VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Cầu Hội An (Lai Viễn Kiều)

Lai Viễn Kiều, Cầu Nhật Bản, Chùa Cầu, 來遠橋

Biểu tượng kiến trúc tâm linh thượng gia hạ kiều độc nhất vô nhị của Đô thị cổ Hội An, nơi nhịp cầu gỗ của thương nhân Nhật Bản đầu thế kỷ 17 kết liền với ngôi miếu thờ Bắc Đế Trấn Võ và bức hoành phi Lai Viễn Kiều do chúa Nguyễn Phúc Chu ban năm 1719.

Khởi dựng
Đầu thế kỷ 17
thương nhân Nhật Bản dựng cầu, năm Kỷ Mão (1719) chúa Nguyễn Phúc Chu ban tên Lai Viễn Kiều
Kiến trúc
Dài 18 m, 7 gian
kiểu thượng gia hạ kiều, miếu thờ Bắc Đế Trấn Võ, hai đầu cầu thờ Linh Hầu và Linh Khuyển
Xếp hạng
Di tích quốc gia
xếp hạng ngày 17/2/1990, thuộc Di sản văn hóa thế giới Đô thị cổ Hội An (UNESCO 1999)

Đi dọc theo con phố cổ Trần Phú rêu phong của thương cảng Hội An xưa, khi bước tới điểm giao nối sang đường Nguyễn Thị Minh Khai thuộc phường Hội An (thành phố Đà Nẵng), quý vị sẽ đứng trước một công trình kiến trúc vừa là nhịp cầu giao thông, vừa là một ngôi miếu linh thiêng soi bóng xuống dòng lạch nhỏ chảy ra sông Thu Bồn. Đó chính là Chùa Cầu Hội An, còn được biết đến với tên chữ Hán Lai Viễn Kiều (來遠橋) hay Cầu Nhật Bản, viên ngọc quý ở vị trí trung tâm của Di sản văn hóa thế giới Đô thị cổ Hội An.

Điều làm nên sức hấp dẫn kỳ lạ của Chùa Cầu là mặc dù mang tên gọi dân gian là Chùa, bên trong công trình hoàn toàn không thờ Phật mà phụng thờ Bắc Đế Trấn Võ (Huyền Thiên Thượng Đế), vị thần tối cao trấn phương Bắc và trị thủy trong hệ thống thần điện Đạo giáo. Sự giao hòa tinh tế giữa kỹ thuật dựng cầu của thương nhân Nhật Bản đầu thế kỷ 17, tín ngưỡng thờ thần trị thủy của cư dân Minh Hương và tấm lòng hiếu khách của các chúa Nguyễn Đàng Trong đã kết tinh thành một kiệt tác kiến trúc tâm linh sống động suốt hơn bốn thế kỷ qua.

Chùa Cầu Hội An (Lai Viễn Kiều)
Chùa Cầu Hội An (Lai Viễn Kiều). Ảnh: Chainwit., giấy phép CC BY 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IBắc Đế Trấn Võ, Huyền Tích Trấn Yểm Thủy Quái Namazu Và Cặp Linh Thú Thân - Tuất

Xét về bản chất tín ngưỡng tôn giáo, phần miếu thờ gắn liền ở phía bắc nhịp cầu của Chùa Cầu Hội An thuộc truyền thống Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian Đông Á. Chính giữa gian thờ trung tâm tôn trí pho tượng gỗ Bắc Đế Trấn Võ (北帝鎮武), tức Huyền Thiên Thượng Đế hay Chân Vũ Đại Đế (cùng một vị thần với pho tượng đồng đen tại Đền Quán Thánh ở Hà Nội). Trong thần điện Đạo giáo, Bắc Đế Trấn Võ là vị thần cai quản phương Bắc, thuộc hành Thủy, có thần lực hàng phục yêu ma, điều khiển mưa gió và chế ngự nạn lũ lụt, thủy tai.

