Bước qua cổng hoàng thành trắng muốt trên đường Na Phra Lan để vào góc đông bắc của Đại Hoàng Cung, quý vị chưa nghe tiếng chuông chùa ngân dài mà bắt gặp ngay ánh nắng nhiệt đới dội lấp lánh trên hàng triệu mảnh kính màu, men sứ và lá vàng ròng. Những ngọn chofah uốn cong như mỏ chim thần Garuda vươn vút từ các tầng mái ngói lưu ly cam và xanh lục, trong khi mười hai pho tượng dạ xoa (Yaksha) cao tới sáu mét mặc giáp trụ lộng lẫy, tay chống chùy lớn đứng gác nghiêm cẩn trước các cổng ra vào. Giữa sân đá cẩm thạch rộng lớn, khách thập phương lặng lẽ tháo giày trước thềm chính điện Phra Ubosot, hướng mắt lên tòa bảo khám vàng cao hơn mười một mét nơi một pho tượng Phật nhỏ màu xanh thẫm đang tọa thiền trong làn hương trầm bảng lảng.
Người Việt quen gọi nơi này là Chùa Phật Ngọc, người Thái gọi thân mật là Wat Phra Kaew, còn danh hiệu chính thức trong sử triều đình là Wat Phra Si Rattana Satsadaram. Khác với chùa Wat Pho nằm ngay phía nam hay các tự viện Wat Arun bên kia sông, Wat Phra Kaew hoàn toàn không có khu tăng xá (Sanghawasa) cho chư tăng cư trú thường nhật. Ngôi chùa được dựng theo truyền thống hộ quốc tự ngay trong hoàng thành từ thời cổ đô Sukhothai và Ayutthaya, dành riêng cho các đại lễ quốc gia và làm nơi tôn trí pho tượng Phật Ngọc Lục Bảo, bảo vật thiêng liêng bậc nhất của đất nước Thái Lan.

ITên Gọi, Tông Phái Và Pho Quốc Bảo Phật Ngọc Lục Bảo
Danh xưng chính thức Wat Phra Si Rattana Satsadaram có gốc từ tiếng Pali và tiếng Phạn, nghĩa là ngôi tịnh xá của Đức Đạo Sư Bảo Châu Cát Tường. Tên gọi dân gian Wat Phra Kaew nghĩa là Chùa Phật Ngọc, gọi theo tôn danh của pho tượng chủ Phra Kaew Morakot, hay tên lễ nghi đầy đủ là Phra Phuttha Maha Mani Rattana Patimakon. Dù chữ Morakot trong tiếng Thái và chữ Emerald trong tiếng Anh đều dịch là ngọc lục bảo, các khảo sát khoáng vật học hiện đại của Cục Mỹ thuật Thái Lan và Britannica đều xác nhận pho tượng không phải làm từ đá lục bảo (beryl) mà được tạc từ một khối ngọc bích xanh (jadeite hoặc nephrite) hay đá jasper xanh lục nguyên khối. Trong cổ ngữ Thái và Pali vùng Lanna xưa, chữ Morakot vốn dùng chung để chỉ các loại ngọc quý mang sắc xanh biếc.
Chùa thuộc hệ phái Phật Giáo Nam Tông (Theravada), dòng truyền thừa lấy Tam Tạng kinh điển Pali làm nền tảng tối cao. Trong thế giới quan Phật giáo Thái Lan và Lào, một pho tượng Phật thiêng không dừng lại ở tác phẩm nghệ thuật mà mang ân đức hộ trì cho cả vương quốc (palladium). Triều đại nào cung dưỡng và giữ gìn được pho Phật Ngọc thì triều đại ấy được hưởng thái bình, mưa thuận gió hòa và chính danh trị vì thiên hạ.
Tượng Phật Ngọc được tạc trong tư thế tọa thiền định (dhyana mudra hay samadhi), chân xếp theo lối bán già (virasana), bàn tay phải đặt nhẹ lên bàn tay trái ngửa trong lòng đùi. Đây là tư thế Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập đại định dưới cội Bồ Đề trước giờ khắc giác ngộ tối thượng. Khác với những pho tượng khổng lồ thường thấy ở các đại tự Thái Lan, pho tượng Phật Ngọc có kích thước khá khiêm tốn: theo Cục Hoàng gia Thái Lan và World History Encyclopedia, tượng cao 66 cm (tính cả phần đế ngọc) và rộng ngang hai đầu gối 48,3 cm (một số nguồn làm tròn là 48 cm). Dáng diện thanh thoát, sống mũi thẳng và nếp y sát thân của pho tượng mang đậm dấu ấn mỹ thuật miền Bắc Thái Lan thời kỳ hậu Lanna thế kỷ 15 pha trộn với ảnh hưởng từ Sri Lanka và miền Bắc Ấn Độ.
