VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Ông Hội An (Quan Công Miếu)

Quan Công Miếu, Quan Thánh Đế Miếu, Trừng Hán Cung, 關公廟, 澄漢宮

Ngôi miếu Quan Thánh cổ kính và bề thế bậc nhất thương cảng Hội An do người Việt và thương nhân Minh Hương cùng sáng lập năm Quý Tỵ (1653), nơi hội tụ kiến trúc chữ Khẩu lợp ngói ống thanh lưu ly cùng di sản văn chương của dòng họ Nguyễn Tiên Điền.

Khởi dựng
1653 (Quý Tỵ)
cư dân Việt và thương nhân Minh Hương sáng lập dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần
Tượng thờ
Cao gần 3 m
tượng Quan Thánh Đế Quân ngồi ngai cùng Quan Bình, Châu Xương và đôi ngựa Xích Thố, Bạch Mã
Xếp hạng
Di tích quốc gia
công nhận ngày 29/11/1991, thuộc Di sản văn hóa thế giới Đô thị cổ Hội An

Nằm tại số 24 đường Trần Phú, ngay khu vực trung tâm sầm uất đối diện chợ Hội An thuộc phường Hội An (thành phố Đà Nẵng), Chùa Ông Hội An hiện ra uy nghiêm với bức tường gạch sơn hồng sẫm, cổng tam quan cổ kính và hệ mái lợp ngói ống men xanh thanh lưu ly lấp lánh dưới nắng miền Trung. Trong văn bia và hoành phi cổ, ngôi miếu mang tên chính thức là Quan Công Miếu (關公廟), Quan Thánh Đế Miếu (關聖帝廟) hoặc tên hiệu trang trọng là Trừng Hán Cung (澄漢宮, nghĩa là ngôi cung điện trong sáng mang khí phách nhà Hán).

Được khởi dựng từ năm Quý Tỵ (1653) dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần bởi sự chung tay của cả cư dân người Việt bản địa lẫn các thương nhân người Hoa (làng Minh Hương), Chùa Ông không chỉ là trung tâm tín ngưỡng thờ Quan Thánh Đế Quân lớn nhất phố hội, mà còn là một bảo tàng nghệ thuật kiến trúc và văn chương Hán Nôm, nơi lưu giữ những bài thơ khắc gỗ của Tả tướng quân Nguyễn Nghiễm (thân phụ Đại thi hào Nguyễn Du) từ thế kỷ 18.

Chùa Ông Hội An (Quan Công Miếu)
Chùa Ông Hội An (Quan Công Miếu). Ảnh: Chainwit., giấy phép CC BY 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IQuan Thánh Đế Quân, Biểu Tượng Trung Nghĩa Thương Trường Và Phối Thờ Quan Bình, Châu Xương

Trong hệ thống di tích tín ngưỡng của Đô thị cổ Hội An, Chùa Ông (Quan Công Miếu) thuộc mạch nguồn Đạo giáo và tín ngưỡng Tam giáo đồng nguyên Đông Á. Vị thần chủ được tôn thờ tại chính điện là Quan Vũ (tự Vân Trường, người đất Giải Lương, Hà Đông cuối thời Đông Hán - Tam Quốc), vị danh tướng lừng lẫy được lịch sử và tâm thức dân gian Á Đông tôn phong lên hàng Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君), Hiệp Thiên Đại Đế hay Phục Ma Đại Đế (trong Phật giáo còn tôn là Già Lam Hộ Pháp). Tên hiệu thứ hai của ngôi miếu là Trừng Hán Cung (澄漢宮) chính là lời tán dương tấm lòng trung nghĩa trong vắt như nước hồ thu, suốt đời một dạ phò Hán của Quan Vân Trường.

