Đi dọc theo thung lũng xanh thẫm nơi dòng suối Hương Xuyên tuôn chảy từ các đỉnh đá hoa cương của dãy núi Diệu Hương ra hợp lưu với sông Thanh Xuyên, quý vị sẽ bước vào một con đường rợp bóng tùng bách cổ thụ dẫn tới ba lớp cổng Tam môn của Chùa Phổ Hiền. Phía sau lầu Vạn Tuế uy nghi là khoảng sân rộng lát đá phẳng phiu, nơi ngọn Tháp đá Bát giác 13 tầng bằng đá hoa cương trắng xám vươn cao 8,58 mét ngay trước thềm Điện Đại Hùng. Mỗi khi gió rừng từ các hẻm núi thổi qua, một trăm linh bốn chiếc chuông gió bằng đồng treo nơi các góc mái đá của ngọn bảo tháp lại ngân lên tiếng chuông thanh mảnh vang vọng khắp thung lũng.
Được kiến lập từ thế kỷ 11 dưới vương triều Cao Ly và mang hồng danh của Đức Phổ Hiền Bồ Tát, Chùa Phổ Hiền (Pohyonsa) suốt gần một thiên niên kỷ là trung tâm tu học và hành hương lớn nhất miền Tây Bắc bán đảo Triều Tiên. Bên cạnh việc bảo tồn tòa Điện Quan Âm bằng gỗ cổ kính dựng từ năm 1449 cùng hai ngọn tháp đá kiệt tác thời Cao Ly, ngôi cổ tự còn là chốn tổ gắn liền với cuộc đời hoằng pháp của Thiền sư Tây Sơn Đại Sư Hyujeong và là nơi lưu giữ bộ bản in giấy Dâu của pho Bát Vạn Đại Tạng Kinh Cao Ly.

IThánh Địa Của Phổ Hiền Bồ Tát Và Mạch Thiền Tông Núi Diệu Hương
Trong địa lý tâm linh cổ truyền trên bán đảo Triều Tiên, dãy núi Diệu Hương (妙香山, Myohyang-san) nằm ở vùng giáp ranh tỉnh Bắc Pyongan và tỉnh Chagang từ lâu đã được liệt vào hàng tứ đại danh sơn cùng với núi Kim Cương (Kumgang-san), núi Trí Dị (Jiri-san) và núi Cửu Nguyệt (Kuwol-san). Cổ thư Đông Quốc Dư Địa Thắng Lẫm và văn bia tại chùa cho biết ngọn núi này xưa kia còn có hai tên gọi mang đậm ý nghĩa Phật học là Nga Mi Sơn (Ami-san, chỉ đạo tràng linh thiêng của Đức Phổ Hiền Bồ Tát) và Hương Sơn (Hyang-san, lấy theo hình ảnh ngọn núi tỏa hương thơm của cây bách cây tùng dù gió thổi xuôi hay thổi ngược được mô tả trong kinh Tăng Nhất A-hàm). Chính từ sự giao hòa giữa cảnh sắc thiên nhiên kỳ vĩ và biểu tượng kinh điển ấy mà ngôi đại tự viện trung tâm của toàn dãy núi với hơn 360 am viện lớn nhỏ vây quanh đã được đặt tên là Phổ Hiền Tự (普賢寺).
Trong giáo nghĩa Phật giáo Đại thừa và đặc biệt là kinh Hoa Nghiêm, Đức Phổ Hiền Bồ Tát (Samantabhadra, tiếng Triều Tiên gọi là Pohyon Posal) là vị đại Bồ Tát hầu bên tay phải Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cưỡi voi trắng sáu ngà, biểu trưng cho Đại Hạnh và Mười Đại Nguyện Vương (từ lễ kính chư Phật, xưng tán Như Lai, quảng tu cúng dường cho tới phổ giai hồi hướng). Nếu Đức Văn Thù Sư Lợi đại diện cho trí tuệ thấu triệt chân lý thì Đức Phổ Hiền đại diện cho sự thực hành kiên định đưa trí tuệ ấy vào đời sống độ sinh.
Tại Chùa Phổ Hiền núi Diệu Hương, tinh thần kết hợp giữa trí tuệ và đại hạnh ấy được thể hiện qua truyền thống Thiền Giáo song tu (dung hợp giữa Thiền tông và Giáo tông Hoa Nghiêm) kéo dài từ thời Cao Ly sang thời Triều Tiên (Joseon). Ở trung tâm ngôi chùa, tòa Điện Đại Hùng (Taeung-jon) tôn trí Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cùng hai vị Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền, trong khi tòa Điện Quan Âm (Kwanum-jon) thờ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát và tòa Điện Linh Sơn (Ryongsan-jon) tái hiện pháp hội Linh Sơn trên đỉnh núi Thứu cùng các vị La Hán.
Ngôi chùa còn là tổ đình gắn bó mật thiết với bậc đại tôn sư của Phật giáo Triều Tiên thế kỷ 16 là Tây Sơn Đại Sư Hyujeong (西山大師 休靜, 1520 tới 1604, pháp hiệu Thanh Hư Đường). Ngài từng trụ tích nhiều năm tại núi Diệu Hương để biên soạn bộ Thiền Gia Quy Giám (禪家龜鑑), tác phẩm kinh điển xác lập đường lối thống nhất Thiền và Giáo cho Phật giáo bán đảo Triều Tiên. Vào năm Vạn Lịch thứ 28 tức năm Tuyên Tổ thứ 33 (1600), Tây Sơn Đại Sư cùng hai đệ tử là Trí Chính và Pháp Lan đã rước một phần chân thân xá lợi của Đức Phật Thích Ca từ chùa Thông Độ (Tongdosa) về phụng an tại tháp xá lợi của am Nội Viện thuộc Chùa Phổ Hiền, trước khi ngài viên tịch tại động Kim Cương trên núi Diệu Hương vào năm 1604 ở tuổi 85.