Đối với một đô thị thương cảng nằm ngay cửa sông Thu Bồn thường xuyên phải đối mặt với bão lũ miền Trung và hiểm họa sóng gió trên hải trình quốc tế như Hội An thế kỷ 17 - 18, Bắc Đế Trấn Võ chính là vị thần bảo hộ thiết thân nhất của cả thương nhân Nhật Bản, thương nhân Hoa kiều (Minh Hương) lẫn cư dân Đại Việt. Người dân Hội An tìm đến miếu Bắc Đế trên cầu không chỉ để cầu cho những chuyến thương thuyền vượt biển bình an, mà còn để cầu cho dòng nước sông Thu Bồn hiền hòa, đem lại nguồn mạch tài lộc và hạnh phúc cho toàn phố hội.

Theo giáo nghĩa

Gắn liền với việc lập miếu thờ Bắc Đế Trấn Võ ngay trên lưng chiếc cầu bắc qua khe nước chảy ra sông Thu Bồn là truyền thuyết phong thủy trấn yểm thủy quái xuyên quốc gia vô cùng độc đáo. Theo tâm thức dân gian Nhật Bản (thần thoại về con cá trê khổng lồ Namazu nằm dưới lòng đất quẫy đuôi gây ra động đất) kết hợp với truyền thuyết của người Việt và người Hoa về con Cù (hoặc con Câu Long), xưa kia có một con thủy quái khổng lồ nằm vắt mình xuyên qua lòng đất và đáy biển: đầu của nó nằm ở Ấn Độ (hoặc Nhật Bản), đuôi nằm ở Nhật Bản, còn phần lưng của nó lại vắt ngang qua đúng khe nước tại thương cảng Hội An. Mỗi khi con quái vật này cựa mình quẫy đạp thì ở Nhật Bản xảy ra động đất dữ dội, còn ở Hội An thì sông Thu Bồn dâng lũ ngập lụt, làm đắm thuyền bè và bất ổn việc giao thương.

Bởi vậy, các thương nhân Nhật Bản và cư dân Hội An đã dựng chiếc cầu có mái che bắc ngang qua lạch nước với ý nghĩa như một thanh kiếm báu (hoặc chiếc yên cương) cắm xuống khóa chặt sống lưng con thủy quái, đồng thời lập ngôi miếu thờ Bắc Đế Trấn Võ (vị thần chân đạp Rùa Rắn, tay chống kiếm Thất Tinh) ngay trên lưng cầu để dùng thần uy Đạo giáo trấn áp vĩnh viễn loài thủy quái, giữ cho cả hai vùng đất đều được bình yên vô sự.

Theo sử liệu

Tại hai đầu Chùa Cầu (đầu phía đông giáp đường Trần Phú và đầu phía tây giáp đường Nguyễn Thị Minh Khai), ngay trên bệ gỗ hai bên lối đi có đặt hai cặp tượng linh thú bằng gỗ chạm khắc rất sống động trong tư thế ngồi chầu: một đầu cầu thờ đôi Linh Hầu (Thần Khỉ) và đầu cầu kia thờ đôi Linh Khuyển (Thần Chó), trước mặt đều có bát hương thờ tự riêng. Giới nghiên cứu lịch sử và văn hóa Hội An ghi nhận hai lớp giải mã bổ sung cho nhau về cặp linh thú này. Thứ nhất, theo niên biểu kiến trúc: Khỉ ứng với chi Thân, Chó ứng với chi Tuất trong mười hai địa chi, biểu thị công trình Chùa Cầu được khởi công xây dựng vào năm Thân và hoàn thành vào năm Tuất (kéo dài qua ba năm Thân - Dậu - Tuất đầu thế kỷ 17). Thứ hai, theo tín ngưỡng dân gian Nhật Bản: Khỉ (Saru) và Chó (Inu) vốn là hai linh vật hộ vệ quen thuộc trong các đền thần đạo và dân gian Nhật Bản để xua đuổi tà khí, bảo vệ khách bộ hành qua cầu và canh giữ hai đầu huyệt đạo trấn thủy.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều du khách khi nhìn thấy chữ Chùa Cầu thường đinh ninh đây là một ngôi chùa Phật giáo hoặc nghĩ rằng ngôi miếu và cây cầu được xây dựng cùng một lúc ngay từ đầu. Thực tế khảo cứu văn bia (đặc biệt là tấm bia Lai Viễn Kiều bi ký năm 1817) và cấu trúc mộng gỗ cho thấy: cây cầu có mái che được các thương nhân Nhật Bản dựng trước vào đầu thế kỷ 17 để nối khu phố Nhật Bản với khu phố người Hoa bên kia lạch nước, còn phần miếu thờ Bắc Đế Trấn Võ ở phía bắc cầu được dựng nối thêm vào khoảng giữa thế kỷ 17 (khoảng năm 1653) rồi kết hợp thành một chỉnh thể kiến trúc chữ Đinh hoàn chỉnh. Trong tiếng Việt vùng Đàng Trong, người dân xưa thường gọi chung các nơi thờ tự linh thiêng của người Hoa, người Nhật (như miếu Quan Công, miếu Bắc Đế, hội quán) bằng chữ Chùa (như Chùa Ông, Chùa Bà, Chùa Cầu), dù đối tượng thờ tự bên trong thuộc hệ thống Đạo giáo.

