớp văn hóa cư trú của cư dân tiền sử cách ngày nay từ 2.500 đến 3.500 năm chồng xếp bên dưới tầng kiến trúc gạch đá và tượng Phật sa thạch của nền văn hóa Óc Eo - Phù Nam thiên niên kỷ đầu Công nguyên, biến nơi đây thành một cột mốc văn hóa và tâm linh độc nhất vô nhị nơi miền biên viễn Tây Nam.
ITừ Di Chỉ Khảo Cổ Tiền Sử - Óc Eo Đến Huyền Tích Chùa Nổi Mùa Lũ Và Không Gian Tri Ân Bên Sông Long Khốt
Cụm di tích Chùa Nổi (Cổ Sơn Tự) và Đền thờ Long Khốt tại vùng biên giới Tây Bắc Đồng Tháp Mười là sự hội tụ hài hòa giữa truyền thống Phật giáo Bắc tông Nam Bộ (Phật giáo) và đạo lý thờ cúng tổ tiên, tưởng niệm các bậc tiền hiền mở cõi cùng anh linh những người con đã ngã xuống vì sự bình yên của bờ cõi quốc gia. Tên hiệu Cổ Sơn Tự (古山寺) của chùa mang nghĩa là ngôi chùa trên ngọn núi cổ (bởi giữa vùng đồng bằng sình lầy trũng thấp của Đồng Tháp Mười, một gò đất tự nhiên cao tới 3,5 mét và rộng cả trăm mét đã được cư dân xưa xem như một ngọn núi nhỏ), còn tên gọi ban đầu lúc mới khai sơn năm 1823 là Bửu Sơn Tự (寶山寺, ngôi chùa trên núi báu).
Sở dĩ người dân khắp Lục tỉnh Nam Kỳ từ xưa đến nay vẫn quen gọi Cổ Sơn Tự bằng cái tên dân dã mà đầy huyền thoại là Chùa Nổi bắt nguồn từ hai lớp ký ức dân gian: một là truyền thuyết về những pho tượng đất sét không chìm trên dòng Vàm Cỏ Tây thuở khai hoang, và hai là khả năng trụ vững kỳ diệu của gò đất chùa trước mọi trận đại hồng thủy.
Theo truyền thuyết địa phương được các bậc cao niên vùng Tuyên Bình lưu truyền, vào khoảng đầu thế kỷ 19 khi những nhóm lưu dân người Việt từ miền Trung và vùng Gia Định mới chèo xuồng theo sông Vàm Cỏ Tây vào vùng bồn trũng Đồng Tháp Mười khai phá đất hoang, hái lúa trời và nhổ bàng đan đệm, trẻ mục đồng chăn trâu trong vùng thường tụ tập trên gò đất cao sát bờ sông. Thấy chất đất sét trên gò dẻo mịn khác thường, lũ trẻ đào đất nặn thành hình các pho tượng Phật và tượng thần rồi bày trên gò chơi trò cúng bái. Người lớn trong xóm đi làm đồng về thấy vậy sợ trẻ nhỏ phạm thượng với thần Phật nên đã gom các pho tượng đất sét nặn dở ấy đem ném xuống dòng sông Vàm Cỏ Tây cho tan theo nước. Thế nhưng một chuyện lạ lùng đã xảy ra: những pho tượng bằng đất sét nung nắng ấy khi rơi xuống sông không hề chìm hay rữa nát, mà cứ nổi bồng bềnh trên mặt nước, xoay tròn theo dòng nước xoáy ngay trước chân gò suốt nhiều ngày liền. Tin rằng gò đất ven sông này là huyệt đất linh thiêng có chư Phật và thần linh ngự trị, bà con lưu dân đã dựng một ngôi thảo am nhỏ trên đỉnh gò để thờ Phật. Đến năm Quý Mùi (1823) dưới triều vua Minh Mạng, Thiền sư Thiện Nhiêu vân du qua đây đã chính thức khai sơn ngôi chùa với tên chữ là Bửu Sơn Tự, về sau đổi thành Cổ Sơn Tự.