Một nghi thức độc nhất vô nhị gắn với pho tượng là Lễ thay y phục theo ba mùa (Phra Ratchaphithi Prian Khruang Song Phra Kaew Morakot). Khí hậu vùng châu thổ sông Chao Phraya chia làm ba mùa rõ rệt: mùa nóng, mùa mưa và mùa lạnh. Vua Rama I đã cho chế tác hai bộ kim y bằng vàng ròng nạm kim cương và đá quý cho mùa nóng và mùa mưa, sau đó vua Rama III chế tác thêm bộ kim y thứ ba cho mùa lạnh. Bộ mùa nóng gồm mũ miện chóp nhọn cao kiểu hoàng gia (maha mongkut), vòng cổ, dây đeo ngực và vòng tay nạm ngọc. Bộ mùa mưa là tấm y choàng lệch vai phải bằng vàng chạm nổi chấm bi như hạt mưa, đầu đội mũ chụp dát vàng khảm lam ngọc. Bộ mùa lạnh là tấm khăn choàng lưới vàng đính ngọc phủ kín hai vai. Mỗi năm ba lần vào các ngày đầu mùa âm lịch, đích thân Quốc vương Thái Lan (hoặc vị đại diện hoàng tộc được ủy quyền) bước lên bệ cao rẩy nước thiêng và thay y phục cho Đức Phật Ngọc để cầu nguyện quốc thái dân an.
Lịch sử lưu chuyển của pho tượng Phật Ngọc được ghi chép chi tiết trong biên niên sử cổ tiếng Pali Ratanabimbavamsa (Biên niên sử Tượng Ngọc, soạn thế kỷ 15 bởi tăng sĩ Brahmarajapanna) và Jinakalamali (Tràng hoa Thời đại Chiến thắng). Theo truyền thuyết trong kinh văn, pho tượng do chư thiên và vua trời Đế Thích (Indra) dùng thần thông tạo tác tại thành Pataliputra (Ấn Độ) cho bậc thánh tăng Nagasena (Na Tiên Tỳ Kheo) khoảng 500 năm sau ngày Đức Phật nhập diệt, rồi truyền qua Sri Lanka, Angkor và Ayutthaya. Tuy nhiên, dưới góc nhìn khảo cổ và sử học thực chứng, pho tượng bước vào chính sử vào năm 1434 tại thành Chiang Rai thuộc vương quốc Lanna. Năm ấy, một tia sét đánh vỡ ngọn bảo tháp cổ bằng gạch tại chùa Wat Pa Yeah (nay là Wat Phra Kaew, Chiang Rai), để lộ một pho tượng Phật phủ vữa vôi bên trong. Khi vị trụ trì cạo lớp vữa bong tróc ở chóp mũi tượng thì phát hiện chất ngọc xanh biếc nguyên khối ẩn bên dưới.
Từ Chiang Rai, năm 1436 vua Sam Fang Kaen của Lanna sai đoàn voi rước tượng về kinh đô Chiang Mai, nhưng con voi chở tượng tới ngã rẽ đi Lampang đã ba lần nhất quyết quay đầu về hướng nam, nên nhà vua cho lưu tượng tại chùa Wat Phra Kaew Don Tao ở Lampang suốt 32 năm. Năm 1468, vua Tilokaraj thỉnh tượng về tôn trí trong hốc khám phía đông đại tháp Chedi Luang tại Chiang Mai. Năm 1552, hoàng tử Setthathirath (vua Xẹt Thả Thi Lạt của vương quốc Lan Xang, người mang dòng máu hoàng tộc Lanna bên mẹ) rước tượng Phật Ngọc sang kinh đô Luang Prabang, rồi năm 1564 dời tượng về kinh đô mới Viêng Chăn (tôn trí tại chùa Haw Phra Kaew suốt 214 năm). Năm 1779, danh tướng Chao Phraya Chakri (sau này là vua Rama I) thống lĩnh quân đội Thonburi tiến vào Viêng Chăn và cung thỉnh pho tượng Phật Ngọc về kinh đô Thonburi, đặt tạm bên cạnh chùa Wat Arun trước khi rước sang ngôi chùa mới bên bờ đông sông Chao Phraya vào năm 1784.
