Men theo dòng sông Nguyệt Đức trong xanh chảy qua vùng đất kẻ Chợ - làng Nôm thuộc xã Đại Đồng, tỉnh Hưng Yên, quý vị bước qua cây cầu đá xanh nguyên khối chín nhịp có mười tám đầu rồng vươn ra mặt nước rồi tiến vào một trong những quần thể làng Việt cổ hoàn chỉnh nhất vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đi qua chợ Nôm xây bằng gạch trần rêu phong, một cổng Tam quan đồ sộ cao vút như đài vọng nguyệt hiện ra giữa bóng thông già, mở lối vào mặt hồ nước phẳng lặng có lầu Quan Âm và lầu Chuông, lầu Trống soi bóng như những đóa sen nở giữa chốn thiền lâm.
Đó là Chùa Nôm, tên chữ là Linh Thông Cổ Tự, ngôi cổ tự từng nép mình giữa rừng thông bát ngát của thương cảng buôn đồng nổi tiếng bậc nhất xứ Kinh Bắc - Phố Hiến xưa. Không chỉ quyến rũ khách hành hương bởi kiến trúc truyền thống hòa quyện cùng mặt nước và cây cầu đá chín nhịp độc nhất vô nhị, Chùa Nôm còn lưu giữ một bí ẩn kỹ thuật của tổ tiên: 122 pho tượng Phật, Bồ Tát và Thánh bằng đất cổ có niên đại hàng trăm năm, từng nhiều lần ngâm mình dưới dòng nước lũ lụt ngập tới mái chùa mà vẫn giữ nguyên cốt dáng và thần thái sống động.
ILinh Thông Cổ Tự Giữa Rừng Thông Cổ Và Làng Nghề Đúc Đồng Làng Nôm
Chùa có tên chữ Hán khắc nổi trên đỉnh cổng Tam quan và hệ thống văn bia thời Hậu Lê là Linh Thông Cổ Tự (靈通古寺), thuộc dòng chảy Phật giáo Bắc tông Việt Nam (Phật giáo). Bốn chữ Linh Thông Cổ Tự hàm chứa hai lớp nghĩa quyện chặt vào nhau: xét về cảnh quan thực địa, chữ Thông (cũng gợi âm chữ Tùng / Thông) nhắc lại ký ức xa xưa khi ngôi chùa được dựng lên giữa một rừng thông cổ thụ bạt ngàn trên gò đất cao ven sông Nguyệt Đức, xét về giáo nghĩa nhà Phật, hai chữ Linh Thông (靈通) có nghĩa là tâm linh sáng suốt, thông suốt diệu lý của chư Phật và cảm ứng nhiệm màu với lời cầu nguyện của thập phương bá tính. Do chùa nằm ở làng Nôm thuộc xã Đại Đồng nên dân gian quen gọi là Chùa Nôm hoặc Chùa Đại Đồng.
Lịch sử hình thành và hưng thịnh của Chùa Nôm không tách rời khỏi lịch sử đặc biệt của Làng cổ Nôm (thôn Nôm) và cộng đồng cư dân làm nghề buôn đồng, đúc đồng truyền thống (kẻ Nôm / chợ Đồng). Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18, nhờ vị trí nằm bên dòng sông Nguyệt Đức kết nối giao thương giữa kinh thành Thăng Long, trấn Kinh Bắc (Bắc Ninh) và thương cảng Phố Hiến (Hưng Yên), người làng Nôm cùng các dòng họ xung quanh (tạo thành cụm làng Tam Giang, Cửu Thị, Nhị Cầu) đã trở nên giàu có nhờ nghề thu mua đồng phế liệu, luyện đồng và đúc đồ thờ tự, nông cụ đi bán khắp cả nước. Chính nguồn lực kinh tế dồi dào và tâm nguyện hướng Phật của các phường thợ đồng, thương nhân làng Nôm đã tạo dựng nên quy mô nguy nga của Linh Thông Cổ Tự.