IIHơn Bốn Thế Kỷ Từ Nhịp Cầu Thương Cảng Đến Đại Trùng Tu 2022 - 2024

Lịch sử hơn bốn trăm năm của Chùa Cầu Hội An là tấm gương phản chiếu trọn vẹn thời kỳ hoàng kim của thương cảng quốc tế Hội An (Faifo) dưới thời các chúa Nguyễn Đàng Trong, cũng như ý thức gìn giữ di sản bền bỉ của bao thế hệ cư dân phố cổ qua bảy lần đại trùng tu lớn.

Theo sử liệu

Theo các nguồn sử liệu quốc tế và văn khắc tại Hội An, vào cuối thế kỷ 16 - đầu thế kỷ 17, khi Mạc phủ Tokugawa cấp Châu Ấn thuyền (Shuinsen) cho các thương nhân Nhật Bản vượt biển buôn bán với Đông Nam Á, Hội An đã trở thành một trong những thương cảng sầm uất nhất có khu phố Nhật Bản (Nihonmachi) quy mô lớn. Để thuận tiện đi lại giao thương qua con lạch chảy ra sông Thu Bồn, các thương nhân Nhật Bản đã góp công sức dựng nên cây cầu gỗ có mái che vào khoảng những năm đầu thế kỷ 17 (nhiều học giả đối chiếu các năm Thân - Tuất trong giai đoạn này như 1593 - 1595 hoặc đầu thập niên 1610). Sau khi Mạc phủ Nhật Bản ban hành lệnh Tỏa quốc (Sakoku) vào thập niên 1630 khiến người Nhật rút dần về nước, cộng đồng người Minh Hương và người Việt tại Hội An đã tiếp quản, dựng thêm gian miếu thờ Bắc Đế Trấn Võ và chăm lo việc tu bổ cây cầu.

Mốc son lịch sử rực rỡ nhất diễn ra vào mùa xuân năm Kỷ Mão (1719), khi Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu (Minh Vương, trị vì 1691 - 1725) trong chuyến tuần thú dinh Quảng Nam và thương cảng Hội An đã ngự giá qua chiếc cầu này. Cảm kích trước cảnh sắc giao hòa và tình hữu hảo đón khách bốn phương của thương cảng, chúa Nguyễn Phúc Chu đã ban cho cây cầu tên chữ là Lai Viễn Kiều (來遠橋, lấy ý từ câu luận ngữ của Khổng Tử Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ, nghĩa là Cầu đón người bạn từ phương xa tới). Ba chữ vàng Lai Viễn Kiều được khắc vào bức hoành phi sơn son thếp vàng năm Kỷ Mão (1719) hiện vẫn treo trang trọng ngay trước gian miếu chính. Căn cứ theo văn khắc trên xà cồ và văn bia, Chùa Cầu đã trải qua các đợt đại trùng tu vào các năm 1763 (Quý Mùi, đời chúa Nguyễn Phúc Khoát, do xã Minh Hương đứng đầu là Trương Hoằng Cơ chủ trì), 1817 (Đinh Sửu, đời vua Gia Long, khắc bia Lai Viễn Kiều bi ký), 1875 (Ất Hợi, đời vua Tự Đức), 1915 (Ất Mão, đời vua Duy Tân, một số tư liệu ghi hoàn tất năm 1917), 1986 và gần đây nhất là đợt đại trùng tu hạ giải toàn bộ từ ngày 28/12/2022 đến ngày 03/08/2024.