Có hai điều du khách phương xa thường hiểu chưa chuẩn khi viếng thăm nơi đây. Thứ nhất, nhiều người nhìn từ dưới sàn chính điện lên tòa khám vàng cao 11 mét và ngỡ pho tượng Phật Ngọc phải cao lớn như tượng đồng trượng sáu, nên khi nhìn thấy tôn tượng cao 66 cm trên đỉnh khám lại ngạc nhiên. Trong truyền thống hoàng gia Xiêm La, sự linh thiêng của bảo vật nằm ở chất ngọc độc bản và lịch sử hộ quốc qua nhiều vương triều, còn tòa khám gỗ tếch bọc vàng cao vút (Busabok) chính là phương tiện kiến trúc nâng tôn tượng lên tầm vũ trụ. Thứ hai, không được nhầm Chùa Phật Ngọc ở Bangkok với chùa Wat Phra Kaew tại Chiang Rai (nơi phát hiện tượng năm 1434, hiện đặt bản sao bằng ngọc bích Canada) hay chùa Haw Phra Kaew tại Viêng Chăn (nơi lưu giữ tượng từ 1564 tới 1779).
IIHai Thế Kỷ Rưỡi Kiến Thiết Cùng Vương Triều Chakri
Lịch sử của Wat Phra Kaew gắn liền từng bước với sự ra đời của kinh đô Bangkok và vương triều Chakri. Tháng 4 năm 1782, sau khi lên ngôi sáng lập triều đại mới, vua Rama I (Phutthayotfa Chulalok) quyết định dời kinh đô từ bờ tây sông Chao Phraya (Thonburi) sang bờ đông tại khu đất bồi đảo Rattanakosin dễ phòng thủ và rộng rãi hơn. Ngay trong năm đầu tiên dựng Đại Hoàng Cung, nhà vua dành trọn khu đất phía đông bắc nội thành để khởi công xây dựng ngôi chùa hoàng gia theo đúng quy thức chùa Wat Phra Si Sanphet trong hoàng cung cố đô Ayutthaya xưa.
- 1434Phát hiện tượng Phật Ngọc tại Chiang RaiTia sét đánh vỡ ngọn bảo tháp cổ tại chùa Wat Pa Yeah (Chiang Rai), hé lộ pho tượng Phật bằng ngọc xanh nguyên khối ẩn dưới lớp vữa trát ngoài.
- 1468 tới 1779Lưu chuyển qua Chiang Mai, Luang Prabang và Viêng ChănSau 32 năm ở Lampang, tượng ngự tại Chiang Mai từ năm 1468, được vua Setthathirath rước sang Luang Prabang năm 1552, về Viêng Chăn năm 1564, rồi được tướng Chao Phraya Chakri thỉnh về Thonburi năm 1779.
- 1782 tới 1784Vua Rama I khởi dựng Wat Phra KaewVua Rama I dời đô sang Bangkok năm 1782 và cho xây dựng chùa trong Đại Hoàng Cung. Ngày 22 tháng 3 năm 1784, pho tượng Phật Ngọc được rước bằng thuyền rồng qua sông Chao Phraya để an vị trong chính điện Phra Ubosot.
- 1788Đại hội kết tập kinh điển Tam Tạng lần thứ chínVua Rama I triệu tập 218 vị trưởng lão và 32 học giả hoàng gia tại chùa để khảo đính lại toàn bộ Tam Tạng kinh điển Pali sau khi kinh sách cũ bị thiêu hủy lúc thành Ayutthaya thất thủ năm 1767. Bộ Đại Tạng Kinh bản hoàng gia chép trên lá bối vàng được lưu giữ trong tòa Phra Mondop.
