VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Hội quán Phúc Kiến (Kim Sơn Tự)

Phước Kiến Hội Quán, Kim Sơn Tự, Chùa Phúc Kiến, 福建會館, 金山寺

Hội quán có quy mô kiến trúc bề thế và lộng lẫy bậc nhất Đô thị cổ Hội An, khởi nguồn từ ngôi thảo am Kim Sơn Tự cuối thế kỷ 17 (1697) rồi được thương nhân bang Phúc Kiến kiến thiết từ năm Càn Long thứ 22 (1757) để phụng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, Lục Tánh Vương Gia và Thập nhị Bà Mụ.

Khởi nguồn
1697 & 1757
thảo am Kim Sơn Tự dựng năm 1697, năm Càn Long thứ 22 (1757) bang Phúc Kiến mua lại và đại tu 1792
Kiến trúc
Kiểu chữ Tam (三)
cổng Tam quan 7 tầng mái khảm sành sứ (1970 - 1975), Chính điện, sân Thiên tỉnh và Hậu điện
Xếp hạng
Di tích quốc gia
xếp hạng ngày 17/2/1990, thuộc Di sản văn hóa thế giới Đô thị cổ Hội An (UNESCO 1999)

Đi dọc theo trục đường cổ Trần Phú ở trung tâm khu phố cổ thuộc phường Hội An, thành phố Đà Nẵng (cách Chùa Ông Hội An (Quan Công Miếu) tại số 24 Trần Phú chỉ vài chục bước chân về phía tây), khi dừng lại trước số nhà 46, quý vị sẽ choáng ngợp trước một cổng Tam quan đồ sộ vươn lên với bảy tầng mái ngói uốn cong rực rỡ sắc màu sành sứ. Trên trán cổng mặt ngoài khắc ba chữ Hán lớn Kim Sơn Tự (金山寺), còn mặt trong khắc bốn chữ Phúc Kiến Hội Quán (福建會館). Đó chính là Hội quán Phúc Kiến (người dân xứ Quảng thường đọc là Phước Kiến Hội Quán), công trình hội quán có diện tích rộng lớn nhất, chiều sâu kiến trúc thâm nghiêm nhất và trang trí mỹ thuật lộng lẫy bậc nhất của Đô thị cổ Hội An.

Khởi nguồn từ một ngôi thảo am thờ Phật lợp tranh dựng từ cuối thế kỷ 17 (năm 1697) rồi được các thương gia giàu có bậc nhất của bang Phúc Kiến mua lại vào năm Đinh Sửu niên hiệu Càn Long thứ 22 (1757) và đại trùng tu năm 1792, Hội quán Phúc Kiến không chỉ là nơi phụng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu che chở những đoàn thuyền buôn vượt biển, mà còn là nơi lưu giữ tín ngưỡng thờ Lục Tánh Vương Gia trung nghĩa cùng ban thờ Thập nhị Bà Mụ độc đáo trong lòng di sản thế giới.

Hội quán Phúc Kiến (Kim Sơn Tự)
Hội quán Phúc Kiến (Kim Sơn Tự). Ảnh: Chainwit., giấy phép CC BY 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

ITừ Thảo Am Kim Sơn Tự Đến Thần Điện Thiên Hậu Thánh Mẫu, Lục Tánh Vương Gia Và Thập Nhị Bà Mụ

Câu chuyện đầu tiên khiến mọi du khách dừng chân suy ngẫm khi bước qua cổng Hội quán Phúc Kiến là vì sao một hội quán của thương nhân người Hoa thuộc truyền thống Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian lại treo trang trọng tấm biển hiệu Kim Sơn Tự (金山寺, nghĩa là Chùa Núi Vàng) ngay chính giữa cổng Tam quan. Tư liệu lịch sử và văn bia tại Hội An giải đáp rõ rằng: vào cuối thế kỷ 17 (năm Đinh Sửu 1697), mảnh đất này vốn là một ngôi thảo am nhỏ lợp tranh do cư dân bản địa dựng lên để thờ Phật với tên hiệu là Kim Sơn Tự. Trải qua hơn nửa thế kỷ mưa nắng, ngôi chùa tranh bị hư hại nặng mà dân làng không đủ tài lực tu sửa, nên đến năm Đinh Sửu niên hiệu Càn Long thứ 22 (1757), các thương nhân người Hoa thuộc bang Phúc Kiến (nhóm hoa thương đông đảo và giàu mạnh nhất tại thương cảng Hội An lúc bấy giờ) đã mua lại toàn bộ khu đất và ngôi thảo am để kiến thiết thành trụ sở Phúc Kiến Hội Quán. Với lòng tôn kính vị Phật chủ cũ của mảnh đất và tri ân những người Việt tiền nhân đã dựng am, các thương gia Phúc Kiến không xóa bỏ tên chùa xưa mà vẫn giữ nguyên ba chữ Kim Sơn Tự trên trán cổng chính, đồng thời vẫn duy trì tôn tượng Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ngồi thiền định trang nghiêm ngay phía trước ban thờ chính.