Khi khảo cứu thời điểm khởi dựng ban đầu của Chùa Nôm, các nguồn tư liệu địa phương cho biết ngôi chùa vốn là một am tự nhỏ có từ rất sớm (tương truyền từ thời Lý - Trần hoặc đầu thời Lê sơ dưới bóng rừng thông cổ). Tuy nhiên, dấu mốc lịch sử xác thực nhất được khắc ghi trực tiếp trên hai tấm bia đá lớn thời Hậu Lê hiện còn đặt trang trọng tại Hậu cung của chùa là cuộc đại trùng tu và quy hoạch lại toàn bộ chùa vào năm Canh Thân, niên hiệu Chính Hòa thứ nhất (1680) dưới triều vua Lê Hy Tông.
Theo nội dung văn bia năm Chính Hòa (1680), vào nửa cuối thế kỷ 17, khi đời sống kinh tế của làng Nôm và vùng Đại Đồng bước vào thời kỳ cực thịnh, các vị quan viên, hương lão, thương nhân buôn đồng cùng chư tăng đã phát tâm quyên góp tiền của, mua gỗ tứ thiết và mời các hiệp thợ tài hoa nhất về dựng lại Tiền đường, Thượng điện, hành lang và đắp hệ thống tượng pháp bằng đất luyện, biến ngôi am nhỏ trong rừng thông thành một đại danh lam của vùng giáp ranh Kinh Bắc - Hải Dương - Hưng Yên.
Tại Chùa Nôm, triết lý Phật giáo Bắc tông được thể hiện qua bố cục Tiền Phật hậu Thánh, Tiền Phật hậu Tổ rất gần gũi với tâm thức làng xã Bắc Bộ. Bên cạnh hệ thống tượng Phật Tam Thế, Phật A Di Đà, Đức Phật Thích Ca sơ sinh (Cửu Long), Quan Âm Nam Hải và Địa Tạng Vương Bồ Tát ở khu Tam Bảo, chùa còn dành không gian trang trọng để thờ Đức Thánh Tam Giang (vị thần bảo hộ dòng sông và cư dân vùng Nôm được thờ chính tại ngôi đình Tam Giang ngay bên bờ sông Nguyệt Đức), thờ Mẫu, thờ Hậu và chư vị Tổ sư đã dày công gìn giữ mạch thiền qua hơn ba thế kỷ.
Khi đọc các bài viết giới thiệu về bộ tượng đất cổ ở Chùa Nôm, quý vị sẽ thấy phần lớn các tài liệu di sản ghi con số 122 pho tượng đất, trong khi một số bài báo lại chép là 128 pho tượng. Sự chênh lệch nhỏ này đến từ cách thống kê hiện vật: con số 122 pho là số lượng các pho tượng Phật, Bồ Tát, La Hán và Thánh bằng đất luyện cổ nguyên gốc còn bảo lưu đầy đủ tại tòa Tam Bảo và hai dãy hành lang theo hồ sơ kiểm kê di tích, còn con số 128 pho là tính gộp thêm một số pho tượng đồng và tượng thờ ở khu vực lầu Quan Âm cùng nhà Tổ được bổ sung trong các đợt tôn tạo về sau.
IIHơn Ba Thế Kỷ Từ Bia Đá Chính Hòa (1680) Qua Triều Tây Sơn Đến Quần Thể Di Tích Quốc Gia
Từ cuộc đại trùng tu năm Chính Hòa thứ nhất (1680) đời vua Lê Hy Tông, Chùa Nôm liên tục được các thế hệ người dân làng Nôm bồi đắp qua thời Cảnh Hưng, thời Tây Sơn (Cảnh Thịnh), thời Nguyễn (Tự Đức, Thành Thái) và các đợt tôn tạo cảnh quan đương đại, tạo nên một chỉnh thể di sản hiếm có nơi đồng bằng Bắc Bộ.