- Thời Rama III (1824 tới 1851)Trùng tu lớn và chế tác kim y mùa lạnhVua Rama III cho đại trùng tu chính điện Phra Ubosot, chế tác thêm bộ kim y thứ ba dành cho mùa lạnh, đồng thời đúc hai pho tượng Phật đứng cao 3 mét bọc vàng (Phra Phuttha Yotfa Chulalok và Phra Phuttha Loetla Naphalai) đặt hai bên khám thờ để tưởng niệm vua cha và vua ông.
- Thời Rama IV (1851 tới 1868)Quy hoạch đài thượng tầngVua Rama IV (Mongkut) cho xây dựng đài thượng tầng (Upper Terrace) gồm bảo tháp tròn Phra Si Rattana Chedi theo dáng tháp cổ Sri Lanka để tôn trí xá lợi Phật, xây dựng điện Prasat Phra Thep Bidon từ năm 1855 và cho đắp mô hình thu nhỏ đền Angkor Wat bằng đá.
- 1882 và 1982Đại trùng tu kỷ niệm 100 năm và 200 nămVua Rama V (Chulalongkorn) cho đại tu toàn bộ quần thể và ốp gạch vàng Ý cho bảo tháp lớn nhân lễ bách niên kinh đô năm 1882. Năm 1982, dưới triều vua Rama IX, chùa được trùng tu toàn diện nhân kỷ niệm 200 năm thành lập vương triều Chakri và thủ đô Bangkok.
Các sử liệu hoàng gia ghi nhận một chi tiết kiến trúc quan trọng: khi vua Rama I xây dựng chùa năm 1782, tòa tàng kinh các Phra Mondop ban đầu được dựng trên một hồ nước nhỏ để ngăn mối mọt làm hỏng bộ kinh lá bối, tương tự lối dựng thư viện Ho Trai giữa hồ ở các chùa cổ miền Trung Thái Lan. Tuy nhiên, trong lễ bắn pháo hoa khánh thành đầu triều, tàn lửa đã làm cháy phần mái gỗ tòa kinh các đầu tiên. Vua Rama I lập tức cho lấp hồ nước, nâng cao nền đá và dựng lại tòa Phra Mondop uy nghi với bốn hàng cột khảm kính và cửa khảm xà cừ như diện mạo còn thấy ngày nay.
Đến thời vua Rama IV và Rama V vào nửa sau thế kỷ 19, quần thể Wat Phra Kaew mới định hình trọn vẹn bố cục ba khu vực rõ rệt: chính điện ở phía nam, đài thượng tầng ở phía bắc và dãy tám ngọn tháp Prang nhiều màu dọc bức tường phía đông. Năm 1949, Cục Mỹ thuật Thái Lan (Fine Arts Department) đã chính thức ghi danh Wat Phra Kaew cùng toàn bộ Đại Hoàng Cung là Di tích Lịch sử Quốc gia cần được bảo vệ nghiêm ngặt nhất.
IIIĐỉnh Cao Kiến Trúc Rattanakosin Và Hành Lang Bích Họa Ramakien
Khuôn viên Wat Phra Kaew rộng khoảng 94.500 mét vuông, được bao bọc bởi bốn dãy hành lang có mái lợp ngói (Phra Rabiang) tạo thành một không gian biệt lập trong lòng Đại Hoàng Cung. Toàn bộ quần thể là bản tổng hòa rực rỡ nhất của mỹ thuật thời kỳ Rattanakosin: kỹ thuật khảm kính màu tráng gương (krajok), khảm mảnh gốm sứ ngũ sắc, sơn mài thếp vàng (lai rot nam) và khảm xà cừ (khrueang muk) đạt tới độ tinh xảo bậc thầy.
Tòa điện trung tâm nằm ở khu vực phía nam, dựng trên nền đá cẩm thạch trắng có hàng rào đá (sema) bao quanh. Mái điện lợp ba tầng ngói men cam viền xanh lục, nâng đỡ bởi những hàng cột bát giác khảm kính vàng và hoa văn cánh sen. Sáu bộ cửa gỗ lớn khảm xà cừ tinh xảo niên đại năm 1782, bên ngoài có 12 pho tượng sư tử đồng (Singha) đúc theo mẫu cổ Campuchia đứng canh gác. Giữa điện là tòa bảo khám vàng Busabok cao 11,3 mét do vua Rama I tạo tác và vua Rama III mở rộng, bên trên tôn trí tượng Phật Ngọc Lục Bảo.