Sau đợt đại trùng tu năm Nhâm Tý niên hiệu Càn Long thứ 57 (1792), trọng tâm tín ngưỡng tại Chính điện của hội quán được dành để phụng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu (天后聖母, tức Lâm Mặc Nương / Ma Tổ, vị nữ thần biển cả người huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến). Trong tâm thức của những thương nhân Phúc Kiến quanh năm lênh đênh trên những chiếc thuyền buôn (thuyền Bạch Đằng / thuyền Phúc Kiến) chở tơ lụa, gốm sứ, quế, trầm hương vượt biển Đông, Thiên Hậu Thánh Mẫu chính là người mẹ thiêng liêng dùng đèn thần soi đường và dẹp yên bão tố. Đứng canh giữ hai bên trước Chính điện là hai pho tượng thần tướng khổng lồ với thần thái uy dũng: bên tả là Thiên Lý Nhãn (千里眼, vị tướng mình xanh giơ tay che trán nhìn thấu ngàn dặm sóng khơi để phát hiện thuyền gặp nạn) và bên hữu là Thuận Phong Nhĩ (順風耳, vị tướng mình đỏ nghiêng tai nghe thấu lời cầu cứu của ngư dân, thương khách trong tiếng gió gào).

Theo giáo nghĩa

Đi sâu qua khoảng sân sau để bước vào khu vực Hậu điện (Hậu cung) của Hội quán Phúc Kiến, không gian thờ tự mở ra hai lớp tín ngưỡng mang đậm triết lý nhân sinh và lịch sử của người Mân Nam: đạo lý trung nghĩa hướng về cội nguồn và ước vọng sinh sôi nảy nở của dòng tộc. Tại gian chính giữa Hậu điện, bên cạnh án thờ các bậc Tiền hiền (những vị tổ tiên có công khai sáng bang Phúc Kiến tại Hội An và quyên tiền dựng hội quán), là ban thờ uy nghiêm tôn trí sáu pho tượng của Lục Tánh Vương Gia (六姓王爺). Theo sử liệu và truyền thống của người Hoa Phúc Kiến tại Hội An, Lục Tánh Vương Gia là sáu vị vương gia và tướng lĩnh mang sáu họ khác nhau cuối thời nhà Minh gồm: Khâm Vương, Trương Vương, Thuấn Vương, Chu Vương, Hoàng Vương và Thập Tam Vương. Vào giữa thế kỷ 17, khi nhà Minh sụp đổ và quân Mãn Thanh tràn xuống miền nam Trung Hoa, sáu vị tướng này đã kề vai sát cánh chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để giữ trọn tấm lòng trung liệt. Những người Phúc Kiến rời quê hương sang Đàng Trong lánh nạn (vốn mang tâm thức phản Thanh phục Minh và tự nhận là người Minh Hương) đã lập khám thờ Lục Tánh Vương Gia tại hậu cung hội quán như biểu tượng bất diệt của khí tiết trung nghĩa và thần lực hộ mệnh cho cộng đồng nơi đất khách.

Ở gian bên của Hậu điện lại là một không gian ấm áp tình mẫu tử: ban thờ Bà Chúa Thai Sanh (Chú Sinh Nương Nương) ngự ở chính giữa, xung quanh là Thập nhị Bà Mụ (12 Bà Mụ / Thập nhị Hoa Bà) cùng 3 đức ông. Mỗi pho tượng Bà Mụ được tạc với một tư thế chăm sóc trẻ thơ vô cùng sinh động và gần gũi: bà thì nặn tai, bà nặn mắt, bà nặn chân tay, bà dạy trẻ cười, bà dạy trẻ nói, bà bồng bế cho bú, bà tắm rửa giữ gìn giấc ngủ. Đối với người Hoa cũng như người Việt tại Hội An, tài sản lớn nhất của một gia tộc không chỉ là vàng bạc trên thương thuyền mà chính là nhân đinh nối dõi. Bởi vậy, các cặp vợ chồng hiếm muộn hoặc những gia đình mới sinh con đều thành kính tới trước án thờ Bà Chúa Thai Sanh và 12 Bà Mụ tại Hội quán Phúc Kiến để cầu tự, cầu mẹ tròn con vuông và gửi gắm con trẻ nhờ bóng Bà che chở.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều du khách khi thấy bức hoành Kim Sơn Tự ở cổng ngoài và tượng Quan Thế Âm ở bên trong thường lầm tưởng đây vẫn là một ngôi chùa Phật giáo có sư trụ trì, hoặc khi nhìn thấy sáu pho tượng Lục Tánh Vương Gia mặt đỏ mặt đen uy nghiêm ở Hậu điện lại nhầm với Ngũ Hành Nương Nương hay các vị quan tòa Địa phủ. Thực tế, từ năm 1757 đến nay, công trình là một Hội quán người Hoa (kết hợp đền miếu Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian Phúc Kiến) do Ban quản trị bang Phúc Kiến điều hành, còn Lục Tánh Vương Gia là sáu vị trung thần thời nhà Minh được phong thần bảo hộ cho bang hội.