  • Đầu thế kỷ 17Thương nhân Nhật Bản khởi dựng cầu qua lạch nước
    Trong thời kỳ thương thuyền Châu Ấn thuyền hưng thịnh tại Hội An, các thương nhân Nhật Bản dựng cây cầu gỗ có mái che bắc qua lạch nước nối khu phố Nhật với khu phố người Hoa, khởi công năm Thân và hoàn thành năm Tuất.
  • Khoảng 1653Dựng miếu thờ Bắc Đế Trấn Võ gắn liền vào thân cầu
    Cư dân Minh Hương và người Việt dựng thêm ngôi miếu gỗ ở phía bắc cầu để thờ Bắc Đế Trấn Võ (Huyền Thiên Thượng Đế) trấn yểm thủy quái và cầu bình an, tạo thành chỉnh thể Chùa Cầu.
  • 1719Chúa Nguyễn Phúc Chu tuần thú và ban danh hiệu Lai Viễn Kiều
    Năm Kỷ Mão (1719), chúa Nguyễn Phúc Chu tới thăm Hội An, ban tặng 3 chữ Hán 'Lai Viễn Kiều' (Cầu đón khách phương xa), được chạm nổi trên bức hoành phi sơn son thếp vàng treo tại gian giữa.
  • 1763 và 1817Hai đợt đại trùng tu lớn thời chúa Nguyễn và vua Gia Long
    Năm Quý Mùi (1763), xã Minh Hương do Trương Hoằng Cơ đứng đầu đại trùng tu cầu và khắc chữ trên xà cồ. Năm Đinh Sửu (1817) đời Gia Long thứ 16, cầu tiếp tục được trùng tu lớn và dựng bia đá Lai Viễn Kiều bi ký.
  • 1875, 1915 và 1986Các đợt trùng tu bảo tồn qua thế kỷ 19 và thế kỷ 20
    Di tích tiếp tục được trùng tu vào các năm Ất Hợi (1875) đời Tự Đức, năm Ất Mão (1915 - 1917) đời Duy Tân và đợt trùng tu gia cố quy mô lớn năm 1986.
  • 1990 và 1999Di tích quốc gia (1990) và Di sản văn hóa thế giới UNESCO (1999)
    Ngày 17/2/1990, Chùa Cầu được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Tháng 12/1999, Đô thị cổ Hội An với biểu tượng Chùa Cầu được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa thế giới (và năm 2006 hình ảnh Chùa Cầu được in trên tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng của Việt Nam).
  • 2022 - 2024Đại trùng tu hạ giải toàn bộ và khánh thành diện mạo bảo tồn chuẩn xác
    Khởi công ngày 28/12/2022 và khánh thành ngày 3/8/2024 với sự tham vấn của chuyên gia Việt Nam và Nhật Bản, dự án đã gia cố mố trụ, phục hồi hệ sàn cầu cong dầm vòm và bảo tồn tối đa các cấu kiện gỗ cổ nguyên gốc.

IIIKiệt Tác Thượng Gia Hạ Kiều Dài 18 Mét, Mặt Bằng Chữ Đinh Và Kỹ Thuật Mộng Gỗ Cổ Truyền

Về mặt loại hình kiến trúc, Chùa Cầu Hội An (Lai Viễn Kiều) là đại diện tiêu biểu và hoàn mỹ nhất của kiểu thức thượng gia hạ kiều (上家下橋, nghĩa là trên là nhà, dưới là cầu) tại Việt Nam. Công trình có tổng chiều dài khoảng 18 mét, chiều rộng khoảng 3 mét, bắc vắt ngang qua con lạch đào dẫn nước vào sông Thu Bồn, toàn bộ đặt trên hệ thống mố và trụ cầu xây bằng đá thanh và gạch vồ vững chãi. Nhìn trên mặt bằng tổng thể, phần cầu có mái che gồm 7 gian chạy theo trục đông - tây, còn phần miếu thờ Bắc Đế Trấn Võ được dựng áp sát vào mạn phía bắc tại đúng vị trí gian chính giữa (nhô ra phía trên mặt nước khoảng 2,5 mét), tạo cho công trình một mặt bằng tổng thể hình chữ Đinh (丁) độc đáo.