Lớp nghĩa thứ hai làm nên danh xưng Chùa Nổi là một thực tế địa chất và thủy văn đã được kiểm chứng qua hơn hai trăm mùa nước nổi. Vùng Vĩnh Hưng - Tuyên Bình vốn nằm ngay chính tâm rốn lũ của Đồng Tháp Mười, cứ vào khoảng tháng Sáu đến tháng Mười âm lịch hằng năm, nước lũ dâng ngập trắng toàn bộ đồng ruộng và rừng tràm xung quanh từ hai đến ba mét nước. Ngay cả trong những năm xảy ra đại hồng thủy lớn nhất lịch sử hiện đại ở đồng bằng sông Cửu Long như các năm 1978, 1986 và 2000, khi hầu hết nhà cửa trong vùng đều chìm sâu dưới biển nước, thì riêng mặt gò đất của Cổ Sơn Tự vẫn hiên ngang nổi cao ráo trên mặt nước, mực nước đỉnh lũ cao nhất cũng chỉ đứng mấp mé ở bậc tam cấp cổng chùa chứ tuyệt nhiên không tràn vào nền chánh điện. Nhờ thế đất nổi trên biển lũ ấy, từ hàng trăm năm trước, mỗi khi mùa nước nổi tràn về, Cổ Sơn Tự không chỉ là nơi bà con cư dân chèo xuồng về tránh lũ mà còn là nơi trú ẩn an toàn của vô số loài chim muông, rắn, rùa, chuột đồng từ khắp cánh đồng ngập nước bơi về chung sống hòa bình dưới bóng cây cổ thụ của nhà chùa.
Hình ảnh ngôi Cổ Sơn Tự bình yên che chở cho cả con người lẫn muông thú hoang dã giữa bốn bề đại hồng thủy mỗi mùa nước nổi chính là biểu trưng sống động cho hạnh nguyện Từ bi vô lượng và Vô畏 thí (ban cho muôn loài sự không sợ hãi) của đạo Phật. Khi kết nối không gian thiền môn của Cổ Sơn Tự ở hạ lưu với Đền thờ Long Khốt ở thượng lưu dòng sông trong cùng địa bàn xã Tuyên Bình mới, quần thể di tích này hoàn thiện trọn vẹn đạo lý Tứ trọng ân của Phật giáo Việt Nam (ơn cha mẹ, ơn chúng sinh, ơn quốc gia xã hội và ơn Tam Bảo): tới Cổ Sơn Tự để lễ Phật, lắng lòng trước thiên nhiên cổ sơ 3.500 năm, và tới Đền thờ Long Khốt để thắp nén tâm hương tri ân các bậc tiền nhân mở đất cùng anh linh những người đã hy sinh giữ gìn biên cương Tổ quốc.
Nhiều du khách nghe tên Chùa Nổi thường lầm tưởng ngôi chùa được dựng trên bè gỗ nổi trên mặt sông hoặc xây bằng vật liệu nhẹ nổi theo mực nước. Thực tế, chùa được xây dựng cố định trên đỉnh Gò Chùa Nổi, một gò đất tự nhiên kết cấu địa chất cổ bền vững cao hơn mặt ruộng trũng Đồng Tháp Mười khoảng 3,5 mét và có đường kính khoảng 100 mét. Điều kỳ diệu nằm ở chỗ các bậc cư dân cổ cách nay 3.500 năm và các vị thiền sư thế kỷ 19 đã chọn đúng điểm cao địa chất duy nhất không bao giờ ngập đỉnh lũ của cả vùng bồn trũng để lập nơi cư trú và thờ tự.
IIHành Trình 3.500 Năm Từ Cư Dân Tiền Sử, Đền Tháp Óc Eo Đến Cổ Sơn Tự (1823) Và Di Tích Quốc Gia
Ít có ngôi chùa nào ở vùng đồng bằng sông Cửu Long lại tọa lạc trực tiếp trên một địa tầng khảo cổ học kéo dài liên tục suốt ba thiên niên kỷ rưỡi từ thời đại Kim khí tiền sử, qua thời kỳ vương quốc Phù Nam - văn hóa Óc Eo cho đến thời kỳ người Việt khẩn hoang lập ấp như Cổ Sơn Tự.