IIHơn Ba Trăm Năm Từ Năm Đinh Sửu (1697), Thương Vụ Năm Càn Long Thứ 22 (1757) Đến Đại Trùng Tu 1792 Và 1975

Lịch sử của Hội quán Phúc Kiến tại số 46 đường Trần Phú phản ánh trọn vẹn quá trình định cư, hưng thịnh và hòa nhập văn hóa của cộng đồng thương nhân người Hoa bang Phúc Kiến tại thương cảng quốc tế Hội An suốt hơn ba thế kỷ qua.

Theo sử liệu

Khi khảo cứu về khởi nguồn năm 1697 của di tích, thư viện ghi nhận rõ hai lớp tư liệu lịch sử và truyền thuyết dân gian cùng tồn tại để quý vị đối chiếu. Theo hồ sơ nghiên cứu lịch sử và văn bia của Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, vào khoảng năm Đinh Sửu (1697, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu), người dân địa phương đã dựng ngôi thảo am nhỏ lợp tranh thờ Phật mang tên Kim Sơn Tự. Trong khi đó, một lớp truyền thuyết dân gian tại phố cổ lại kể rằng vào năm 1697, người dân phát hiện một pho tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu bằng gỗ sơn son thếp vàng trôi dạt vào bờ biển Hội An (tương truyền từ vùng biển Phúc Kiến trôi vào), nên đã lập ngôi miếu nhỏ bằng tranh tre để phụng thờ. Dù bắt đầu từ thảo am thờ Phật hay miếu thờ pho tượng trôi dạt, các nguồn sử liệu đều thống nhất ở mốc lịch sử bước ngoặt: vào năm Đinh Sửu niên hiệu Càn Long thứ 22 (1757, đời chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), khi ngôi thảo am Kim Sơn Tự bị xuống cấp mà dân làng không đủ sức đại tu, các thương nhân người Hoa thuộc bang Phúc Kiến đã bỏ tiền mua lại ngôi am này và tiến hành đợt trùng tu, mở rộng lần đầu tiên thành hội quán của bang mình.

Ba mươi lăm năm sau, vào năm Nhâm Tý niên hiệu Càn Long thứ 57 (1792), thương nhân bang Phúc Kiến tiếp tục quyên góp một nguồn kinh phí lớn để tiến hành đợt đại trùng tu toàn diện, thay thế các cấu kiện đơn sơ bằng hệ khung gỗ lim, cột đá xanh và mái ngói âm dương kiên cố, định hình rõ nét quy chế thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu và Lục Tánh Vương Gia như hiện thấy. Sang thế kỷ 19 và thế kỷ 20, căn cứ theo 13 tấm bia đá chữ Hán hiện còn gắn trên tường hội quán, công trình đã trải qua các đợt trùng tu lớn vào các năm Đạo Quang thứ 21 (Tân Sửu 1841), Quang Tự thứ 14 (Mậu Tý 1888), năm 1925 và đặc biệt là đợt đại kiến thiết từ năm 1970 đến năm 1975 (xây dựng hoàn chỉnh cổng Tam quan khảm sành sứ đồ sộ 7 tầng mái ở phía ngoài cùng hệ thống sân vườn, đài phun nước). Ngày 17 tháng 2 năm 1990, Hội quán Phúc Kiến được Bộ Văn hóa - Thông tin chính thức xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, và đến tháng 12 năm 1999 trở thành một trong những di tích hạt nhân của Di sản văn hóa thế giới Đô thị cổ Hội An.