Điểm tinh tế trong thiết kế không gian của Chùa Cầu là mặc dù phần cầu và phần miếu kết nối liền mái với nhau, giữa lòng cầu và gian miếu vẫn được ngăn cách bằng một bộ cửa gỗ thấp và vách gỗ lửng, giúp tách biệt dòng người qua lại nhộn nhịp trên cầu với không gian thờ tự trang nghiêm, tĩnh lặng ở bên trong. Phần lòng cầu ở giữa dùng để đi bộ có mặt sàn ván gỗ uốn cong nhẹ hình vòm cầu vồng, còn hai bên hành lang cầu được nâng cao thành hai dãy bệ gỗ chạy dọc suốt 7 gian (xưa kia vừa là nơi khách qua đường ngồi nghỉ chân hóng mát, vừa là nơi bày hàng hóa giao thương nhỏ). Trên hệ mái lợp ngói âm dương của cả phần cầu và phần miếu, các nghệ nhân Hội An đã trang trí các đường bờ nóc, bờ chảy uốn lượn mềm mại gắn ghép từ những mảnh gốm sứ men màu tinh xảo của làng gốm Thanh Hà và gốm cổ Đông Á.

Kết cấu Thượng gia hạ kiều 7 gian và hệ sàn cầu vòm cong

Thân cầu dài khoảng 18 m, rộng 3 m chia làm 7 gian gỗ đặt trên trụ đá thanh. Sau đợt đại trùng tu 2022 - 2024, hệ dầm và mặt sàn gỗ cong hình vòm truyền thống đã được phục hồi chuẩn xác theo tư liệu lịch sử và dấu tích khảo cổ trên mố cầu.

Miếu thờ Bắc Đế Trấn Võ và bức hoành phi Lai Viễn Kiều (1719)

Gian miếu nằm ở phía bắc gian giữa của cầu, bên trong đặt khám thờ pho tượng gỗ Bắc Đế Trấn Võ uy nghiêm cùng các thần hầu. Phía trước gian giữa treo bức hoành phi sơn son thếp vàng chạm nổi 3 chữ Hán 'Lai Viễn Kiều' do chúa Nguyễn Phúc Chu ban năm Kỷ Mão (1719).

Hai cặp tượng gỗ Linh Hầu (Thân) và Linh Khuyển (Tuất)

Đặt đối xứng trong các khám thờ nhỏ tại hai đầu cầu đông và tây: đầu cầu phía tây đặt đôi tượng Khỉ (Linh Hầu), đầu cầu phía đông đặt đôi tượng Chó (Linh Khuyển) tạc bằng gỗ mít trong tư thế ngồi chầu linh thiêng, vừa ghi dấu năm khởi công (năm Thân) - hoàn thành (năm Tuất), vừa canh giữ hai đầu mạch cầu.

Văn bia Lai Viễn Kiều bi ký (1817) và minh văn trên xà cồ (1763)

Kho tàng tư liệu Hán Nôm nguyên gốc ngay trên cấu kiện kiến trúc: dòng chữ Hán khắc trên xà cồ ghi việc đại trùng tu năm Quý Mùi (1763) và tấm bia đá khắc bài ký năm Gia Long thứ 16 (1817) kể rõ lịch sử dựng cầu và các bậc tiền nhân góp công.

Hệ vì kèo gỗ chồng rường giả thủ, mắt cửa và đĩa gốm sứ cổ

Bộ khung gỗ lim và gỗ kiền kiền kết nối bằng mộng truyền thống theo lối chồng rường giả thủ kết hợp giá chiêng, trên trính và cửa gỗ gắn cặp 'mắt cửa' hình bát quái hay hoa cúc xoáy đặc trưng của phố cổ Hội An, mái lợp ngói âm dương gắn đĩa sứ cổ.