Theo tài liệu chính thức của Bảo tàng tỉnh Long An cũ và Cổng thông tin điện tử xã Tuyên Bình (tỉnh Tây Ninh), vào năm 1996, nhà khảo cổ học Nhật Bản Nishimura Masanari phối hợp cùng các chuyên gia khảo cổ học Việt Nam đã tiến hành khai quật khảo cổ lần đầu tiên tại di chỉ Gò Chùa Nổi (Cổ Sơn Tự) với hai hố đào thám sát có tổng diện tích gần 15 mét vuông. Cuộc khai quật đã làm xuất lộ một tầng văn hóa dày hơn 1 mét chứa đựng khối lượng di vật vô cùng phong phú. Ở lớp văn hóa sớm thuộc thời kỳ tiền sử - sơ sử (có niên đại cách ngày nay khoảng 2.500 đến 3.500 năm, tương đồng với văn hóa Gò Ô Chùa), các nhà khảo cổ đã tìm thấy hàng ngàn mảnh gốm và nhiều đồ đựng nguyên vẹn như nồi, chum nhỏ, bình đáy tròn, tô, chậu, mâm bồng, vung, cà ràng (bếp đun bằng đất nung) có độ nung cao, bề mặt phủ lớp áo bằng đất sét trắng miết láng và tô màu đỏ đặc trưng. Đặc biệt, trong tầng văn hóa tiền sử này còn phát hiện các công cụ bằng xương thú (rìu, đục), nồi nấu kim loại và khuôn đúc đồng bằng đất nung, hàng loạt dọi xe chỉ để dệt vải, dấu vết những tấm chiếu đan bằng lá in hằn dưới đáy đồ gốm và vô số vỏ trấu, hạt lúa cổ trộn trong xương gốm, chứng minh chủ nhân cổ xưa của Gò Chùa Nổi từ hơn ba ngàn năm trước đã thuần thục nghề trồng lúa nước, đúc đồng, dệt vải và đan chiếu.
Nằm chồng lên trên lớp văn hóa tiền sử tại Gò Chùa Nổi là tầng văn hóa Óc Eo và hậu Óc Eo (thuộc vương quốc Phù Nam cổ, khoảng thế kỷ 1 đến thế kỷ 7 sau Công nguyên). Tại đây cũng như các gò lân cận dọc hữu ngạn sông Vàm Cỏ Tây (như Gò Ô Chùa, Gò Hàng, Gò Đế), các nhà nghiên cứu đã ghi nhận hệ thống gạch kiến trúc đền tháp cổ kích thước lớn, ngói cổ, đầu ngói trang trí hình búp sen, mảnh tượng thần Ấn Độ giáo (như thần Vishnu) và đặc biệt là phần đế của một pho tượng Phật trong tư thế tham thiền được tạc bằng đá sa thạch màu xanh lục mang phong cách nghệ thuật Phật giáo Phù Nam cổ đại.
Sau khi nền văn hóa Óc Eo suy tàn, vùng bồn trũng Đồng Tháp Mười chìm vào hoang vu suốt nhiều thế kỷ cho tới thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 khi lưu dân người Việt đến khai phá. Năm Quý Mùi (1823), Thiền sư Thiện Nhiêu dựng thảo am Bửu Sơn Tự trên đỉnh gò. Đến năm Ất Hợi (1875) dưới triều vua Tự Đức, ngôi chùa được trùng tu lớn thành ngôi Tam bảo ba gian cột gỗ lợp ngói và mang tên Cổ Sơn Tự. Trải qua những năm tháng lịch sử thế kỷ 20 khi kiến trúc cũ nhiều lần bị hư hại bởi thời cuộc và được chư tăng cùng nhân dân dựng lại, ngày 28 tháng 12 năm 2004, Ủy ban nhân dân tỉnh Long An cũ đã ban hành Quyết định số 5164/QĐ-UBND xếp hạng Di tích khảo cổ và lịch sử - văn hóa Gò Chùa Nổi là Di tích cấp tỉnh, tiếp nối với Khu di tích lịch sử quốc gia khu vực Long Khốt (được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng Di tích cấp quốc gia năm 1997 và xây dựng Đền thờ Long Khốt khang trang trong những năm 2020). Năm 2019, cây trôm gần 200 năm tuổi và cụm 5 cây dầu rái cổ thụ trên gò chùa được vinh danh là Cây Di sản Việt Nam. Từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 và Nghị quyết số 1682/NQ-UBTVQH15 ngày 16 tháng 6 năm 2025, cả hai xã Tuyên Bình cũ và Thái Bình Trung cũ (huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An cũ) đã hợp nhất cùng các xã lân cận thành xã Tuyên Bình thuộc tỉnh Tây Ninh mới, đưa cả Chùa Nổi và Đền thờ Long Khốt về chung một đơn vị hành chính cấp xã.