  • 1697 (Đinh Sửu)Khởi dựng ngôi thảo am Kim Sơn Tự tại phố cổ Hội An
    Người dân địa phương dựng ngôi thảo am nhỏ lợp tranh mang tên Kim Sơn Tự để thờ Phật (truyền thuyết dân gian cũng gắn năm này với việc vớt được pho tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu trôi dạt vào bờ biển Hội An).
  • 1757 (Càn Long thứ 22)Thương nhân bang Phúc Kiến mua lại Kim Sơn Tự và lập Hội quán Phúc Kiến
    Năm Đinh Sửu (1757), do thảo am bị hư hại, dân làng bán lại cho các thương nhân người Hoa bang Phúc Kiến để trùng tu mở rộng thành trụ sở hội quán đồng hương, nhưng vẫn giữ lại biển hiệu Kim Sơn Tự.
  • 1792 (Càn Long thứ 57)Đại trùng tu bằng gỗ đá kiên cố và hoàn thiện quy chế thờ Thiên Hậu
    Năm Nhâm Tý (1792), bang Phúc Kiến tiến hành đại trùng tu quy mô lớn bằng gỗ quý, đá xanh và ngói âm dương, tôn trí trang nghiêm điện thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu và Hậu điện thờ Lục Tánh Vương Gia.
  • 1841 và 1888Các đợt trùng tu lớn thời Đạo Quang (1841) và Quang Tự (1888)
    Các thế hệ hoa thương Phúc Kiến tại Hội An tiếp tục đóng góp trùng tu điện thờ, đúc chuông đồng, tạo tác hoành phi câu đối và dựng các tấm bia đá chữ Hán vào năm 1841 và 1888.
  • 1925Trùng tu gia cố kiến trúc đầu thế kỷ 20
    Hội quán được tu bổ mái ngói, sân thiên tỉnh và các dãy nhà Đông - Tây lang vào năm 1925.
  • 1970 - 1975Xây dựng hoàn chỉnh cổng Tam quan khảm sành sứ 7 tầng mái đồ sộ
    Trong giai đoạn 1970 - 1975 (hoàn tất đầu năm 1975), cổng Tam quan khảm sành sứ nhiều màu cao lớn bậc nhất Hội An cùng khuôn viên sân vườn, non bộ cá chép hóa rồng phía trước được kiến thiết hoàn chỉnh.
  • 1990 và 1999Xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia (1990) và Di sản thế giới UNESCO (1999)
    Ngày 17/02/1990, Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng Hội quán Phúc Kiến là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Tháng 12/1999, công trình nằm trong vùng lõi Di sản văn hóa thế giới Đô thị cổ Hội An.

IIIBố Cục Mặt Bằng Chữ Tam Sâu Hơn 100 Mét, Cổng Tam Quan Khảm Sứ 7 Tầng Mái Và Mô Hình Thuyền Buôn Cổ

Nằm trên một thửa đất rộng lớn và chạy sâu hun hút hơn 100 mét từ mặt phố Trần Phú vào tới tận phía bắc, Hội quán Phúc Kiến (Kim Sơn Tự) được quy hoạch theo bố cục mặt bằng hình chữ Tam (三) chuẩn mực, gồm các lớp không gian nối tiếp nhau theo một trục thần đạo đăng đối nghiêm ngặt: Cổng ngoài (Tiền môn), Sân vườn cảnh quan, Cổng Tam quan đại môn, Sân Thiên tỉnh trước, Tiền điện, Chính điện, Sân Thiên tỉnh sau và Hậu điện (Hậu cung), hai bên tả hữu được nối kết bởi hai dãy nhà Đông lang và Tây lang chạy dọc suốt chiều sâu công trình. Sự đan xen nhịp nhàng giữa một lớp nhà mái ngói thâm nghiêm với một khoảng sân trời ngập tràn ánh nắng, cây xanh và mặt nước giúp cho toàn bộ hội quán luôn thông thoáng, mát mẻ và mang chiều sâu tâm linh cuốn hút.

Hạng mục kiến trúc gây ấn tượng thị giác mạnh mẽ nhất chính là Cổng Tam quan đại môn được kiến thiết hoàn chỉnh vào giai đoạn 1970 - 1975. Đây là một công trình cổng tam quan bảy tầng mái uốn cong chồng xếp lên nhau như những lớp sóng biển, toàn bộ bờ nóc, đầu đao và các ô hộc trên thân cổng được khảm ghép hàng vạn mảnh sành sứ men màu tinh xảo tạo nên hình tượng Lưỡng long tranh châu, Tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng), Bát tiên và hoa lá rực rỡ. Trên trán cổng tầng trên khắc ba chữ Kim Sơn Tự (金山寺), tầng dưới khắc bốn chữ Phúc Kiến Hội Quán (福建會館), dưới chân cổng có cặp sư tử đá xanh uy nghi đứng trấn giữ. Bước vào Tiền điện và Chính điện, bộ khung chịu lực bằng gỗ lim và gỗ mít lớn được chạm trổ công phu theo lối chồng rường giả thủ kết hợp các bức bao lam, hoành phi (như bức Hải bất dương ba - Biển không nổi sóng), câu đối sơn son thếp vàng và những vòng nhang tháp khổng lồ treo rủ từ trần cao tỏa khói trầm huyền ảo.