Theo sử liệu

Đợt đại trùng tu hạ giải toàn bộ Chùa Cầu giai đoạn 2022 - 2024 (khánh thành ngày 3 tháng 8 năm 2024) đã mang lại những phát hiện khoa học vô giá về kỹ thuật kiến trúc cổ. Khi hạ giải từng cấu kiện, các chuyên gia bảo tồn của Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An cùng các chuyên gia Nhật Bản đã giữ lại được gần 60 phần trăm khối lượng gỗ nguyên gốc, đồng thời xác minh chính xác cấu trúc dầm cầu cong (sàn cầu vòm cong) nguyên thủy vốn từng bị sửa thành mặt cầu phẳng trong một số lần sửa chữa tạm thời ở thế kỷ 20. Việc trả lại độ cong vòm thanh thoát của hệ dầm sàn gỗ không chỉ đúng với hồ sơ ảnh tư liệu đầu thế kỷ 20 và bản vẽ cổ, mà còn giúp phân tán lực nén xuống hai mố đá hai bên bờ lạch theo đúng nguyên lý cơ học cầu vòm truyền thống Đông Á.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền dựa trên địa hình thủy đạo của Đô thị cổ Hội An và sông Thu Bồn, kết hợp với tư tưởng trấn yểm truyền thống của công trình. Thư viện nói rõ để quý vị phân biệt giữa sử liệu khảo cổ và kiến giải phong thủy.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ địa hình tại tọa độ khoảng vĩ bắc 15,87711 độ và kinh đông 108,32611 độ, Chùa Cầu Hội An (Lai Viễn Kiều) nằm tại một huyệt đạo thủy khẩu (nút giao thủy mạch) trọng yếu bậc nhất của thương cảng cổ Hội An. Toàn bộ khu phố cổ Hội An phát triển dọc theo bờ bắc (tả ngạn) của dòng sông Thu Bồn (sông Hoài) chảy theo hướng tây - đông ra biển Cửa Đại. Tại vị trí tiếp giáp giữa đường Trần Phú (khu phố người Hoa / Minh Hương xưa ở phía đông) và đường Nguyễn Thị Minh Khai (khu phố Nhật Bản xưa ở phía tây), có một con lạch nước tự nhiên từ phía bắc chảy xuyên qua lòng phố cổ để đổ thẳng ra sông Hoài - Thu Bồn ở phía nam. Trong phép phong thủy đô thị cổ truyền, khe nước cắt ngang qua trục phố chính để thoát ra sông lớn như vậy là một khe tiết khí (thủy khẩu thoát khí): nếu để dòng nước chảy tuột thẳng ra sông mà không có vật che chắn, nguyên khí và tài lộc của hai khu phố thương mại sầm uất sẽ bị dòng nước cuốn trôi và chia cắt.

Việc cổ nhân bắc Chùa Cầu (Lai Viễn Kiều) vắt ngang qua khe nước theo trục đông - tây, có mái che kín bên trên và mố trụ đá bên dưới, chính là thủ pháp tỏa thủy khẩu, tụ tài khí (khóa miệng nước, giữ mạch khí) vô cùng cao minh: chiếc cầu có mái biến thành một chiếc phong vũ đình (đình che gió giữ khí) nối liền long mạch giữa hai bờ đông - tây, làm chậm dòng chảy của nước và gió để khí lành tụ lại nuôi dưỡng thương cảng. Đặc biệt hơn nữa là phương vị tọa - hướng của ngôi miếu Bắc Đế Trấn Võ: gian miếu được dựng ở mạn phía Bắc của thân cầu (tức tọa Bắc - phương vị hành Thủy, bản cung của Bắc Đế Huyền Thiên Thượng Đế), còn cửa miếu và bức hoành phi Lai Viễn Kiều lại mở nhìn về hướng Nam (hướng ra lòng cầu và nhìn thẳng ra dòng sông Hoài - Thu Bồn làm đại minh đường). Tọa tại phương Bắc (Khảm Thủy) để nắm giữ quyền uy trị thủy và trấn giữ sống lưng thủy quái dưới khe lạch, hướng về phương Nam (Ly Hỏa) để đón ánh dương quang và tiếp nhận sinh khí giao thương từ cửa sông Thu Bồn vọng vào, cùng với cặp Linh Hầu (Thân - hành Kim ở hướng Tây) và Linh Khuyển (Tuất - hành Thổ ở hướng Đông) trấn giữ hai đầu cầu, Chùa Cầu đã tạo nên một trận đồ phong thủy Thủy - Hỏa ký tế, Kim - Thổ tương sinh hoàn hảo suốt hơn bốn trăm năm.