- Cách nay 3.500 - 2.500 nămTrung tâm cư trú của cư dân tiền sử trên Gò Chùa NổiCư dân cổ chọn gò đất cao bên sông Vàm Cỏ Tây để cư trú tránh lũ, phát triển nghề trồng lúa nước, đan chiếu, dệt vải, chế tác gốm phủ áo trắng tô đỏ và đúc đồng.
- Thế kỷ 1 - 7Kiến trúc gạch đá và tượng Phật sa thạch thời văn hóa Óc Eo - Phù NamTrên đỉnh Gò Chùa Nổi hình thành công trình tôn giáo thời văn hóa Óc Eo với gạch kiến trúc lớn, đầu ngói búp sen, mảnh tượng thần Vishnu và tượng Phật tham thiền bằng đá sa thạch xanh lục.
- 1823Thiền sư Thiện Nhiêu khai sơn Bửu Sơn Tự (Cổ Sơn Tự)Năm Quý Mùi (1823) đời vua Minh Mạng, gắn với truyền thuyết tượng đất sét của trẻ chăn trâu nổi trên sông Vàm Cỏ Tây, Thiền sư Thiện Nhiêu dựng ngôi chùa Phật giáo trên đỉnh gò cổ.
- 1875Đại trùng tu ngôi Tam bảo ba gian cột gỗNăm Ất Hợi (1875) đời vua Tự Đức, chư tăng và bổn đạo trùng tu mở rộng chùa thành ngôi Tam bảo ba gian bằng gỗ quý và chính thức định danh Cổ Sơn Tự.
- 1996 - 1997Khai quật khảo cổ học Gò Chùa Nổi và xếp hạng Di tích quốc gia khu vực Long KhốtNăm 1996, học giả Nhật Bản Nishimura Masanari cùng Bảo tàng Long An khai quật tầng văn hóa dày hơn 1 mét tại Gò Chùa Nổi, năm 1997, khu vực Long Khốt được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia.
- 2004 và 2019Xếp hạng Di tích cấp tỉnh Gò Chùa Nổi và công nhận Cây Di sản Việt NamQuyết định số 5164/QĐ-UBND ngày 28/12/2004 xếp hạng Di tích Gò Chùa Nổi, năm 2019, cây trôm gần 200 tuổi và cụm 5 cây dầu rái trên gò chùa được công nhận là Cây Di sản Việt Nam.
- 2025Hợp nhất về xã Tuyên Bình, tỉnh Tây Ninh mớiTheo Nghị quyết số 202/2025/QH15 và Nghị quyết số 1682/NQ-UBTVQH15 ngày 16 tháng 6 năm 2025, xã Tuyên Bình cũ và xã Thái Bình Trung cũ hợp nhất thành xã Tuyên Bình thuộc tỉnh Tây Ninh.
IIIKhông Gian Cổ Sơn Tự Trên Gò Khảo Cổ, Rừng Cây Di Sản Trăm Tuổi Và Kiến Trúc Đền Thờ Long Khốt
Kiến trúc và cảnh quan của Chùa Nổi (Cổ Sơn Tự) mang vẻ đẹp mộc mạc, trầm mặc của một ngôi già lam miền sông nước Đồng Tháp Mười nằm ẩn mình dưới tán rừng nguyên sinh thu nhỏ trên đỉnh gò đất cổ. Toàn bộ khuôn viên chùa tọa lạc trên mặt Gò Chùa Nổi hình tròn có đường kính khoảng 100 mét, diện tích hơn một mẫu đất và cao hơn mặt ruộng xung quanh khoảng 3,5 mét. Từ bến thuyền bên hữu ngạn sông Vàm Cỏ Tây, khách hành hương bước qua cổng tam quan xây sát mép nước (nơi mùa nước nổi sóng vỗ ngay dưới chân bậc thềm) để tiến lên khoảng sân chùa rợp bóng mát quanh năm.
Ngôi Chánh điện Cổ Sơn Tự được kiến tạo theo lối chùa truyền thống Nam Bộ với mái ngói đỏ hai tầng uốn cong đắp nổi lưỡng long chầu pháp luân, hướng mặt thẳng ra dòng sông Vàm Cỏ Tây. Bên trong chánh điện bài trí trang nghiêm ban thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đức Phật A Di Đà, Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Địa Tạng và ban thờ Tổ sư khai sơn Thiện Nhiêu. Phía trước sân chùa và dưới tán cây cổ thụ còn có đài thờ Quán Thế Âm Bồ Tát lộ thiên và các miếu thờ thần linh bản địa, tạo nên không gian tâm linh ấm cúng giữa vùng biên viễn.