Cổng Tam quan 7 tầng mái khảm sành sứ (1970 - 1975) mang biển Kim Sơn Tự

Biểu tượng kiến trúc nổi tiếng bậc nhất trên đường Trần Phú: cổng tam quan đồ sộ với 7 tầng mái ngói ống men xanh và vàng uốn cong, khảm ghép sành sứ hình Lưỡng long tranh châu, Tứ linh, mặt trước đắp chữ 'Kim Sơn Tự', mặt sau đắp chữ 'Phúc Kiến Hội Quán'.

Mô hình Thuyền buôn cổ của thương nhân Phúc Kiến và Bích họa Thiên Hậu cứu nạn

Đặt trang trọng tại gian bên của Chính điện là mô hình chiếc thuyền buôn cổ bằng gỗ dài hơn 2 mét được chế tác năm Mậu Thân (1968) theo nguyên mẫu thương thuyền Phúc Kiến thế kỷ 17 - 18, mũi thuyền vẽ đôi mắt lớn nhìn xuyên sóng gió, đặt cạnh bức tranh tường lớn vẽ cảnh Thiên Hậu Thánh Mẫu hiện thân trên mây cứu thuyền buôn vượt bão.

Hệ thống tượng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, Thiên Lý Nhãn, Thuận Phong Nhĩ và Quan Âm

Tại Chính điện, pho tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu ngồi ngai sơn son thếp vàng lộng lẫy phía sau tôn tượng Quan Thế Âm Bồ Tát ngồi thiền, hai bên tiền sảnh là hai pho tượng thần tướng Thiên Lý Nhãn (mình xanh) và Thuận Phong Nhĩ (mình đỏ) cao gần 2 mét cực kỳ uy dũng.

Hậu điện thờ Lục Tánh Vương Gia (6 vị tướng nhà Minh) và Thập nhị Bà Mụ

Không gian Hậu cung chia làm các khám thờ lớn: gian giữa thờ 6 pho tượng Lục Tánh Vương Gia (Khâm, Trương, Thuấn, Chu, Hoàng và Thập Tam Vương) cùng bài vị Tiền hiền bang Phúc Kiến, gian bên thờ Bà Chúa Thai Sanh cùng 12 Bà Mụ tạc dáng nặn hình hài và chăm sóc trẻ nhỏ.

Kho tàng 13 Tấm bia đá chữ Hán, Đại hồng chung, Trống đồng và Kiệu rước cổ

Hội quán lưu giữ nguyên vẹn 13 tấm bia đá khắc chữ Hán ghi lịch sử trùng tu và quy chế hội quán từ năm 1757, 1792, 1841, 1888 đến thế kỷ 20, cùng quả chuông đồng lớn đúc thời Càn Long / Đạo Quang, lư hương đồng, bộ bát bửu và chiếc kiệu gỗ chạm lộng thếp vàng dùng rước Thiên Hậu.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền dựa trên địa hình sông Hoài - Thu Bồn và cấu trúc trục không gian của công trình tại phố cổ Hội An, không phải điều chép trong văn bia của hội quán. Thư viện nói rõ để quý vị phân biệt giữa sử liệu và kiến giải phong thủy.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ địa hình Đô thị cổ Hội An tại tọa độ khoảng vĩ bắc 15,87814 độ và kinh đông 108,33099 độ, Hội quán Phúc Kiến (Kim Sơn Tự) chiếm giữ một long huyệt đắc địa ngay tại trung tâm trục phố cổ Trần Phú. Toàn bộ khu đất phát triển theo trục tọa Bắc (hơi lệch Đông Bắc) hướng Nam (hơi lệch Tây Nam), lưng tựa vào dải gò đất cao nội thị ở phía bắc làm hậu chẩm vững chãi, còn mặt tiền mở thẳng ra trục đường Trần Phú và hướng xuống bến cảng sông Thu Bồn (sông Hoài) chảy từ tây sang đông ra biển Cửa Đại ở phía nam làm đại minh đường tụ thủy. Trong phong thủy hình thế cổ truyền, thế đất tọa Bắc hướng Nam, bối sơn diện thủy bên bờ tả ngạn sông lớn nơi dòng nước uốn cong ôm lấy phố thị (thủy nhiễu thanh long) chính là thế đất đại phú đại quý giúp thương cảng Hội An và bang thương nhân Phúc Kiến nắm giữ mạch tài lộc hàng hải suốt nhiều thế kỷ.