Theo hệ thống văn bia và minh chuông tại chùa, sau mốc 1680, vào năm Cảnh Thịnh thứ 4 (1796) dưới triều Tây Sơn, nhân dân làng Nôm đã tiến hành đại tu chùa, dựng thêm gác chuông và mở rộng hai dãy hành lang thập điện phía sau. Sang thời nhà Nguyễn, dưới triều vua Tự Đức (thế kỷ 19), cây cầu gỗ cổ bắc qua sông Nguyệt Đức nối làng Nôm với chợ Nôm và chùa Nôm đã được dân làng thay thế hoàn toàn bằng cây cầu đá xanh nguyên khối 9 nhịp. Đến năm Thành Thái thứ 11 (1899), ngôi chùa tiếp tục được trùng tu lớn. Trong trận đại hồng thủy lịch sử năm Ất Dậu (1945) và các trận lụt lớn vùng đồng bằng sông Hồng cuối thế kỷ 20, nước lũ từng dâng ngập sâu vào lòng chùa suốt nhiều ngày liền, nhưng toàn bộ 122 pho tượng đất cổ vẫn đứng vững mà không hề bị bở rã hay trôi màu sơn.
Về mặt pháp lý di sản, Chùa Nôm được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia từ rất sớm theo Quyết định số 295-QĐ/BT ngày 12 tháng 2 năm 1994. Để bảo vệ trọn vẹn không gian văn hóa gắn kết hữu cơ xung quanh ngôi chùa, ngày 17 tháng 1 năm 2020, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục ban hành Quyết định số 50/QĐ-BVHTTDL xếp hạng toàn bộ Quần thể di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Làng Nôm (bao gồm đình Tam Giang, cầu đá 9 nhịp, cổng làng Nôm, chợ Nôm, các nhà thờ họ cổ và Chùa Nôm) là Di tích quốc gia. Về địa giới hành chính, theo Nghị quyết số 1666/NQ-UBTVQH15 ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Hưng Yên, xã Đại Đồng đã hợp nhất cùng các xã Việt Hưng, Lương Tài và một phần xã Đình Dù, Lạc Đạo của huyện Văn Lâm cũ để thành lập xã Đại Đồng mới trực thuộc tỉnh Hưng Yên (trụ sở đặt tại xã Đại Đồng).
- 1680Đại trùng tu Linh Thông Cổ Tự năm Chính Hòa thứ nhấtNăm Canh Thân niên hiệu Chính Hòa thứ nhất đời vua Lê Hy Tông, nhân dân và thương nhân làng Nôm đại trùng tu chùa quy mô lớn và lập bia đá lưu tại Hậu cung.
- Thế kỷ 18Hoàn thiện bộ 122 pho tượng đất cổCác nghệ nhân dân gian chế tác hệ thống 122 pho tượng Phật, Bồ Tát, La Hán và Bát Bộ Kim Cương bằng đất sét luyện trộn giấy bản, mật mía, vôi và sơn ta.
- 1796Mở rộng chùa và dựng gác chuông năm Cảnh Thịnh thứ 4Dưới triều vua Quang Toản nhà Tây Sơn, chùa được trùng tu lớn, dựng thêm gác chuông và mở rộng hai dãy hành lang hai bên.
- Thế kỷ 19Xây cầu đá 9 nhịp thời Tự Đức và đại tu năm Thành Thái thứ 11 (1899)Thay thế cầu gỗ cổ qua sông Nguyệt Đức bằng cây cầu đá xanh 9 nhịp chạm đầu rồng thời vua Tự Đức và trùng tu lớn ngôi chùa vào năm Thành Thái thứ 11 (1899).
- 1994Xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc giaNgày 12 tháng 2 năm 1994, Bộ Văn hóa và Thông tin ban hành Quyết định số 295-QĐ/BT xếp hạng Chùa Nôm là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
- 2020Xếp hạng Di tích quốc gia Quần thể di tích Làng NômNgày 17 tháng 1 năm 2020, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký Quyết định số 50/QĐ-BVHTTDL xếp hạng toàn bộ Quần thể di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Làng Nôm là Di tích quốc gia.