Dấu tích gạch đá Óc Eo, quần thể Cây Di sản Việt Nam và kiến trúc Đền thờ Long Khốt
Điều làm nên sức cuốn hút đặc biệt khi dạo bước quanh khuôn viên Cổ Sơn Tự là sự hiện diện đan xen giữa dấu tích khảo cổ học ngàn năm và hệ sinh thái cổ thụ nguyên sinh. Ngay dưới chân nền chùa và các gốc cây lớn, người ta vẫn bắt gặp những viên gạch kiến trúc cổ kích thước lớn thời văn hóa Óc Eo, những mảnh gốm cổ tiền sử 3.500 năm cùng các phiến đá sa thạch và hiện vật khảo cổ được nhà chùa và bảo tàng lưu giữ (tiêu biểu là dấu tích phần đế tượng Phật tham thiền bằng đá sa thạch xanh lục, đầu ngói búp sen và các mảnh bình gốm cổ). Bao bọc lấy mái chùa là những cội đại thụ hàng trăm năm tuổi hiếm hoi còn sót lại giữa vùng rốn lũ Đồng Tháp Mười, nổi bật nhất là cây trôm cổ thụ gần 200 năm tuổi có bộ rễ bàn bạnh khổng lồ trồi lên mặt đất gò với chu vi thân cây nhiều người ôm không xuể, cùng cụm 5 cây dầu rái cổ thụ vươn thẳng vút lên bầu trời xanh, tất cả đã được gắn bia công nhận là Cây Di sản Việt Nam vào năm 2019.
Nằm cách Cổ Sơn Tự không xa về phía thượng lưu dọc theo tuyến đường tuần tra biên giới và dòng sông Long Khốt (nhánh thượng nguồn đổ vào sông Vàm Cỏ Tây, thuộc ấp Trung Chánh, xã Thái Bình Trung cũ, nay cùng thuộc xã Tuyên Bình) là Khu di tích lịch sử quốc gia và Đền thờ Long Khốt. Ngôi đền chính được xây dựng bề thế theo phong cách kiến trúc cổ truyền dân tộc với mái đao cong lợp ngói đỏ, hệ thống cột gỗ lim vững chãi, nhà bia tưởng niệm, cổng tam quan và bến thả hoa đăng bên bờ sông Long Khốt. Giữa không gian tĩnh lặng của vùng đất biên thùy sát biên giới Campuchia, Đền thờ Long Khốt và Cổ Sơn Tự kết nối với nhau thành một trục hành hương văn hóa - tâm linh liên hoàn: vừa chiêm ngưỡng di sản khảo cổ tiền sử - Óc Eo và lễ Phật cầu an tại Chùa Nổi, vừa dâng hương tưởng niệm công ơn các bậc tiền nhân mở cõi và anh linh giữ nước bên dòng sông Long Khốt.
Gò đất tự nhiên hình tròn đường kính khoảng 100 mét, cao 3,5 mét bên bờ phải sông Vàm Cỏ Tây, chứa tầng văn hóa dày hơn 1 mét từ thời tiền sử đến thời Phù Nam - Óc Eo và không bao giờ ngập nước vào mùa lũ.
Ngôi Tam bảo thờ Phật khởi nguồn từ thảo am năm 1823 của Thiền sư Thiện Nhiêu, nơi người dân và muông thú khắp vùng rốn lũ Đồng Tháp Mười tìm về nương náu mỗi mùa nước nổi.
Những cội đại thụ nguyên sinh hàng trăm năm tuổi tỏa bóng che mát toàn bộ mặt gò chùa, được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là Cây Di sản Việt Nam năm 2019.
Hệ thống di vật khảo cổ phát hiện tại Gò Chùa Nổi gồm đồ gốm phủ áo sét trắng tô đỏ chứa vỏ trấu cổ 3.500 năm, gạch ngói kiến trúc búp sen và phần đế tượng Phật tham thiền bằng sa thạch xanh lục.