Ngọn bảo tháp hình chuông tròn mang phong cách Lanka nằm ở đầu phía tây của đài thượng tầng (Upper Terrace). Tháp được vua Rama IV khởi dựng năm 1855 theo nguyên mẫu tháp chùa Wat Phra Si Sanphet ở Ayutthaya để tôn trí xá lợi xương ức của Đức Phật, sau đó vua Rama V cho ốp kín bề mặt bằng gạch kính mạ vàng nhập từ Ý, tạo nên khối kim tháp rực sáng dưới nắng trời.
Tòa thư viện kinh điển nằm ở trung tâm đài thượng tầng, dựng trên nền vuông giật cấp có các tượng thần rắn Naga năm đầu làm lan can và tượng thiên thần Kinnari (nửa người nửa chim) mạ vàng đứng ở các góc. Mái tháp nhọn bảy tầng vươn cao, bốn cánh cửa khảm xà cừ thuộc hàng kiệt tác mỹ thuật thế kỷ 18. Bên trong lưu giữ tủ kinh khảm xà cừ cao gần 10 mét chứa bộ Đại Tạng Kinh Pali bản lá bối vàng.
Tòa điện bình đồ chữ thập nằm ở phía đông đài thượng tầng, khởi dựng năm 1855 dưới thời vua Rama IV để định rước tượng Phật Ngọc về đây nhưng không gian quá hẹp cho các đại lễ. Dưới thời vua Rama VI (năm 1918), tòa điện được chuyển thành Hoàng gia Thái Miếu (Royal Pantheon), nơi tôn trí tượng đồng kích thước thật của các vị vua vương triều Chakri từ Rama I trở đi. Điện có ngọn đỉnh tháp Prang dát vàng và bốn mặt hồi khảm gốm sứ rực rỡ.
Dọc mặt ngoài phía đông chùa là hàng 8 ngọn tháp Prang cao vút do vua Rama I cho dựng và vua Rama III trùng tu, mỗi ngọn khảm gốm sứ một màu riêng biệt (trắng, xanh lam, hồng, xanh lục, tím, vàng, cam, đỏ sẫm), tượng trưng cho Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), chư tăng ni và các vị Bồ Tát như Di Lặc (Metteyya). Trên đài thượng tầng phía bắc tòa Mondop còn có mô hình thu nhỏ đền Angkor Wat bằng đá sa thạch do vua Rama IV cho dựng từ năm 1860.
Bốn dãy hành lang bao quanh chùa gồm 178 gian tường liên tiếp vẽ bích họa sơn màu pha vàng lá, thuật lại trọn vẹn sử thi Ramakien (bản cải biên Thái Lan của sử thi Ramayana Ấn Độ) từ cảnh vua Rama chiến đấu với quỷ vương Thotsakan (Ravana) tới ngày khải hoàn về kinh đô Ayutthaya, kèm các tấm bia đá cẩm thạch khắc thơ giải thích. Tại 6 cổng dẫn vào khu chùa có 12 pho tượng Dạ Xoa cao khoảng 6 mét khảm gốm sứ, mỗi vị mang một sắc mặt riêng như Thotsakan mặt xanh lục hay Sahatsadecha mặt trắng.
| Hạng mục | Thông số và niên đại | Ghi chú khảo chứng |
|---|---|---|
| Tượng Phật Ngọc Lục Bảo | Cao 66 cm, ngang gối 48,3 cm | Tạc từ một khối ngọc bích xanh (jadeite hoặc jasper) nguyên khối, phát hiện tại Chiang Rai năm 1434 |
| Tòa khám vàng Busabok | Cao khoảng 11,3 mét | Làm bằng gỗ tếch chạm khắc thếp vàng nạm kính màu, nâng đỡ tượng Phật Ngọc trong chính điện |
| Hai tượng Phật đứng thời Rama III | Cao 3 mét mỗi pho | Đúc bằng đồng bọc vàng lá nặng khoảng 38 kg vàng mỗi pho, dâng kính vua Rama I và Rama II |
| Tượng hộ pháp Dạ Xoa (Yaksha) | 12 pho, cao khoảng 6 mét | Đứng canh gác 6 cổng hướng về chính điện, nhân vật lấy từ sử thi Ramakien |
| Hành lang bích họa Ramakien | 178 gian tranh tường | Khởi vẽ thời Rama I, trùng tu lớn các năm 1832, 1882, 1932 và 1982 |
IVThế Đất Và Hướng
Phật giáo Nam tông (Theravada) không giảng dạy thuật phong thủy trong kinh điển Pali, nhưng quy hoạch cung đình Thái Lan cổ truyền lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của vũ trụ quan Ấn Độ giáo và Phật giáo (thuyết núi Tu Di và mạn đà la cung thành) kết hợp với thuật chiêm tinh phương vị hoàng gia (Horasat). Phần dưới đây trình bày nguyên tắc định vị thực tế của triều đình Xiêm La khi dựng chùa, đồng thời đối chiếu với phép xem hình thế cổ truyền Á Đông của thư viện để quý vị có thêm góc nhìn so sánh.