Hầu cận hai bên tả hữu của Quan Thánh Đế Quân tại hậu cung là hai vị bộ tướng trung thành bậc nhất: bên tả (phía đông) là Quan Bình (người con nuôi tài đức vẹn toàn, tay nâng chiếc ấn báu bọc lụa điều) và bên hữu (phía tây) là Châu Xương (hay Châu Thương, vị tướng mặt sạm đen, râu quai nón dữ dội, tay cầm thanh Thanh Long Yển Nguyệt Đao uy dũng). Ở hai gian bên của tiền đường và chính điện còn tôn trí đôi chiến mã kích thước lớn như ngựa thật: một bên là ngựa Xích Thố mình đỏ như lửa (chiến mã từng cùng Quan Công vượt năm ải chém sáu tướng) và bên kia là ngựa Bạch Mã mình trắng tinh khôi, có tượng lính hầu cầm dây cương đứng giữ.

Theo giáo nghĩa

Vì sao tại một thương cảng quốc tế buôn bán tấp nập như Hội An thế kỷ 17, cư dân người Việt và thương nhân Minh Hương lại dựng một ngôi miếu thờ vị võ tướng Quan Công bề thế ngay sát khu phố chợ và bến cảng? Câu trả lời nằm ở triết lý Trọng Tín Nghĩa trong đạo lý thương trường cổ truyền. Ở thời đại mà các hợp đồng mua bán tơ lụa, gốm sứ, trầm hương trị giá hàng vạn lạng bạc giữa thương nhân nhiều nước chưa có hệ thống ngân hàng hay tòa án quốc tế bảo hộ, chữ Tín và chữ Nghĩa chính là thước đo sống còn. Quan Thánh Đế Quân, bậc trượng phu phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất (giàu sang không quyến rũ được, nghèo khó không làm lay chuyển, uy quyền vũ lực không khuất phục nổi), được tôn làm Vị Thần Bảo Hộ Thương Nghiệp (Võ Tài Thần) và là Vị Thần Chứng Giám Lời Thề.

Suốt hàng trăm năm tại Hội An, mỗi khi các thương hội ký kết giao kèo làm ăn lớn, vay mượn vốn liếng hoặc khi xảy ra tranh chấp đúng sai khó phân xử, hai bên thường cùng nhau bước vào trước án thờ Quan Thánh Đế Quân tại Trừng Hán Cung để thắp hương tuyên thệ. Trước ánh mắt uy nghiêm của pho tượng Quan Công cao gần ba mét, không ai dám nói lời gian dối hay bội tín, nhờ đó mà trật tự đạo đức và uy tín thương mại của phố cổ Hội An được duy trì bền vững qua nhiều thế kỷ.

Theo sử liệu

Điểm đặc biệt phân biệt Chùa Ông Hội An (Quan Công Miếu) với các hội quán người Hoa nằm dọc đường Trần Phú (như Hội quán Phúc Kiến, Hội quán Quảng Đông, Hội quán Triều Châu, Hội quán Hải Nam) là ở chủ thể sáng lập và quản lý. Nếu các hội quán kia do từng bang thương nhân đồng hương người Hoa riêng biệt lập nên, thì Quan Công Miếu lại do cộng đồng người Minh Hương (những người Hoa định cư lâu đời đã hòa huyết và nhập tịch Đại Việt) cùng với người Việt bản địa tại làng Hội An và làng Minh Hương đồng tâm hiệp lực xây dựng từ năm 1653. Chính vì sự giao hòa Việt - Hoa sâu sắc ấy mà người dân xứ Quảng quen gọi ngôi miếu một cách thân thương là Chùa Ông (đặt sóng đôi với Chùa Bà thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở kế bên), biến vị thần gốc Trung Hoa thành một vị thần bản cảnh gần gũi che chở cho mọi gia đình phố cổ.

Chỗ hay hiểu lầm

Một nhầm lẫn thường gặp là nhiều người thấy tên gọi Chùa Ông thì tưởng đây là ngôi chùa Phật giáo hoặc đồng nhất hoàn toàn Chùa Ông với Hội quán Quảng Đông (nơi cũng thờ Quan Công ở số 176 Trần Phú). Quý vị cần phân biệt rõ: ở Hội An, Chùa Ông (Quan Công Miếu / Trừng Hán Cung) nằm tại số 24 đường Trần Phú là ngôi miếu cổ nhất (lập năm 1653) chuyên biệt thờ Quan Thánh Đế Quân của chung cộng đồng Minh Hương và người Việt, còn Hội quán Quảng Đông ở số 176 Trần Phú là cơ sở hội quán của bang thương nhân Quảng Đông được xây dựng muộn hơn vào cuối thế kỷ 19 (năm 1885).