- 2025Thuộc xã Đại Đồng mở rộng của tỉnh Hưng YênTheo Nghị quyết số 1666/NQ-UBTVQH15 ngày 16 tháng 6 năm 2025, các xã Đại Đồng, Việt Hưng, Lương Tài và phần còn lại của Đình Dù, Lạc Đạo (huyện Văn Lâm cũ) hợp nhất thành xã Đại Đồng thuộc tỉnh Hưng Yên.
IIITam Quan Cao Vút, Cầu Đá 9 Nhịp Và Bí Ẩn 122 Pho Tượng Đất Chịu Lũ
Kiến trúc tổng thể của Chùa Nôm là sự kết hợp hài hòa giữa vẻ uy nghiêm của kiến trúc Phật giáo cung đình và nét khoáng đạt của cảnh quan sông nước làng Việt. Ngay từ lối vào là tòa Tam quan thuộc hàng cao lớn và bề thế bậc nhất Việt Nam, xây gạch chồng diêm nhiều tầng mái uốn đao cong vút vươn lên giữa nền trời và tán thông xanh. Bước qua Tam quan là một không gian thủy mặc mở rộng: chính giữa mặt hồ nước trong vắt là Lầu Quan Âm hình lục giác uy nghi tựa một đài sen khổng lồ nở trên mặt nước, nối với hai bờ bằng hai cây cầu đá hình cánh cung dẫn sang Lầu Chuông (treo đại hồng chung) và Lầu Trống đối xứng hai bên.
Khu nội tự của Chùa Nôm được thiết kế theo bố cục nội đinh ngoại quốc (內丁外國) gồm Tiền đường và Thượng điện nối với nhau thành hình chữ Đinh (丁), bao quanh bởi hai dãy hành lang dài và nhà Tổ, nhà Mẫu ở phía sau. Toàn bộ hệ khung chịu lực gồm hàng trăm cây cột, xà, kẻ, bẩy đều làm bằng gỗ lim và gỗ mít nguyên khối, mái lợp ngói vảy cá rêu phong, các bức cốn và cửa võng chạm khắc tứ linh, hoa sen vô cùng tinh xảo.
Bí quyết tạo tác 122 pho tượng đất cổ và cây cầu đá 9 nhịp qua sông Nguyệt Đức
Di sản vô giá làm nên danh tiếng độc nhất vô nhị của Chùa Nôm là 122 pho tượng Phật, Bồ Tát, Thánh Hiền và La Hán bằng đất cổ (chưa kể các pho tượng đồng như tòa Cửu Long bằng đồng mạ vàng ở chính điện). Kích thước các pho tượng đất rất đa dạng, từ những pho tượng Hộ Pháp, Kim Cương cao tới hơn ba mét đến những pho tượng nhỏ trên tòa Cửu Long hay dọc hành lang chỉ bằng nắm tay. Điều kỳ diệu là những pho tượng này hoàn toàn không đem nung trong lò lửa (nên gọi chính xác theo thuật ngữ mỹ thuật là tượng đất luyện / tượng đất đắp sống phủ sơn, dù dân gian vẫn quen gọi là tượng đất nung): người xưa lấy đất sét dẻo ở đáy ao sâu, phơi khô giã nhỏ, sàng lọc hết tạp chất rồi đem ngâm ủ và nhào thật nhuyễn với nước vôi, mật mía, nhựa cây bời lời và giấy bản (giấy dó). Hỗn hợp đất luyện ấy được đắp từng lớp mỏng lên cốt gỗ hoặc cốt tre, đợi khô hoàn toàn mới phủ nhiều lớp sơn ta (sơn sống và sơn quang dầu) rồi thếp vàng. Chính lớp vỏ sơn ta truyền thống kết hợp với sự hóa đá tự nhiên của vôi, mật mía và giấy dó đã tạo thành một lớp áo giáp chống thấm tuyệt đối, giúp 122 pho tượng ngâm dưới nước lũ nhiều ngày liền mà không mảy may suy suyển.