Về tọa độ và phương vị trong hoàng thành, Chùa Phật Ngọc nằm tại vĩ độ 13,7516 độ Bắc và kinh độ 100,4927 độ Đông, chiếm trọn góc đông bắc (cung Cấn theo Bát Quái, hay phương Isan theo truyền thống Ấn Độ giáo và Thái Lan) của Đại Hoàng Cung. Trong quy hoạch đô thị cổ Á Đông lẫn vũ trụ quan Bà La Môn và Phật giáo Đông Nam Á, phương đông bắc là phương Cửa Trời hay Quỷ Môn, nơi giao thoa giữa bóng tối của phương Bắc và ánh dương vừa hé của phương Đông. Đặt ngôi chùa tối linh tôn trí tượng Phật Ngọc ngay tại góc đông bắc hoàng thành là cách dùng ân đức vô thượng của Tam Bảo để trấn giữ phương vị nhạy cảm nhất, che chở cho toàn bộ khu triều chính và tẩm điện của nhà vua nằm ở phía nam và phía tây nam.
Về thủy pháp và thế đảo Rattanakosin, vùng đất kinh đô Bangkok nằm ở khúc uốn cong hình cánh cung của dòng sông lớn Chao Phraya chảy từ bắc xuống nam ở phía tây Đại Hoàng Cung. Khi dời đô năm 1782, vua Rama I đã cho đào thêm các vòng kênh hào phía đông (kênh Khlong Lot và sau đó là kênh Khlong Rop Krung), biến khu vực hoàng thành thành một hòn đảo nhân tạo bốn bề có nước bao bọc. Đọc theo phép hình thế cổ truyền, khúc sông Chao Phraya uốn vòng ôm lấy bờ đông chính là thế thủy nhiễu ngọc đái (dòng nước uốn lượn như đai ngọc ôm vào lòng đất tụ khí), còn bờ tây bên vùng Thonburi nhận mặt lồi của dòng nước chảy xiết. Đặt hoàng cung và hộ quốc tự ở phía bụng trong của khúc sông cong giúp long mạch đồng bằng châu thổ tụ khí bền vững, tránh được thủy sát xối thẳng.
Về sơn hướng và bố cục nội khu, trục chính của chính điện Phra Ubosot và tòa Hoàng gia Thái Miếu đều quay mặt chính về hướng Đông (tọa Tây hướng Đông), đón ánh mặt trời mọc buổi sớm theo đúng truyền thống Đức Phật ngồi dưới cội Bồ Đề nhìn về phương Đông lúc thành đạo. Phía trước mặt hướng Đông của chùa, dãy tám ngọn tháp Prang cao vút xếp thành một hàng thẳng dọc bức tường ngoài, đóng vai trò như tám ngọn bút tháp làm tiền án (án sơn) che chắn và dẫn khí từ ngoài phố lớn vào nội điện. Phía bắc chính điện, nền đài thượng tầng được đắp cao với ngọn bảo tháp vàng Phra Si Rattana Chedi, tòa Phra Mondop và điện Prasat Phra Thep Bidon vươn cao, tạo thành thế tả Thanh Long cao vút và vững chãi khi nhìn từ trong chính điện ra hướng Đông, nâng đỡ cho tòa bảo khám tượng Phật Ngọc nằm ở tâm điểm tụ khí của cả quần thể.