IIHơn Ba Trăm Bảy Mươi Năm Từ Năm Quý Tỵ 1653 Đến Dấu Ấn Dòng Họ Nguyễn Tiên Điền

Được khởi tạo từ giữa thế kỷ 17, lịch sử của Chùa Ông Hội An không chỉ được ghi chép minh bạch trên hệ thống bia đá qua sáu lần đại trùng tu, mà còn gắn liền với những trang sử văn học trung đại Việt Nam thông qua dấu chân của các bậc danh thần, thi nhân dòng họ Nguyễn Tiên Điền (Hà Tĩnh).

Theo sử liệu

Theo tấm bia đá cổ nhất còn lưu giữ tại miếu là bia Trùng tu Quan Công miếu ký lập năm Quý Dậu (1753, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 14 thời Lê Hiển Tông / thời chúa Nguyễn Phúc Khoát), ngôi miếu đã được khởi dựng từ hơn một trăm năm trước đó, tức vào năm Quý Tỵ (1653) dưới thời chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (trị vì 1648 - 1687). Lúc ban đầu, miếu chỉ là một ngôi điện thờ nhỏ, nhưng nhờ sự linh ứng của Quan Thánh và sự phồn vinh nhanh chóng của thương cảng Hội An nên đến năm 1753 đã được các bậc kỳ lão làng Minh Hương và làng Hội An đại trùng tu mở rộng quy mô lớn. Tiếp theo mốc năm 1753, hệ thống văn bia tại miếu ghi nhận chính xác năm đợt trùng tu lớn tiếp theo vào các năm: 1783 (Quý Mão), 1827 (Đinh Hợi, niên hiệu Minh Mạng thứ 8), 1864 (Giáp Tý, niên hiệu Tự Đức thứ 17), 1904 (Giáp Thìn, niên hiệu Thành Thái thứ 16) và 1966 (Bính Ngọ).

Khi đối chiếu các nguồn tài liệu viết về những áng thơ văn của dòng họ Nguyễn Tiên Điền tại Chùa Ông Hội An, thư viện ghi nhận rõ một điểm nguồn vênh nhau về năm can chi và tác giả để quý vị tra cứu chính xác. Một số bài giới thiệu du lịch sơ lược ghi rằng vào năm Ất Mão (1755) Nguyễn Nghiễm tới đề thơ và năm Quý Mão (1783) Nguyễn Du (hoặc Nguyễn Hành) viết bài ký. Tuy nhiên, khi khảo cứu trực tiếp trên hai tấm biển gỗ khắc thơ văn Hán Nôm nguyên gốc hiện treo tại Tiền đường Chùa Ông và đối chiếu với Đại Nam thực lục cùng gia phả họ Nguyễn Tiên Điền, các nhà sử học và Hán Nôm học (như học giả tại Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An) đã xác định chuẩn xác: vào mùa xuân năm Ất Mùi (1775, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 36), khi Tả tướng quân Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm (1708 - 1775, thân phụ Đại thi hào Nguyễn Du) chỉ huy quân đội vượt đèo Hải Vân vào đóng quân tại dinh Quảng Nam và phố Hội An, ông đã tới vãng cảnh Quan Công Miếu và sáng tác một bài thơ thất ngôn bát cú đề vịnh cùng một bài cổ phong ngụ ngôn ca ngợi khí tiết Quan Vũ, được hai vị danh sĩ tùy tùng là Uông Sĩ Cư (Uông Sĩ Điển) và Nguyễn Lệnh Tân họa vận (chữ Ất Mùi 乙未 năm 1775 do nét khắc cổ gần giống chữ Ất Mão 乙卯 nên một số tài liệu chép nhầm thành 1755). Còn vào đợt trùng tu năm Quý Mão (1783) (cũng như mối giao cảm văn chương của người cháu dòng họ Nguyễn Tiên Điền là danh sĩ Nguyễn Hành và Nguyễn Du đối với vùng đất Quảng Nam - Hội An), văn bia trùng tu năm 1783 đã tiếp nối mạch ngợi ca trung nghĩa ấy. Thư viện ghi rõ cả tư liệu gốc trên biển gỗ năm Ất Mùi (1775) lẫn cách ghi trong các nguồn thứ cấp để đảm bảo độ chính xác tuyệt đối.