Cách cổng chùa không xa, bắc ngang dòng sông Nguyệt Đức để dẫn vào chùa Nôm và chợ Nôm là cây cầu đá 9 nhịp nổi tiếng. Cầu rộng gần hai mét, dài khoảng mười tám mét, được ghép hoàn toàn từ những phiến đá xanh nguyên khối cỡ lớn không dùng bất kỳ chất kết dính hiện đại nào. Đỡ lấy chín nhịp mặt cầu là các hàng trụ đá thẳng đứng, hai bên đầu dầm cầu chìa ra ngoài được chạm khắc thành 18 đầu rồng và vân mây uốn lượn nhìn xuống dòng nước, trải qua hàng trăm năm chân người và xe cộ qua lại vẫn vững chãi như bàn thạch.
Hệ thống tượng Tam Thế, A Di Đà, Quan Âm, Bát Bộ Kim Cương và Thập Bát La Hán đắp bằng đất sét luyện trộn giấy bản, mật mía, vôi và phủ sơn ta, từng chịu nhiều trận lụt lớn ngập chùa mà vẫn nguyên vẹn.
Cây cầu đá xanh nguyên khối dài khoảng 18 m, rộng gần 2 m gồm 9 nhịp nối làng cổ Nôm với chợ Nôm và chùa Nôm, các đầu dầm đá chạm nổi đầu rồng và mây cuộn thời Lê - Nguyễn.
Tòa lầu gỗ hai tầng mái cong tọa lạc như đài sen giữa mặt hồ trong khuôn viên chùa, nối với Lầu Chuông và Lầu Trống hai bên bằng hai cây cầu đá uốn cong thanh thoát.
Bức chạm đồng mạ vàng tinh xảo khắc họa chín con rồng phun nước tắm cho Đức Phật Thích Ca sơ sinh (sản phẩm đỉnh cao của nghề đồng làng Nôm) cùng hai tấm bia đá thời Hậu Lê lập năm 1680 tại Hậu cung.
Tòa Tam quan chồng diêm cao lớn bậc nhất vùng đồng bằng Bắc Bộ mở lối vào chùa, cùng khu vườn tháp mộ cổ bằng đá ong và gạch nung của các bậc tổ sư trụ trì.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền trên thực địa quần thể Làng cổ Nôm bên sông Nguyệt Đức, không phải điều chép sẵn trong văn bia của chùa. Chúng tôi nói rõ để quý vị phân biệt được giữa tư liệu lịch sử và kiến giải địa lý phong thủy.
Xét trên bản đồ địa hình vùng giáp ranh giữa xứ Kinh Bắc (Bắc Ninh) và trấn Sơn Nam Thượng (Hưng Yên) ở tọa độ 20,98560 độ vĩ Bắc và 106,09250 độ kinh Đông, Chùa Nôm tọa lạc trên một gò đất cao nguyên sinh có rừng thông cổ thụ bao bọc ở phía đông của Làng cổ Nôm, bên bờ tả ngạn dòng sông Nguyệt Đức. Trong phép phong thủy đồng bằng, cấu trúc không gian của làng Nôm và chùa Nôm là một mẫu hình kinh điển của thế đất Tam Giang - Cửu Thị - Nhị Cầu: dòng sông Nguyệt Đức chảy uốn lượn mềm mại giữa khu dân cư làng Nôm (phía tây) và khu chợ Nôm - chùa Nôm (phía đông) như một dải lụa minh đường dẫn thủy nhập điền. Hai cây cầu đá cổ bắc qua sông đóng vai trò như hai chiếc khóa thủy khẩu (tỏa thủy) giữ cho nguồn tài lộc và sinh khí của thương cảng buôn đồng không bị trôi tuột theo dòng nước.