Công trình kiến trúc truyền thống mái cong thuộc Khu di tích quốc gia Long Khốt (ấp Trung Chánh, xã Tuyên Bình), nơi tôn thờ và tri ân các bậc tiền nhân cùng anh linh giữ gìn biên cương.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền trên thực địa vùng rốn lũ Đồng Tháp Mười và lưu vực sông Vàm Cỏ Tây - Long Khốt, không phải điều chép sẵn trong văn bia của chùa. Chúng tôi nói rõ để quý vị phân biệt được giữa tư liệu khảo cổ - lịch sử và kiến giải địa lý phong thủy.
Xét trên bản đồ địa hình bồn trũng Đồng Tháp Mười tại tọa độ xác thực 10,82944 độ vĩ Bắc và 105,87056 độ kinh Đông (10°49'46" Bắc, 105°52'14" Đông), Chùa Nổi (Cổ Sơn Tự) sở hữu một trong những kỳ cục phong thủy sông nước độc đáo nhất Nam Bộ: thế Linh quy phù thủy (rùa thiêng nổi trên mặt nước) hay Liên đài xuất thủy (đài sen vươn lên khỏi biển lũ). Toàn bộ vùng đất Tuyên Bình - Vĩnh Hưng vốn là một bồn trũng đất phèn cổ được bồi tụ từ vịnh biển cách nay khoảng 6.000 năm, địa hình phẳng và thấp đến mức vào mùa mưa lũ bốn bề đều hóa thành đại dương mênh mông. Giữa vùng bồn trũng ấy, mạch đất cổ dọc hữu ngạn sông Vàm Cỏ Tây đột ngột đùn lên một gò đất tròn trịa đường kính khoảng 100 mét, cao vọt lên 3,5 mét như mu một con rùa khổng lồ hoặc một gương sen tròn nằm sát mép sông. Trong phép điểm huyệt đồng bằng ngập nước (Thủy hương long pháp), nơi toàn vùng chìm dưới nước mà duy nhất một gò đất tròn không bao giờ ngập chính là Chân huyệt tụ dương khí (Độc sơn xuất thủy huyệt), nơi mạch đất kết đặc đến mức thủy triều và hồng thủy chỉ có thể dâng tới chân gò làm Hộ huyệt thủy (nước ôm giữ huyệt) chứ không thể nhấn chìm.
Về sơn hướng và thủy pháp, Cổ Sơn Tự tọa trên đỉnh gò ở hữu ngạn (bờ tây) sông Vàm Cỏ Tây (nhận nguồn nước chảy từ nhánh sông Long Khốt trên biên giới Tây Bắc đổ xuống), mở mặt chính nhìn ra dòng sông Vàm Cỏ Tây ở phía Đông - Đông Bắc. Vào mùa khô, dòng sông Vàm Cỏ Tây uốn lượn ngay trước cổng chùa đóng vai trò là Nội minh đường dẫn khí, kết nối với vàm Phất Tức (vàm nước ngọt trong vắt cổ xưa) ở lân cận. Đến mùa nước nổi (từ tháng Bảy đến tháng Mười âm lịch), khi nước tràn đồng bao bọc trọn bốn phía đông, tây, nam, bắc của Gò Chùa Nổi, ngôi cổ tự bước vào trạng thái phong thủy cực thịnh gọi là Tứ thủy triều quy, trung ương kết huyệt (bốn bề nước chầu về huyệt đạo ở chính tâm). Những cội Cây Di sản Việt Nam (cây trôm gần 200 tuổi và cụm 5 cây dầu rái) vươn cao trên đỉnh gò chính là lớp Hoa biểu và Tàng phong tự nhiên giữ cho linh khí trên gò luôn ấm áp, giải thích vì sao suốt 3.500 năm từ thời cư dân tiền sử, thời Phù Nam - Óc Eo cho đến các bậc thiền sư thời Nguyễn đều cùng chọn chính gò đất nổi này làm trung tâm tâm linh của cả vùng biên viễn.