  • 1653Khởi dựng Quan Công Miếu (Trừng Hán Cung) thời chúa Nguyễn Phúc Tần
    Năm Quý Tỵ (1653), cộng đồng người Việt và người Minh Hương tại thương cảng Hội An chung sức dựng ngôi miếu thờ Quan Thánh Đế Quân (Quan Công) ngay khu vực trung tâm phố cảng.
  • 1753Đại trùng tu lần thứ nhất và dựng bia Trùng tu Quan Công miếu ký
    Năm Quý Dậu (1753), sau tròn một thế kỷ tồn tại, ngôi miếu được đại trùng tu mở rộng bề thế và khắc dựng tấm bia đá đầu tiên ghi lại lịch sử hơn một trăm năm khởi tạo.
  • 1775Tả tướng quân Nguyễn Nghiễm đề thơ vịnh tại Quan Công Miếu
    Năm Ất Mùi (1775, một số tài liệu chép là 1755), Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm (thân phụ Đại thi hào Nguyễn Du) khi vào Hội An đã tới thăm miếu, đề bài thơ vịnh và bài cổ phong ngụ ngôn, cùng Uông Sĩ Cư và Nguyễn Lệnh Tân xướng họa, khắc lưu trên biển gỗ.
  • 1783Đại trùng tu năm Quý Mão và khắc văn bia thế kỷ 18
    Năm Quý Mão (1783), ngôi miếu tiếp tục được trùng tu tôn tạo và dựng bia ký ghi nhận sự đóng góp của các hương lão, thương nhân tại Hội An.
  • 1827 và 1864Hai đợt đại trùng tu lớn dưới triều Minh Mạng và Tự Đức
    Năm Đinh Hợi (1827, Minh Mạng thứ 8) và năm Giáp Tý (1864, Tự Đức thứ 17), Quan Công Miếu được trùng tu lớn, định hình hoàn chỉnh bố cục kiến trúc chữ Khẩu lợp ngói ống thanh lưu ly và hệ thống sắc phong triều Nguyễn.
  • 1904 và 1966Trùng tu tôn tạo trong thế kỷ 20
    Miếu trải qua hai đợt tu bổ vào năm Giáp Thìn (1904, đời Thành Thái) và năm Bính Ngọ (1966), giữ gìn nguyên vẹn hệ khung gỗ, tượng thờ và cổ vật.
  • 1991 và 2025Xếp hạng Di tích quốc gia (1991) và thuộc phường Hội An, thành phố Đà Nẵng (2025)
    Ngày 29/11/1991, Bộ Văn hóa công nhận Chùa Ông (Quan Công Miếu) là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Từ ngày 1/7/2025, theo Nghị quyết 202/2025/QH15 và Nghị quyết 1659/NQ-UBTVQH15, di tích thuộc phường Hội An mới, thành phố Đà Nẵng.

IIIBố Cục Chữ Khẩu Lợp Ngói Thanh Lưu Ly, Thiên Tỉnh Non Bộ Và Bộ Tượng Quan Thánh Cao Gần 3 Mét

Kiến trúc Chùa Ông Hội An (Quan Công Miếu) tại số 24 đường Trần Phú là một mẫu mực cổ điển của nghệ thuật kiến trúc đền miếu Minh Hương kết hợp với bàn tay tài hoa của các nghệ nhân mộc Kim Bồng và gốm Thanh Hà xứ Quảng. Toàn bộ công trình được quy hoạch theo mặt bằng kiểu chữ Khẩu (口) (hoặc chữ Quốc 國 khép kín bốn bề), gồm bốn tòa nhà nối liền nhau bao quanh một khoảng sân trời ở giữa: phía trước là Tiền đường (Tiền điện), hai bên là hai dãy Đông lang (Tả vu) và Tây lang (Hữu vu), ở chính giữa là khoảng Thiên tỉnh (giếng trời) thoáng đãng có hồ nước và hòn non bộ, và trong cùng là Chính điện (Hậu cung / Thượng điện) uy nghiêm.