Về sơn hướng và bố cục nội cục, cụm kiến trúc chính của Chùa Nôm (Tam Bảo Tiền đường - Thượng điện) mở mặt về hướng Tây Nam - Nam, nhìn ra hồ nước lớn có Lầu Quan Âm ở giữa làm Nội minh đường và xa hơn là dòng sông Nguyệt Đức làm Ngoại minh đường. Nước hồ tĩnh lặng bên trong kết hợp với nước sông lưu chuyển hiền hòa bên ngoài tạo nên thế động tĩnh giao hòa, thủy tụ thiên tâm. Bao bọc hai bên tả hữu của tòa Tam Bảo là Lầu Chuông, Lầu Trống cùng hai dãy hành lang dài tạo thế Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ cân xứng, trong khi khu vườn tháp cổ và gò rừng thông phía sau lưng chùa làm Hậu chẩm vững chãi. Chính nhờ địa thế thủy mộc tương sinh (nước sông Nguyệt Đức và hồ sen nuôi dưỡng rừng thông xanh tốt) mà vùng đất Linh Thông Cổ Tự giữ được trường khí thanh khiết, giúp dân làng Nôm vừa phát đạt về nghề thương mại đúc đồng vừa sản sinh nhiều bậc khoa bảng hiền tài.
VLễ Hội Chùa Nôm - Làng Nôm Đầu Xuân Và Tục Rước Nước Sông Nguyệt Đức
Lễ hội Chùa Nôm gắn liền mật thiết với Đại lễ hội truyền thống Làng cổ Nôm diễn ra vào dịp tháng Giêng âm lịch hằng năm, kết hợp hài hòa giữa nghi thức rước Thánh tại đình Tam Giang và lễ Phật cầu an tại Linh Thông Cổ Tự.
| Thời gian âm lịch | Tên kỳ lễ | Nghi thức và hoạt động văn hóa tiêu biểu |
|---|---|---|
| Mùng 10 đến 12 tháng Giêng | Đại lễ hội truyền thống Làng Nôm và Chùa Nôm | Nghi thức rước nước từ giếng cổ ở Chùa Nôm qua cầu đá 9 nhịp về đình Tam Giang để làm lễ mộc dục (lau rửa bài vị Thánh), lễ rước kiệu Bát Cống, tế lễ và dâng hương cầu an đầu năm. |
| Ngày 15 tháng Giêng (Rằm tháng Giêng) | Đại lễ Thượng nguyên cầu quốc thái dân an | Tụng kinh Dược Sư, thắp hoa đăng quanh hồ Lầu Quan Âm và lễ Phật đầu xuân của hàng vạn phật tử khắp vùng Hưng Yên, Bắc Ninh, Hà Nội. |
| Ngày 15 tháng 4 âm lịch | Đại lễ Phật Đản (Lễ tắm Phật) | Nghi thức tắm Phật bên tòa Cửu Long bằng đồng mạ vàng tại chính điện và thuyết giảng giáo lý nhà Phật. |
| Ngày 15 tháng 7 âm lịch | Đại lễ Vu Lan Báo Hiếu | Lễ cài hoa hồng, tụng kinh Vu Lan và cầu siêu phả độ gia tiên tại Linh Thông Cổ Tự. |
Nghi thức độc đáo nhất trong lễ hội tháng Giêng là lễ rước nước giữa Chùa Nôm và Đình Tam Giang: đoàn rước gồm các bô lão, thanh niên trai tráng và đội múa rồng đi qua cây cầu đá 9 nhịp sang giếng cổ trong khuôn viên Chùa Nôm để xin nguồn nước tinh khiết nhất rước về đình tế Thánh, thể hiện sự gắn kết máu thịt giữa Đạo Phật và tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng của người Việt.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Làng Nôm, xã Đại Đồng (huyện Văn Lâm cũ), tỉnh Hưng Yên
- Đường tới
- Từ trung tâm thành phố Hà Nội, quý vị đi theo Quốc lộ 5 (đường Hà Nội - Hải Phòng cũ) khoảng 25 cây số tới ngã tư Phố Nối (thị trấn Bần Yên Nhân, tỉnh Hưng Yên), sau đó rẽ trái đi theo đường tỉnh 385 (hoặc đường đi Lạc Đạo - Đại Đồng) khoảng 5 cây số là tới Quần thể di tích Làng cổ Nôm và Chùa Nôm.