VCác Kỳ Lễ Tế Bắc Đế Trấn Võ Và Giao Lưu Văn Hóa Tại Chùa Cầu Hội An

Trải qua hàng thế kỷ, Chùa Cầu (Lai Viễn Kiều) không phải là một phế tích tĩnh lặng mà là một không gian tâm linh sống động, nơi người dân phố cổ Hội An đều đặn dâng hương cầu bình an mỗi sáng sớm và cử hành các kỳ lễ tế cổ truyền theo lịch âm hằng năm.

Các kỳ lễ tín ngưỡng truyền thống và sự kiện văn hóa tiêu biểu tại Di tích quốc gia Chùa Cầu Hội An (thành phố Đà Nẵng). Nguồn: Tổng hợp từ Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An (hoianheritage.net) và Cổng thông tin Di sản thế giới Hội An..
Thời gianTên kỳ lễ và sự kiệnNội dung nghi thức và sinh hoạt văn hóa
Ngày mùng 3 tháng Ba âm lịchLễ vía Đức Bắc Đế Trấn Võ (Huyền Thiên Thượng Đế)Kỳ lễ chính quan trọng nhất tại miếu Chùa Cầu, kỷ niệm ngày đản sinh của Đức Bắc Đế Trấn Võ. Các bô lão và nhân dân phường Hội An dâng lễ phẩm, hoa quả, hương đăng cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, chế ngự lũ lụt sông Thu Bồn.
Ngày Rằm tháng Giêng âm lịchTết Nguyên tiêu Hội An (Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia)Trong dịp Tết Nguyên tiêu rực rỡ đèn lồng khắp phố cổ, Chùa Cầu là một trong những điểm hành hương trung tâm để cư dân và thương nhân tới lễ thần Bắc Đế, cầu một năm mới buôn may bán đắt và gia đạo hưng long.
Ngày 20 tháng Bảy âm lịch và dịp đầu xuânLễ tế cầu an và lễ cúng Linh Hầu, Linh KhuyểnNghi thức cúng tế truyền thống của cư dân địa phương tại gian miếu chính và trước hai khám thờ Thần Khỉ (Linh Hầu), Thần Chó (Linh Khuyển) ở hai đầu cầu để tạ ơn các vị thần hộ vệ cầu và phố cổ.
Tháng 8 dương lịch hằng nămSự kiện Giao lưu văn hóa Hội An - Nhật BảnChùa Cầu (Lai Viễn Kiều) là tâm điểm của lễ hội giao lưu văn hóa Việt - Nhật thường niên tại Hội An, tái hiện đám cưới công nữ Ngọc Hoa và thương nhân Araki Sotaro cùng lịch sử Châu Ấn thuyền thế kỷ 17.

Khi màn đêm buông xuống trên phố cổ, ánh đèn lồng phản chiếu lung linh dưới mặt nước con lạch nhỏ nơi nhịp Lai Viễn Kiều vắt ngang, tiếng chuông nhỏ và mùi trầm hương từ gian miếu Bắc Đế Trấn Võ thoảng nhẹ trong gió sông Hoài. Bốn thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày những thương thuyền Nhật Bản cập bến và hơn ba trăm năm kể từ ngày chúa Nguyễn Phúc Chu đề tặng ba chữ Lai Viễn Kiều, nhịp cầu ấy vẫn vẹn nguyên sứ mệnh đón những người bạn từ phương xa tới trong niềm an hòa của đất trời xứ Quảng - Đà Nẵng.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đầu đường Nguyễn Thị Minh Khai và đường Trần Phú, phường Hội An (trước tháng 7/2025 là phường Minh An, thành phố Hội An cũ, tỉnh Quảng Nam cũ), thành phố Đà Nẵng
Đường tới
Từ trung tâm hành chính thành phố Đà Nẵng đi về phía nam theo trục đường ven biển Võ Nguyên Giáp - Trường Sa - Lạc Long Quân khoảng 28 km tới khu phố cổ thuộc phường Hội An (thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam cũ), quý vị đi bộ dọc theo phố Trần Phú tới điểm giao với đường Nguyễn Thị Minh Khai là tới Chùa Cầu.
Toạ độ
15.87711, 108.32611
Khi tới nơi