Ngay từ ngoài nhìn vào, tòa Tiền đường gây ấn tượng mạnh mẽ bởi hệ mái chồng diêm cao vút lợp bằng ngói ống tráng men xanh ngọc (thanh lưu ly), trên bờ nóc và bờ quyết đắp nổi hình lưỡng long tranh châu, cá chép hóa rồng, kỳ lân, phượng hoàng và các tích truyện cổ bằng nghệ thuật ghép mảnh sành sứ men màu rực rỡ. Hệ khung gỗ của miếu sử dụng thức kiến trúc chồng rường giả thủ đặc trưng, các đầu dư, kẻ bẩy và bao lam đều được chạm lộng tinh xảo hình tứ linh, mai điểu, tùng lộc sơn son thếp vàng. Bước qua khoảng sân Thiên tỉnh ngập tràn ánh sáng tự nhiên với hòn non bộ xanh mát, du khách tiến vào không gian thâm trầm của Chính điện, nơi ngự trị của bộ tượng Quan Thánh Đế Quân, Quan Bình và Châu Xương thuộc hàng kiệt tác điêu khắc cổ tại Hội An.

Pho tượng Quan Thánh Đế Quân cao gần 3 mét trên ngai rồng

Đặt tại khám thờ chính giữa hậu cung, pho tượng Quan Công cao gần 3 m được cốt bằng giấy bồi và gỗ chạm, sơn thếp vàng lộng lẫy, mặc triều phục thêu rồng, mặt đỏ uy nghiêm, mắt phượng mày tầm, râu dài năm chòm buông trước ngực, ngồi trên ngai rồng với thần thái như người thật.

Tượng tướng Quan Bình nâng ấn và Châu Xương cầm Thanh Long đao

Hai pho tượng đứng hầu hai bên tả hữu bệ thờ chính với kích thước lớn hơn người thật: bên trái là Quan Bình trẻ trung mặt trắng thư sinh hai tay nâng ấn báu bọc lụa, bên phải là Châu Xương oai phong mặt đen râu quai nón tay nắm chặt thanh đại đao Thanh Long Yển Nguyệt.

Đôi chiến mã Xích Thố và Bạch Mã kích thước thật

Bố trí đối xứng ở hai bên gian thờ: bên hữu (phía tây) là tuấn mã Xích Thố màu đỏ hồng rực rỡ, bên tả (phía đông) là tuấn mã Bạch Mã màu trắng muốt, cả hai đều cao gần 2 m, dài hơn 2 m, trang bị đủ yên cương nhạc ngựa và có tượng mã phu đứng hầu.

Mặt bằng chữ Khẩu, mái ngói ống thanh lưu ly và Thiên tỉnh non bộ

Bố cục 4 tòa nhà (Tiền đường, Đông Tây lang, Chính điện) khép kín hình chữ Khẩu quanh sân giếng trời (Thiên tỉnh). Giữa Thiên tỉnh đặt bể cạn non bộ tạo cảnh sơn thủy hữu tình, giúp đón ánh sáng, thông gió và thoát khói hương cho toàn bộ ngôi miếu.

Biển gỗ khắc thơ Nguyễn Nghiễm (1775), 6 bia đá cổ và hệ thống hoành phi

Di sản Hán Nôm vô giá gồm tấm biển gỗ chạm bài thơ và bài cổ phong của Tả tướng quân Nguyễn Nghiễm (năm 1775), 6 tấm bia đá ghi các lần trùng tu (từ năm 1753 đến 1966), quả chuông đồng đúc thời Thành Thái, các đạo sắc phong triều Nguyễn và hơn 30 bức hoành phi (như Trừng Hán Cung, Chí Tại Xuân Thu, Nghĩa Khí Trung Thiên).