Điểm tinh diệu hơn nữa nằm ở cấu trúc dẫn khí theo mặt bằng chữ Tam (三) bên trong khuôn viên dài hơn một trăm mét của hội quán. Trong Kinh Dịch, ba nét ngang liền nhau của chữ Tam (三) chính là hình tượng của quẻ Thuần Càn (乾, tượng Trời, biểu trưng cho sức mạnh dương cương kiên kiện bất khuất). Khi đặt ba dãy kiến trúc ngang (Tiền điện, Chính điện, Hậu điện) xen kẽ với ba khoảng sân mở (sân vườn trước có bể nước cá chép hóa rồng, sân Thiên tỉnh giữa và sân Thiên tỉnh sau), các kiến trúc sư cổ truyền người Phúc Kiến đã tạo ra thế Thiên - Địa - Thủy giao hòa (Tam tài tương thông): luồng sinh khí và gió mát từ sông Thu Bồn ở hướng Nam khi đi qua cổng Tam quan 7 tầng mái sẽ được bể nước Lý ngư hóa long ở sân ngoài làm dịu mát và tụ lại lần thứ nhất, sau đó tiếp tục đi qua Tiền điện vào sân Thiên tỉnh thứ hai để nạp ánh dương quang chiếu thẳng vào Chính điện thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, rồi lại lan tỏa qua sân Thiên tỉnh thứ ba để tụ vào Hậu điện thờ Lục Tánh Vương Gia và Thập nhị Bà Mụ. Nhờ ba nhịp tụ rồi thông, thông rồi lại tụ ấy, trường khí trong Hội quán Phúc Kiến không bao giờ bị bức bí hay tản mát, giữ cho chốn tổ đình của người Phúc Kiến tại Hội An luôn vượng khí, linh thiêng và trường tồn.

VTết Nguyên Tiêu, Lễ Vía Lục Tánh Vương Gia (16/2 Âm Lịch) Và Đại Lễ Vía Thiên Hậu Thánh Mẫu (23/3 Âm Lịch)

Suốt hơn hai thế kỷ rưỡi qua, Hội quán Phúc Kiến (Kim Sơn Tự) luôn là một trong những tâm điểm lễ hội rực rỡ và trang nghiêm nhất của Đô thị cổ Hội An, nơi cộng đồng người Hoa bang Phúc Kiến và cư dân phố hội cùng nhau cử hành bốn kỳ đại lễ lớn theo lịch âm hằng năm.

Các kỳ đại lễ truyền thống hằng năm tại Di tích quốc gia Hội quán Phúc Kiến (Kim Sơn Tự, phường Hội An, thành phố Đà Nẵng). Nguồn: Tổng hợp từ Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An (hoianheritage.net) và Cổng thông tin Di sản thế giới Hội An..
Thời gian âm lịchTên kỳ lễ và sự kiệnNghi thức cổ truyền và sinh hoạt văn hóa đặc sắc
Rằm tháng Giêng (15 tháng 1 âm lịch)Tết Nguyên tiêu Hội An (Thượng nguyên cầu an - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia)Đêm hội đèn lồng rực rỡ nhất đầu năm tại Hội quán Phúc Kiến: cử hành đại lễ tế thần linh cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mở cửa đón hàng vạn người dân và du khách tới dâng hương, xin lộc đầu xuân và thưởng thức âm nhạc cổ truyền.
Ngày 16 tháng Hai âm lịchĐại lễ vía Lục Tánh Vương GiaKỳ lễ đặc trưng riêng có của Hội quán Phúc Kiến tại Hội An nhằm tưởng niệm khí tiết trung nghĩa của 6 vị tướng nhà Minh (Lục Tánh Vương Gia) và tri ân các bậc Tiền hiền có công khai sáng bang hội, tổ chức lễ tế Tam hiến trang trọng tại Hậu điện và sum họp đồng hương.
Ngày 20 tháng Ba âm lịchLễ vía Bà Chúa Thai Sanh (Chú Sinh Nương Nương) và Thập nhị Bà MụĐông đảo các gia đình tại Hội An và Đà Nẵng mang hoa tươi, phẩm vật tới Hậu điện để tạ ơn Bà Chúa Thai Sanh cùng 12 Bà Mụ đã che chở cho con cháu mạnh khỏe, hoặc cầu xin đường con cái.
Ngày 23 tháng Ba âm lịchĐại lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu (Thiên Hậu Thánh Đản)Lễ hội lớn nhất trong năm tôn vinh ngày đản sinh của Đức Thiên Hậu Thánh Mẫu: nghi thức tế lễ cổ truyền uy nghiêm trước Chính điện, dâng heo quay, bánh trái, múa lân sư rồng và cầu nguyện cho ngư dân, thương nhân một năm vượt biển bình an.