VĐại Lễ Hoàng Gia Và Các Ngày Lễ Phật Giáo Theo Âm Lịch Thái
Vì Wat Phra Kaew là ngôi chùa hoàng gia không có chư tăng cư trú thường nhật, các nghi lễ tại đây không diễn ra theo nếp sinh hoạt tòng lâm thông thường mà gắn liền với lịch nghi lễ của Hoàng gia Thái Lan và các đại lễ Phật giáo cấp quốc gia. Vào những ngày lễ lớn, chư tăng cao cấp từ các tự viện hoàng gia lân cận như Wat Pho hay Wat Mahathat Yuwaratrangsarit sẽ được cung thỉnh vào chính điện để cử hành khóa lễ tụng kinh Pali.
| Thời gian | Hệ lịch | Tên đại lễ | Nghi thức tại Chùa Phật Ngọc |
|---|---|---|---|
| Ngày 1 khuyết tháng 4, tháng 8 và tháng 12 âm lịch Thái | Âm lịch Thái (thường rơi vào tháng 3, tháng 7 và tháng 11 dương lịch) | Lễ thay y phục tượng Phật Ngọc (Seasonal Robe Changing Ceremony) | Nghi lễ tối quan trọng mỗi năm 3 lần khi chuyển sang mùa nóng, mùa mưa và mùa lạnh. Quốc vương Thái Lan đích thân lên bệ khám thay bộ kim y vàng nạm ngọc cho pho tượng Phật Ngọc và rẩy nước thiêng ban phúc cho bá quan cùng dân chúng. |
| Ngày 6 tháng 4 hằng năm | Dương lịch | Ngày Vương triều Chakri (Chakri Memorial Day) | Tưởng niệm ngày vua Rama I sáng lập vương triều Chakri năm 1782. Tòa Hoàng gia Thái Miếu (Prasat Phra Thep Bidon) vốn đóng cửa quanh năm sẽ được mở cửa duy nhất trong ngày này để người dân vào dâng hoa kính lễ tượng các vị tiên đế. |
| Rằm tháng 3, tháng 6 và tháng 8 | Âm lịch Thái (tương ứng tháng 2, tháng 5 và tháng 7 dương lịch) | Tam đại lễ Phật giáo: Makha Bucha, Visakha Bucha và Asanha Bucha | Tối ngày rằm, các thành viên hoàng gia và thiện tín cầm nến, hoa sen và hương trầm cử hành lễ nhiễu Phật ba vòng (Wian Tian) quanh chính điện Phra Ubosot. |
| Tháng 5 dương lịch (do Hoàng gia chọn ngày cát nhật) | Âm lịch và Chiêm tinh lịch Thái | Lễ Hạ Điền Hoàng gia (Royal Ploughing Ceremony / Phra Ratchaphithi Phuetchamongkhon) | Buổi chiều trước ngày cày tịch điền tại quảng trường Sanam Luang, lễ cầu an và gia trì hạt giống lúa giống (Phuetchamongkhon) theo nghi thức Phật giáo được cử hành trang trọng ngay trong chính điện Chùa Phật Ngọc. |
Đối với người dân Thái Lan, ngoài các dịp đại lễ trên, chính điện Wat Phra Kaew còn là nơi các vị tân khoa đại học hoàng gia, các quan chức cấp cao trước khi nhậm chức thường tới quỳ trước tôn tượng Phật Ngọc để phát nguyện trung thành và giữ gìn đạo đức công vụ.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Na Phra Lan Road, Phra Borom Maha Ratchawang, Phra Nakhon, Bangkok 10200 (ถนนหน้าพระลาน แขวงพระบรมมหาราชวัง เขตพระนคร กรุงเทพมหานคร)
- Đường tới
- Chùa nằm trong khuôn viên Đại Hoàng Cung trên đường Na Phra Lan, quận Phra Nakhon, Bangkok. Từ trung tâm Bangkok, quý vị có thể đi tàu điện ngầm MRT tuyến màu xanh lam tới ga Sanam Chai rồi đi bộ khoảng 10 tới 12 phút, hoặc đi thuyền trên sông Chao Phraya tới bến Tha Chang (N9) nằm ngay sát cổng chính của Hoàng cung.