Theo sử liệu

Hệ thống hơn ba mươi bức hoành phi và hàng chục câu đối chữ Hán treo khắp Tiền đường, Đông Tây lang và Chính điện của Chùa Ông Hội An tạo nên một không gian giáo dục đạo lý sống động bằng nghệ thuật thư pháp. Những bức đại tự nổi tiếng như Trừng Hán Cung (澄漢宮), Chí Tại Xuân Thu (志在春秋, nghĩa là chí lớn gửi trọn vào kinh Xuân Thu của Khổng Tử), Nghĩa Khí Trung Thiên (義氣沖天, nghĩa khí vút tận trời xanh) hay Vạn Cổ Tinh Trung (萬古精忠, lòng trung sáng mãi muôn đời) vừa khẳng định phẩm cách của vị thần được thờ, vừa phản ánh trình độ học vấn Hán học uyên thâm của giới sĩ phu và thương nhân Minh Hương tại Hội An thế kỷ 17 - 19.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế và kiến trúc cổ truyền dựa trên vị trí thực tế của di tích tại số 24 đường Trần Phú và sông Thu Bồn, không phải nội dung chép nguyên văn từ văn bia. Thư viện nói rõ để quý vị phân biệt giữa sử liệu và kiến giải phong thủy.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ địa hình tại tọa độ khoảng vĩ bắc 15,8776 độ và kinh đông 108,3308 độ, Chùa Ông Hội An (Quan Công Miếu) tọa lạc tại vị trí trung tâm phồn hoa bậc nhất của trục đường Trần Phú (con đường huyết mạch chạy dọc theo lưng rồng của phố cổ Hội An). Ngôi miếu được định vị theo thế tọa Bắc hướng Nam (hơi chếch Đông Nam): lưng miếu tựa vào dải đất cao phía bắc phố cổ làm hậu chẩm vững chãi, còn mặt tiền của miếu mở thẳng ra đường Trần Phú và khu vực chợ Hội An, nhìn xuống dòng sông Thu Bồn (sông Hoài) và bến thuyền thương cảng ở phía nam làm đại minh đường tụ thủy. Trong phong thủy dương cơ đô thị, nơi ngã ba phố chợ gặp bến sông lớn là điểm hội tụ của cả nhân khí (dòng người mua bán tấp nập) lẫn thủy khí (dòng nước sông Thu Bồn mang phù sa và thuyền buôn từ cửa biển Cửa Đại vào). Đặt ngôi miếu thờ Võ Tài Thần Quan Thánh Đế Quân ngay tại tâm điểm giao thương ấy chính là cách thu nạp vượng khí tài lộc cho toàn khu phố Minh Hương.

Không chỉ đắc địa ở vị trí ngoại cục, ngay bên trong kiến trúc mặt bằng chữ Khẩu (口) của Chùa Ông cũng ẩn chứa một cấu trúc phong thủy nội minh đường tàng phong tụ khí vô cùng chuẩn mực. Bốn khối nhà Tiền đường, Đông lang, Tây lang và Chính điện khép kín bốn phía giúp ngăn chặn tiếng ồn náo nhiệt của phố chợ và giữ cho trường khí bên trong không bị gió thổi tán loạn (tàng phong). Ở đúng tâm điểm của hình chữ Khẩu ấy là khoảng Thiên tỉnh (giếng trời) mở thông thẳng lên bầu trời để đón thiên khí (ánh dương quang và nước mưa) rơi xuống bể nước và hòn non bộ (địa khí). Nước mưa từ bốn mái ngói ống thanh lưu ly chảy tụ cả vào lòng sân Thiên tỉnh theo nguyên tắc tứ thủy quy đường (bốn dòng nước quy tụ về một nhà), vừa điều hòa vi khí hậu mát mẻ quanh năm, vừa tạo thành huyết mạch sinh khí nuôi dưỡng không gian thờ tự Quan Thánh Đế Quân ở Chính điện suốt hơn ba thế kỷ rưỡi.

VTết Nguyên Tiêu Tháng Giêng Và Lễ Vía Quan Thánh Đế Quân 24 Tháng Sáu Âm Lịch

Trong đời sống văn hóa tâm linh của cư dân phố cổ Hội An (thành phố Đà Nẵng), Chùa Ông (Quan Công Miếu) là tâm điểm của những kỳ lễ hội truyền thống sầm uất nhất trong năm, đặc biệt là Tết Nguyên tiêu (đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2023) và Lễ vía Ông vào mùa hạ.