- Toạ độ
- 20.9856, 106.0925
Khi tới chiêm bái Chùa Nôm và vãn cảnh Làng cổ Nôm, quý vị sẽ đi bộ qua cây cầu đá 9 nhịp cổ kính và bước vào các dãy hành lang lưu giữ 122 pho tượng đất luyện thế kỷ 17 - 18. Xin quý vị ăn mặc kín đáo, lịch sự, đi nhẹ và nói khẽ nơi cửa Phật, tuyệt đối không chạm tay hay cạo thử lên bề mặt sơn ta của các pho tượng đất cổ, và không xả rác xuống dòng sông Nguyệt Đức hay mặt hồ Lầu Quan Âm.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Nôm
Contribute photos, information or video for Nôm PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Nôm có tên chữ là gì và vì sao có tên gọi ấy?
Chùa Nôm có tên chữ Hán là Linh Thông Cổ Tự (nghĩa là ngôi chùa cổ linh thiêng giữa rừng thông, đồng thời mang nghĩa tâm linh thông suốt diệu lý nhà Phật). Tên gọi này bắt nguồn từ việc xưa kia ngôi chùa được xây dựng giữa một rừng thông cổ thụ bạt ngàn trên gò đất cao bên dòng sông Nguyệt Đức thuộc làng Nôm, xã Đại Đồng.
Vì sao 122 pho tượng đất cổ ở Chùa Nôm ngâm nước lũ nhiều ngày mà không bị tan rã?
Các pho tượng cổ ở Chùa Nôm (hồ sơ di sản ghi 122 pho tượng đất nguyên gốc) không phải đắp bằng bùn đất thông thường mà được chế tác bằng kỹ thuật đất luyện cổ truyền: đất sét dẻo dưới đáy ao được sàng lọc kỹ rồi nhào nhuyễn với nước vôi, mật mía, nhựa cây bời lời và giấy bản (giấy dó), đắp lên cốt gỗ rồi phủ nhiều lớp sơn ta và thếp vàng bên ngoài, tạo nên lớp vỏ chống nước tuyệt đối.
Cây cầu đá cổ dẫn vào Chùa Nôm có đặc điểm gì độc đáo?
Bắc qua dòng sông Nguyệt Đức nối làng Nôm với chợ Nôm và Chùa Nôm là cây cầu đá xanh nguyên khối gồm 9 nhịp (được thay bằng đá vào thời vua Tự Đức thế kỷ 19 trên nền cầu gỗ thế kỷ 16). Cầu rộng gần 2 mét, dài khoảng 18 mét, ghép hoàn toàn bằng mộng đá tự nhiên với 18 đầu dầm cầu chạm nổi hình đầu rồng và vân mây tinh xảo.
Chùa Nôm và Làng cổ Nôm được xếp hạng Di tích quốc gia vào năm nào?
Riêng Chùa Nôm được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia từ ngày 12 tháng 2 năm 1994 theo Quyết định số 295-QĐ/BT. Đến ngày 17 tháng 1 năm 2020, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 50/QĐ-BVHTTDL xếp hạng toàn bộ Quần thể di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Làng Nôm là Di tích quốc gia.
Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, Chùa Nôm thuộc xã nào của tỉnh Hưng Yên?
Theo Nghị quyết số 1666/NQ-UBTVQH15 ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Hưng Yên, xã Đại Đồng đã hợp nhất cùng các xã Việt Hưng, Lương Tài và phần còn lại của xã Đình Dù, Lạc Đạo (thuộc huyện Văn Lâm cũ) để thành lập xã Đại Đồng mới trực thuộc tỉnh Hưng Yên, vì vậy Chùa Nôm vẫn thuộc xã Đại Đồng, tỉnh Hưng Yên.