VMùa Hành Hương Chùa Nổi Mùa Nước Nổi Và Các Kỳ Lễ Tưởng Niệm Tại Đền Thờ Long Khốt
Sinh hoạt văn hóa tâm linh tại cụm di tích Chùa Nổi (Cổ Sơn Tự) và Đền thờ Long Khốt mang đậm sắc thái mùa vụ của vùng sông nước Đồng Tháp Mười, kết hợp giữa các kỳ đại lễ Phật giáo tại cổ tự với lễ hội tri ân tiền nhân và anh linh giữ nước tại khu di tích quốc gia Long Khốt.
| Thời gian trong năm | Tên kỳ lễ hội | Nghi thức truyền thống và sinh hoạt văn hóa đặc trưng |
|---|---|---|
| Rằm tháng Giêng (15 tháng 1 âm lịch) | Đại lễ Thượng Nguyên cầu an tại Cổ Sơn Tự | Đông đảo người dân vùng biên giới Tây Ninh - Đồng Tháp Mười đi thuyền và đường bộ về Chùa Nổi lễ Phật, xin quẻ đầu năm cầu mưa thuận gió hòa và mùa màng bội thu. |
| Rằm tháng Tư và ngày 19 tháng 5 dương lịch | Đại lễ Phật Đản tại Cổ Sơn Tự và Lễ tưởng niệm truyền thống tại Đền thờ Long Khốt | Cử hành lễ tắm Phật tại Cổ Sơn Tự, đồng thời vào dịp 19 tháng 5 hằng năm tại Đền thờ Long Khốt diễn ra lễ dâng hương tưởng niệm, cầu siêu và thả hoa đăng trên dòng sông Long Khốt tri ân các bậc tiền nhân và anh linh liệt sĩ. |
| Từ tháng 7 đến tháng 10 âm lịch (đỉnh điểm Rằm tháng Bảy và Rằm tháng Tám) | Mùa hành hương Chùa Nổi mùa nước nổi và Đại lễ Vu Lan | Thời điểm kỳ thú nhất trong năm khi bốn bề ngập trắng nước lũ còn gò chùa nổi cao giữa biển nước: du khách đi thuyền qua sông Vàm Cỏ Tây về lễ Phật, thưởng thức cơm chay hậu liêu với bông điên điển, bông súng, rau hẹ nước, kèo nèo chấm mắm tương kho. |
| Rằm tháng Mười (15 tháng 10 âm lịch) | Lễ Hạ Nguyên tạ ơn trời đất khi nước rút | Lễ tạ ơn Tam Bảo và thần linh sau khi mùa nước nổi đi qua bình an, để lại lớp phù sa màu mỡ cho vụ lúa mới trên cánh đồng Tuyên Bình. |
Hành hương về Chùa Nổi (Cổ Sơn Tự) và Đền thờ Long Khốt vào mùa nước nổi là một trải nghiệm văn hóa tâm linh không thể nào quên. Ngồi trên chuyến đò ngang vượt dòng Vàm Cỏ Tây mênh mông nước bạc để bước lên gò đất cổ 3.500 năm tuổi, lắng nghe tiếng chuông chùa ngân dài dưới vòm lá cây trôm di sản hai thế kỷ và thưởng thức bữa cơm chay dân dã đậm vị bông súng, bông điên điển của vùng rốn lũ, người lữ khách sẽ cảm nhận sâu sắc sức sống bền bỉ và lòng tri ân nguồn cội của cư dân miền biên viễn phương Nam.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Ấp Cả Bản và ấp Trung Chánh, xã Tuyên Bình (xã Tuyên Bình cũ và xã Thái Bình Trung cũ, huyện Vĩnh Hưng cũ, tỉnh Long An cũ), tỉnh Tây Ninh
- Đường tới
- Từ trung tâm khu vực Mộc Hóa - Kiến Tường hoặc Vĩnh Hưng, quý vị đi theo đường tỉnh 831 hoặc tuyến đường tuần tra biên giới dọc sông Vàm Cỏ Tây và sông Long Khốt về xã Tuyên Bình (hợp nhất từ xã Tuyên Bình cũ và xã Thái Bình Trung cũ), qua bến đò sông Vàm Cỏ Tây tại ấp Cả Bản để lên Gò Chùa Nổi (Cổ Sơn Tự) và đi tiếp theo trục đường ven sông lên ấp Trung Chánh để viếng Đền thờ Long Khốt.