Vào những buổi chiều êm ả trên phố cổ Hội An, khi bước qua cổng Tam quan khảm sứ rực rỡ của Hội quán Phúc Kiến để đứng dưới những vòng nhang lớn treo lơ lửng giữa Chính điện, ngắm nhìn đôi mắt sắc sảo trên mũi chiếc thuyền buôn gỗ cổ bên cạnh ban thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, quý vị sẽ cảm nhận rõ rệt hơi thở của một thương cảng quốc tế lừng lẫy thuở nào vẫn đang đập nhịp sống động giữa lòng thành phố Đà Nẵng hôm nay.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 46 đường Trần Phú, phường Hội An (trước tháng 7/2025 là phường Minh An, thành phố Hội An cũ, tỉnh Quảng Nam cũ), thành phố Đà Nẵng
Đường tới
Từ trung tâm hành chính thành phố Đà Nẵng đi về phía nam theo trục đường ven biển Võ Nguyên Giáp - Trường Sa - Lạc Long Quân khoảng 28 km tới khu phố cổ thuộc phường Hội An (thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam cũ), quý vị đi bộ dọc theo phố Trần Phú tới số nhà 46 (gần chợ Hội An và Chùa Ông) là tới Hội quán Phúc Kiến.
Toạ độ
15.87814, 108.33099
Khi tới nơi

Khi tới tham quan và chiêm bái Hội quán Phúc Kiến (Kim Sơn Tự) tại số 46 đường Trần Phú, xin quý vị mặc trang phục lịch sự, kín đáo (không mặc quần váy quá ngắn hoặc áo hở vai khi bước vào khu vực Chính điện và Hậu điện). Quý vị vui lòng đi nhẹ, nói khẽ, không chạm tay vào mô hình thuyền buôn cổ, các pho tượng Thiên Lý Nhãn, Thuận Phong Nhĩ, tượng 12 Bà Mụ và các tấm bia đá chữ Hán. Khi thắp nhang hoặc treo thẻ cầu nguyện dưới các vòng nhang lớn, xin quý vị thực hiện đúng nơi quy định của Ban quản lý di tích.

Những nơi gần đây trong thư viện

Chùa Ông Hội An (Quan Công Miếu)Đà Nẵng · Ngôi miếu Quan Đế cổ kính và bề thế bậc nhất thương cảng Hội An do người Việt và thương nhân Minh Hương cùng sáng lập năm Quý Tỵ (1653) dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, nổi tiếng với kiến trúc chữ Khẩu lợp ngói ống thanh lưu ly, bộ tượng Quan Thánh Đế Quân cùng Quan Bình, Châu Xương uy nghiêm và di sản văn bia thơ văn thế kỷ 18 của dòng họ Nguyễn Tiên Điền.Hội quán Quảng Triệu (Chùa Ông Quảng Đông)Đà Nẵng · Hội quán cổ kính của thương nhân người Hoa hai phủ Quảng Châu và Triệu Khánh (tỉnh Quảng Đông) tại phố cổ Hội An, khởi dựng năm Ất Dậu niên hiệu Quang Tự thứ 11 (1885) từ các cấu kiện đá hoa cương và gỗ chạm chế tác tại Quảng Đông chở thuyền sang lắp dựng, phụng thờ Quan Thánh Đế Quân và Tiền hiền, nổi tiếng với bích họa Tam cố thảo lư và đài phun nước Rồng quấn cột (Cá chép hóa rồng) bằng gốm sứ.Chùa Cầu Hội An (Lai Viễn Kiều)Đà Nẵng · Biểu tượng kiến trúc tâm linh thượng gia hạ kiều độc nhất vô nhị của Đô thị cổ Hội An do các thương nhân Nhật Bản khởi dựng đầu thế kỷ 17 bắc qua lạch nước chảy ra sông Thu Bồn, gắn liền với ngôi miếu gỗ thờ Bắc Đế Trấn Võ trấn yểm thủy quái, bức hoành phi Lai Viễn Kiều do chúa Nguyễn Phúc Chu ban năm 1719 và cặp tượng Linh Hầu cùng Linh Khuyển canh giữ hai đầu cầu.