Các kỳ lễ hội truyền thống hằng năm tại Di tích quốc gia Chùa Ông Hội An (Quan Công Miếu), phường Hội An, thành phố Đà Nẵng. Nguồn: Tổng hợp từ Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, Báo Đà Nẵng và Hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Tết Nguyên tiêu ở Hội An..
Thời gian âm lịchTên kỳ lễ hộiNội dung nghi thức và sinh hoạt tín ngưỡng
Ngày 14 đến 16 tháng Giêng âm lịchTết Nguyên tiêu (Thượng nguyên) và Lễ vía Ông đầu nămKỳ lễ hội lớn nhất tại Chùa Ông Hội An. Từ đêm 15 rạng sáng ngày 16 tháng Giêng, hàng vạn người dân và du khách xếp hàng vào dâng hương tại Trừng Hán Cung để cầu bình an, tài lộc, may mắn, xin lộc đầu năm và chiêm ngưỡng lễ tế cổ truyền, múa lân sư rồng, múa thiên cẩu rộn ràng trên phố Trần Phú.
Ngày 24 tháng Sáu âm lịchLễ vía chính Đức Quan Thánh Đế Quân (Quan Công đản)Ngày kỷ niệm đản sinh của Đức Quan Thánh Đế Quân. Ban quản lý di tích và các bô lão cử hành lễ đại tế trang trọng theo nghi thức cổ truyền với lễ vật tam sinh, hoa quả, dâng hương tưởng niệm tấm gương trung nghĩa vẹn toàn của Đức Ông.
Ngày 13 tháng Năm âm lịchLễ vía Quan Bình Thái tử (Đơn đao phó hội)Ngày lễ tưởng niệm tướng Quan Bình và kỷ niệm điển tích Quan Vân Trường một mình một đao sang sông dự hội, thu hút đông đảo thương nhân và cư dân phố cổ tới hành lễ.
Ngày Rằm tháng Bảy và Rằm tháng Mười âm lịchLễ Trung nguyên và Lễ Hạ nguyên cầu anCác kỳ lễ cúng tế truyền thống giữa năm và cuối năm của cộng đồng cư dân Hội An tại Quan Công Miếu để tạ ơn thần linh che chở và cầu cho mưa thuận gió hòa.

Mỗi dịp rằm tháng Giêng Tết Nguyên tiêu hay ngày 24 tháng Sáu âm lịch lễ vía Đức Quan Thánh, dưới những vòng nhang trầm xoắn ốc treo lơ lửng tỏa hương thơm ngát khắp sân Thiên tỉnh, dòng người thành kính bước qua ngưỡng cửa Trừng Hán Cung không chỉ để cầu xin tài lộc buôn may bán đắt, mà còn để tự soi mình vào bốn chữ Trung - Tín - Nghĩa - Dũng. Hơn ba trăm bảy mươi năm kể từ năm Quý Tỵ (1653), ngôi miếu cổ ở số 24 đường Trần Phú vẫn đứng vững như một cột mốc đạo lý trường tồn giữa lòng Di sản văn hóa thế giới Hội An.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 24 đường Trần Phú, phường Hội An (trước tháng 7/2025 là phường Minh An, thành phố Hội An cũ, tỉnh Quảng Nam cũ), thành phố Đà Nẵng
Đường tới
Từ trung tâm hành chính thành phố Đà Nẵng, quý vị đi về phía nam theo tuyến đường Võ Nguyên Giáp - Trường Sa - Lạc Long Quân khoảng 28 km tới khu phố cổ thuộc phường Hội An (thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam cũ), đi bộ vào đầu phía đông đường Trần Phú tới số nhà 24 (ngay đối diện khu chợ Hội An) là tới Chùa Ông.
Toạ độ
15.8776, 108.3308
Khi tới nơi