Khi tới tham quan và chiêm bái Chùa Cầu Hội An (Lai Viễn Kiều), xin quý vị ăn mặc lịch sự, bước đi nhẹ nhàng trên mặt sàn gỗ vòm cong vừa được đại trùng tu để bảo vệ cấu kiện di sản hơn bốn trăm năm tuổi. Khi dừng lại trước gian miếu thờ Bắc Đế Trấn Võ ở giữa cầu hoặc trước hai khám thờ Linh Hầu, Linh Khuyển ở hai đầu cầu, quý vị vui lòng giữ trật tự, không ngồi tì đè lên thành lan can gỗ cổ, không chạm tay lên bức hoành phi Lai Viễn Kiều năm 1719 và các tượng gỗ thờ tự.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Cầu Hội An (Lai Viễn Kiều)

Contribute photos, information or video for Chùa Cầu Covered Bridge, Hội An (Lai Viễn Kiều)

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Cầu Hội An thờ ai và vì sao gọi là Chùa nhưng lại không thờ Phật?

Mặc dù dân gian quen gọi là Chùa Cầu (theo thói quen của người Đàng Trong xưa gọi chung các miếu thờ linh thiêng của người Hoa, người Nhật là Chùa), bên trong gian miếu ở phía bắc cầu hoàn toàn không thờ Phật mà thờ Bắc Đế Trấn Võ (tức Huyền Thiên Thượng Đế / Chân Vũ Đại Đế trong Đạo giáo). Ngài là vị thần cai quản phương Bắc, chuyên trị thủy, trừ tà, trấn yểm thủy quái gây động đất lũ lụt và đem lại bình an cho thương cảng.

Tên gọi Lai Viễn Kiều của Chùa Cầu có ý nghĩa gì và do ai ban tặng?

Năm Kỷ Mão (1719), chúa Nguyễn Phúc Chu (Minh Vương) trong chuyến tuần thú thương cảng Hội An đã đi qua cây cầu này và ban tặng tên chữ là Lai Viễn Kiều, có nghĩa là Cầu đón người bạn từ phương xa tới (lấy ý từ câu của Khổng Tử về niềm vui đón bạn hiền phương xa). Ba chữ Hán Lai Viễn Kiều được chạm nổi trên bức hoành phi sơn son thếp vàng năm 1719 hiện vẫn treo trang trọng trước gian miếu chính.

Vì sao ở hai đầu Chùa Cầu lại đặt tượng Thần Khỉ (Linh Hầu) và Thần Chó (Linh Khuyển)?

Tại đầu cầu phía tây có đôi tượng gỗ Linh Hầu (Khỉ - địa chi Thân) và đầu cầu phía đông có đôi tượng gỗ Linh Khuyển (Chó - địa chi Tuất) ngồi chầu trong khám thờ có bát hương riêng. Theo các nhà nghiên cứu và truyền ngôn lịch sử, cặp linh thú này đánh dấu niên đại xây dựng cây cầu: khởi công vào năm Thân và hoàn thành vào năm Tuất đầu thế kỷ 17, đồng thời đóng vai trò linh vật hộ vệ canh giữ hai đầu mạch cầu.

Chùa Cầu Hội An đã trải qua những đợt đại trùng tu nào và đợt trùng tu 2022 - 2024 có gì đặc biệt?

Theo văn bia năm 1817 và minh văn trên xà cồ, Chùa Cầu đã trải qua các đợt đại trùng tu lớn vào các năm 1763, 1817, 1875, 1915 (hoàn tất 1917), 1986 và đợt đại trùng tu hạ giải toàn bộ từ tháng 12 năm 2022 đến tháng 8 năm 2024. Đợt đại trùng tu 2022 - 2024 đã bảo tồn gần 60 phần trăm cấu kiện gỗ cổ nguyên gốc, gia cố vững chắc hệ mố trụ đá và phục hồi chuẩn xác hệ dầm sàn cầu uốn cong hình vòm nguyên thủy.

Chùa Cầu Hội An được xếp hạng di tích vào năm nào và hiện nay thuộc đơn vị hành chính nào?

Chùa Cầu được Bộ Văn hóa xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào ngày 17 tháng 2 năm 1990, và là công trình biểu tượng của Đô thị cổ Hội An được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 1999. Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 và Nghị quyết số 1659/NQ-UBTVQH15 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, di tích thuộc phường Hội An mới (hợp nhất từ phường Minh An và các phường xã lân cận), thành phố Đà Nẵng.

›Đọc Tiếp