- Toạ độ
- 13.7516, 100.4927
Wat Phra Kaew nằm trong Đại Hoàng Cung nên quy định về trang phục ở đây nghiêm ngặt bậc nhất Thái Lan. Quý vị phải mặc áo có tay (không mặc áo sát nách, áo hở vai hay áo mỏng nhìn xuyên thấu), quần dài hoặc váy dài qua mắt cá chân (quần đùi, váy ngắn và quần bó sát dạng legging hoặc quần bò rách đều không được phép qua cổng). Trước khi bước vào chính điện Phra Ubosot phải cởi giày dép để ở kệ bên ngoài, bỏ mũ và kính râm. Khi ngồi lễ trên sàn chính điện, quý vị xếp chân sang một bên theo tư thế phap phiap, tuyệt đối không duỗi hai bàn chân hướng về phía bệ tượng Phật Ngọc và không được chụp ảnh hay quay phim bên trong lòng chính điện.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Phật Ngọc (Wat Phra Kaew), Bangkok
Contribute photos, information or video for Wat Phra KaewThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tượng Phật Ngọc ở chùa Wat Phra Kaew có phải được tạc bằng ngọc lục bảo thật không
Không phải đá ngọc lục bảo (emerald hay beryl) theo phân loại khoáng vật học hiện đại. Các khảo sát của Cục Mỹ thuật Thái Lan và Britannica xác nhận pho tượng cao 66 cm này được tạc từ một khối ngọc bích xanh nguyên khối (jadeite hoặc nephrite) hoặc đá jasper xanh lục. Tên gọi Phật Ngọc Lục Bảo xuất phát từ chữ Morakot trong tiếng Thái cổ dùng chung để chỉ các loại đá quý màu xanh biếc.
Vì sao trong chùa Wat Phra Kaew không có các nhà sư sinh sống
Vì Wat Phra Kaew được vua Rama I xây dựng năm 1782 ngay trong khuôn viên nội thành Đại Hoàng Cung để làm hộ quốc tự và nhà nguyện hoàng gia, nối tiếp truyền thống chùa Wat Phra Si Sanphet trong hoàng cung cố đô Ayutthaya xưa. Chùa chỉ có khu vực thờ tự (Phutthawasa) mà không xây khu tăng xá (Sanghawasa). Khi có đại lễ, triều đình sẽ cung thỉnh chư tăng từ các chùa hoàng gia bên ngoài vào hành lễ.
Pho tượng Phật Ngọc có nguồn gốc từ đâu trước khi về Bangkok
Theo biên niên sử, pho tượng được phát hiện năm 1434 tại thành Chiang Rai (miền Bắc Thái Lan) khi sét đánh vỡ một ngọn tháp cổ. Sau đó tượng lần lượt được rước về tôn trí tại Lampang (từ 1436 tới 1468), Chiang Mai (từ 1468 tới 1552), Luang Prabang (từ 1552 tới 1564) và Viêng Chăn (từ 1564 tới 1779). Năm 1779, tướng Chao Phraya Chakri (sau là vua Rama I) thỉnh tượng về Thonburi rồi rước sang an vị tại Wat Phra Kaew vào ngày 22 tháng 3 năm 1784.
Nghi lễ thay áo cho tượng Phật Ngọc diễn ra như thế nào
Pho tượng Phật Ngọc có ba bộ kim y làm bằng vàng ròng nạm kim cương và đá quý tương ứng với ba mùa trong năm ở Thái Lan: mùa nóng, mùa mưa (do vua Rama I chế tác) và mùa lạnh (do vua Rama III chế tác). Mỗi năm ba lần vào ngày đầu mùa theo âm lịch Thái (thường vào tháng 3, tháng 7 và tháng 11 dương lịch), đích thân Quốc vương Thái Lan hoặc vị đại diện hoàng gia sẽ cử hành nghi lễ thay y phục cho tượng để cầu mưa thuận gió hòa cho đất nước.
Tòa điện Hoàng gia Thái Miếu (Prasat Phra Thep Bidon) mở cửa vào ngày nào
Tòa điện Prasat Phra Thep Bidon nằm trên đài thượng tầng của chùa là nơi đặt tượng đồng kích thước thật của các vị vua vương triều Chakri từ vua Rama I trở đi. Tòa điện này đóng cửa suốt năm và chỉ mở cửa đón công chúng vào viếng thăm duy nhất một ngày trong năm là Ngày Vương triều Chakri (ngày 6 tháng 4 dương lịch hằng năm).