Khi tới tham quan và chiêm bái Chùa Ông Hội An (Quan Công Miếu) tại số 24 đường Trần Phú, xin quý vị mặc trang phục lịch sự, kín đáo và giữ thái độ tôn nghiêm trước các ban thờ. Tại khu vực Chính điện, quý vị chỉ thắp hương ở các lư hương quy định bên ngoài hoặc theo sự hướng dẫn của người trông coi miếu để phòng chống cháy nổ cho hệ khung gỗ cổ hơn ba trăm năm tuổi, đồng thời tuyệt đối không chạm tay vào bộ tượng Quan Thánh Đế Quân, Quan Bình, Châu Xương, đôi ngựa gỗ và các tấm biển gỗ khắc thơ văn cổ của Nguyễn Nghiễm.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Ông Hội An (Quan Công Miếu)

Contribute photos, information or video for Chùa Ông Temple, Hội An (Quan Công Temple)

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Ông Hội An (Quan Công Miếu) được xây dựng vào năm nào và do ai sáng lập?

Theo tấm bia đá Trùng tu Quan Công miếu ký lập năm Quý Dậu (1753) lưu giữ tại di tích, ngôi miếu được khởi dựng vào năm Quý Tỵ (1653) dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần. Điểm đặc biệt là miếu do cả cộng đồng người Việt bản địa lẫn các thương nhân người Hoa (làng Minh Hương) tại thương cảng Hội An chung sức sáng lập, còn có tên hiệu chữ Hán là Trừng Hán Cung.

Bên trong Chính điện Chùa Ông Hội An thờ những pho tượng nào đặc sắc?

Chính điện tôn trí bộ tượng cổ vô cùng uy nghiêm: ở chính giữa là pho tượng Quan Thánh Đế Quân (Quan Công) cao gần 3 mét mặc triều phục dát vàng ngồi trên ngai rồng, bên tả là tướng Quan Bình hai tay nâng ấn báu, bên hữu là tướng Châu Xương mặt đen râu quai nón tay cầm thanh Thanh Long Yển Nguyệt Đao, và ở hai bên gian thờ là đôi tuấn mã Xích Thố (ngựa đỏ) và Bạch Mã (ngựa trắng) có kích thước lớn như ngựa thật.

Dấu ấn văn chương của dòng họ Nguyễn Tiên Điền (thân phụ Nguyễn Du) tại Chùa Ông Hội An là gì?

Tại Tiền đường của miếu hiện vẫn lưu giữ tấm biển gỗ cổ khắc bài thơ đề vịnh và bài cổ phong ngụ ngôn của Tả tướng quân Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm (thân phụ Đại thi hào Nguyễn Du) sáng tác khi ông vào Hội An mùa xuân năm Ất Mùi (1775, một số nguồn chép nhầm là Ất Mão 1755), cùng thơ họa vận của hai danh sĩ Uông Sĩ Cư và Nguyễn Lệnh Tân. Miếu cũng lưu giữ bia trùng tu năm Quý Mão (1783) và gắn với ký ức văn chương của dòng họ Nguyễn Tiên Điền tại xứ Quảng.

Chùa Ông Hội An đã trải qua những lần trùng tu nào và được xếp hạng Di tích quốc gia khi nào?

Căn cứ vào hệ thống 6 tấm bia đá cổ tại di tích, sau khi khởi dựng năm 1653, Quan Công Miếu đã trải qua 6 đợt đại trùng tu lớn vào các năm 1753, 1783, 1827, 1864, 1904 và 1966. Ngày 29 tháng 11 năm 1991, Bộ Văn hóa đã ban hành quyết định công nhận Chùa Ông (Quan Công Miếu) là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Lễ hội lớn nhất tại Chùa Ông Hội An diễn ra vào ngày nào và di tích nay thuộc đơn vị hành chính nào?

Chùa Ông có hai kỳ lễ hội lớn nhất trong năm là Tết Nguyên tiêu (từ ngày 14 đến 16 tháng Giêng âm lịch, Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia) và Lễ vía chính Đức Quan Thánh Đế Quân vào ngày 24 tháng Sáu âm lịch. Về hành chính, từ ngày 1 tháng 7 năm 2025 theo Nghị quyết 202/2025/QH15 và Nghị quyết 1659/NQ-UBTVQH15, di tích nằm tại số 24 đường Trần Phú, phường Hội An mới (trước là phường Minh An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam cũ), thành phố Đà Nẵng.

›Đọc Tiếp