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Hội quán Phúc Kiến (Kim Sơn Tự)

Contribute photos, information or video for Phúc Kiến Assembly Hall, Hội An (Kim Sơn Tự)

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Vì sao trên cổng Tam quan của Hội quán Phúc Kiến ở Hội An lại khắc ba chữ Kim Sơn Tự?

Vào cuối thế kỷ 17 (năm Đinh Sửu 1697), trên mảnh đất này người dân địa phương đã dựng một ngôi thảo am nhỏ lợp tranh thờ Phật mang tên là Kim Sơn Tự (Chùa Núi Vàng). Đến năm Đinh Sửu niên hiệu Càn Long thứ 22 (1757), do thảo am bị hư hại mà dân làng không đủ sức đại tu nên đã bán lại cho các thương nhân người Hoa bang Phúc Kiến để xây dựng thành Hội quán Phúc Kiến. Để tôn trọng lịch sử ngôi chùa cũ và tri ân tiền nhân, người Phúc Kiến vẫn giữ nguyên bức hoành Kim Sơn Tự ở mặt ngoài cổng Tam quan và vẫn thờ tượng Quan Thế Âm Bồ Tát trong điện.

Hội quán Phúc Kiến Hội An thờ những vị thần nào tại Chính điện và Hậu điện?

Tại Chính điện, hội quán phụng thờ chính là Thiên Hậu Thánh Mẫu (vị nữ thần bảo hộ ngư dân và thương nhân đi biển, có hai tướng Thiên Lý Nhãn và Thuận Phong Nhĩ đứng hầu trước điện), phối thờ Quan Thế Âm Bồ Tát và Thần Tài. Tại Hậu điện (Hậu cung), gian giữa phụng thờ Lục Tánh Vương Gia (6 vị tướng trung nghĩa thời nhà Minh) cùng bài vị các bậc Tiền hiền bang Phúc Kiến, còn gian bên thờ Bà Chúa Thai Sanh (Chú Sinh Nương Nương) và Thập nhị Bà Mụ (12 Bà Mụ).

Lục Tánh Vương Gia được thờ ở Hậu điện Hội quán Phúc Kiến là những ai?

Lục Tánh Vương Gia là sáu vị vương gia và tướng lĩnh mang sáu họ khác nhau cuối thời nhà Minh gồm: Khâm Vương, Trương Vương, Thuấn Vương, Chu Vương, Hoàng Vương và Thập Tam Vương. Khi nhà Minh suy vong trước cuộc tiến quân của nhà Thanh vào thế kỷ 17, sáu vị này đã chiến đấu bất khuất đến cùng để giữ trọn lòng trung nghĩa. Cộng đồng người Hoa Phúc Kiến di cư sang Hội An đã lập khám thờ sáu vị tại Hậu điện để tôn vinh khí tiết trung liệt và cầu xin sự hộ trì cho bang hội, tổ chức lễ vía vào ngày 16 tháng 2 âm lịch hằng năm.

Cổng Tam quan khảm sành sứ và mô hình thuyền buôn cổ trong Hội quán Phúc Kiến có niên đại và ý nghĩa gì?

Cổng Tam quan đồ sộ với 7 tầng mái uốn cong khảm ghép hàng vạn mảnh sành sứ men màu hình Lưỡng long tranh châu và Tứ linh được xây dựng hoàn chỉnh trong đợt đại trùng tu giai đoạn 1970 - 1975. Còn bên trong Chính điện có lưu giữ mô hình chiếc thuyền buôn cổ bằng gỗ dài hơn 2 mét (chế tác năm 1968 theo nguyên mẫu thương thuyền Phúc Kiến thế kỷ 17 - 18) với đôi mắt thuyền sắc sảo, biểu trưng cho lịch sử giao thương hàng hải trên biển Đông và ước vọng thuận buồm xuôi gió dưới sự che chở của Thiên Hậu Thánh Mẫu.

Hội quán Phúc Kiến được xếp hạng di tích quốc gia vào năm nào và hiện nay thuộc đơn vị hành chính nào?

Hội quán Phúc Kiến được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào ngày 17 tháng 2 năm 1990, và nằm trong quần thể Đô thị cổ Hội An được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới tháng 12 năm 1999. Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 và Nghị quyết số 1659/NQ-UBTVQH15 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, di tích tại số 46 đường Trần Phú thuộc phường Hội An mới (hợp nhất từ phường Minh An và các phường xã lân cận của thành phố Hội An cũ, tỉnh Quảng Nam cũ), thành phố Đà Nẵng.

›Đọc Tiếp