- Toạ độ
- 10.82944, 105.87056
Khi tới chiêm bái Chùa Nổi (Cổ Sơn Tự) và Đền thờ Long Khốt, quý vị đang đến với một cụm di tích khảo cổ học, sinh thái và tâm linh nơi vùng biên giới. Xin quý vị mặc trang phục trang nghiêm, lịch sự khi vào điện Phật và đền thờ, giữ gìn vệ sinh môi trường sông nước, không bẻ cành hay khắc tên lên thân cây trôm và cụm cây dầu rái Cây Di sản Việt Nam, đồng thời không tự ý đào bới hoặc mang đi các mảnh gốm cổ, gạch đá khảo cổ trên mặt Gò Chùa Nổi.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Nổi (Cổ Sơn Tự) và Đền thờ Long Khốt
Contribute photos, information or video for Nổi Pagoda (Cổ Sơn Tự) and Long Khốt TempleThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao ngôi Cổ Sơn Tự lại được dân gian gọi là Chùa Nổi?
Chùa tọa lạc trên đỉnh Gò Chùa Nổi, một gò đất cao tự nhiên khoảng 3,5 mét giữa vùng rốn lũ Đồng Tháp Mười bên bờ sông Vàm Cỏ Tây. Vào mùa nước nổi hằng năm hoặc trong các trận đại hồng thủy lịch sử (như năm 1978, 1986, 2000), khi toàn bộ vùng đồng trũng xung quanh ngập chìm trong biển nước mênh mông thì mặt gò đất và ngôi chùa vẫn nổi cao ráo trên mặt nước, nước chỉ mấp mé bậc cổng chùa mà không bao giờ ngập vào nền điện, kết hợp với truyền thuyết tượng đất sét của trẻ chăn trâu nổi trên sông nên dân gian gọi là Chùa Nổi.
Dưới nền đất Gò Chùa Nổi đã phát hiện được những di tích khảo cổ học nào?
Cuộc khai quật khảo cổ học năm 1996 của học giả Nhật Bản Nishimura Masanari cùng Bảo tàng tỉnh Long An đã làm xuất lộ tầng văn hóa dày hơn 1 mét dưới Gò Chùa Nổi. Lớp sớm thuộc thời tiền sử cách nay 2.500 đến 3.500 năm với hàng ngàn mảnh gốm phủ áo sét trắng tô đỏ chứa vỏ trấu lúa cổ, cà ràng, công cụ xương thú, khuôn đúc đồng và dọi xe chỉ. Lớp muộn thuộc văn hóa Óc Eo (thế kỷ 1 đến thế kỷ 7) với gạch kiến trúc cổ, đầu ngói búp sen, mảnh tượng thần Vishnu và phần đế tượng Phật tham thiền bằng đá sa thạch xanh lục.
Chùa Nổi (Cổ Sơn Tự) được vị thiền sư nào khai sơn vào năm nào?
Ngôi chùa được Thiền sư Thiện Nhiêu chính thức khai sơn vào năm Quý Mùi (1823) dưới triều vua Minh Mạng với tên hiệu ban đầu là Bửu Sơn Tự, sau đó đến năm Ất Hợi (1875) đời vua Tự Đức được trùng tu thành ngôi Tam bảo ba gian cột gỗ và đổi tên chữ là Cổ Sơn Tự (ngôi chùa trên ngọn núi cổ).
Những cây cổ thụ nào trong khuôn viên Chùa Nổi được công nhận là Cây Di sản Việt Nam?
Trên đỉnh Gò Chùa Nổi hiện còn bảo tồn hệ sinh thái cổ thụ nguyên sinh quý hiếm của vùng Đồng Tháp Mười, trong đó cây trôm cổ thụ gần 200 năm tuổi (có bộ rễ bàn bạnh khổng lồ và thân to nhiều người ôm) cùng với cụm 5 cây dầu rái cổ thụ vươn cao đã được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là Cây Di sản Việt Nam vào năm 2019.
Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, Chùa Nổi và Đền thờ Long Khốt thuộc xã và tỉnh nào?
Trước ngày 1 tháng 7 năm 2025, Chùa Nổi thuộc ấp Cả Bản, xã Tuyên Bình, còn Đền thờ Long Khốt thuộc ấp Trung Chánh, xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An. Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 (hợp nhất tỉnh Long An và Tây Ninh thành tỉnh Tây Ninh) và Nghị quyết số 1682/NQ-UBTVQH15 ngày 16 tháng 6 năm 2025, cả xã Tuyên Bình cũ và xã Thái Bình Trung cũ đã hợp nhất cùng các xã lân cận để thành lập xã Tuyên Bình mới thuộc tỉnh Tây Ninh.