Một điểm vênh sử liệu thường gặp khi tra cứu về Chùa Phổ Hiền núi Diệu Hương là năm khởi dựng. Một số tài liệu tiếng Anh (như Wikipedia tiếng Anh) ghi chùa được thành lập vào năm 1024, và lưu truyền dân gian còn nhắc tới truyền thuyết Tổ sư Nghĩa Tương (Uisang) từng dựng thảo am tại đây từ năm 784. Tuy nhiên, tấm bia đá gốc khắc năm Nhân Tông thứ 19 triều Cao Ly (1141) mang tên Diệu Hương Sơn Phổ Hiền Tự Ký (妙香山普賢寺記) do đại sử gia Kim Phú Thức (Kim Bu-sik, tác giả bộ Tam Quốc Sử Ký) và Văn Công Dụ (Mun Gong-yu) phụng mệnh vua soạn văn lại chép rõ từng mốc năm: năm Mậu Thìn niên hiệu Thái Bình thứ 8 tức năm Hiển Tông thứ 19 (1028), Quốc sư Thám Mật (探密) dựng am tu hành ở góc tây bắc, năm Mậu Dần tức năm Tĩnh Tông thứ 4 (1038), người cháu đồng thời là đệ tử của ngài là Đại sư Hoành Khuếch (宏廓, nhiều tài liệu phiên âm là Kwangnak hoặc Khuếch Nhiên) tới cùng tu tập, và tới năm Nhâm Ngọ tức năm Tĩnh Tông thứ 8 (1042), hai thầy trò mới chính thức khởi dựng đại tự viện quy mô 243 gian ở cách am cũ một trăm bước về phía đông nam. Thư viện ghi nhận đầy đủ cả văn bia năm 1141 lẫn con số 1024 của nguồn thứ cấp.
IIMột Thiên Niên Kỷ Từ Vương Triều Cao Ly Tới Nay
Lịch sử gần một nghìn năm của Chùa Phổ Hiền núi Diệu Hương được khắc ghi trực tiếp trên rừng bia đá cổ dọc lối vào chùa, phản ánh sự hộ trì của các vương triều Cao Ly và Triều Tiên cũng như những cuộc phục dựng kiên cường sau các biến cố lịch sử.
- 1028 - 1042Thám Mật Quốc sư và Hoành Khuếch Đại sư khai sơnTheo bia Diệu Hương Sơn Phổ Hiền Tự Ký (1141), Thiền sư Thám Mật (quê ở Hoàng Châu) dựng am tu tập năm 1028, cháu là Thiền sư Hoành Khuếch tới hội họp năm 1038, và tới năm Tĩnh Tông thứ 8 (1042) chính thức kiến lập đại tự viện Phổ Hiền Tự rộng 243 gian cho 300 chư tăng tu học.
- 1044Dựng Tháp đá 9 tầng trước lầu Vạn TuếNăm Tĩnh Tông thứ 10 (1044), nhà chùa dựng ngọn Tháp đá 9 tầng (Đa Bảo Tháp) bằng đá hoa cương trước lầu Vạn Tuế, trên tháp có minh văn ghi rõ niên đại kiến tạo, nay được xếp hạng Quốc bảo số 7.
- 1067 và 1141Vua Văn Tông ban ruộng tự điền và vua Nhân Tông sắc dựng biaNăm Văn Tông thứ 21 (1067), hoàng thất Cao Ly ban cấp ruộng đất cho chùa. Năm Nhân Tông thứ 19 (1141), nhà vua ban chiếu cho đại học sĩ Kim Phú Thức và Văn Công Dụ soạn bài ký khắc bia đá ghi lại lịch sử truyền thừa của các đời trụ trì.
- Thế kỷ 14Kiến tạo Tháp đá Bát giác 13 tầng Thích CaVào cuối vương triều Cao Ly (thế kỷ 14), ngọn Tháp đá Bát giác 13 tầng (Thích Ca Tháp) cao 8,58 mét được dựng tại sân chính trước Điện Đại Hùng, trở thành kiệt tác điêu khắc tháp đá trung đại của bán đảo Triều Tiên (Quốc bảo số 144).
- 1449Xây dựng Điện Quan Âm dưới thời vua Thế TôngNăm Thế Tông thứ 31 triều Joseon (1449), tòa Điện Quan Âm (Kwanum-jon) được kiến tạo với hệ thống đấu củng gỗ tinh xảo, hiện là công trình kiến trúc gỗ nguyên bản cổ nhất còn tồn tại nguyên vẹn trong khuôn viên chùa (Quốc bảo số 57).
- 1592 - 1604Tây Sơn Đại Sư Hyujeong trụ tích và bảo vệ Toàn Châu Sử KhốTrong biến cố Nhâm Thìn (1592 tới 1598), Tây Sơn Đại Sư Hyujeong cùng đệ tử là Tứ Minh Đại Sư Yujong đặt tổng hành dinh tăng binh tại chùa, đồng thời bảo vệ an toàn bộ Triều Tiên Vương Triều Thực Lục bản Toàn Châu Sử Khố tại am Phật Ảnh trên núi Diệu Hương.
- 1765 và 1794Trùng tu Điện Đại Hùng và dựng đền Thù Trung TừĐiện Đại Hùng được đại trùng tu vào năm Anh Tổ thứ 41 (1765). Tới năm Chính Tổ thứ 18 (1794), triều đình cho dựng khu đền Thù Trung Từ (Suchung-sa) ở góc đông bắc chùa và dựng bia năm 1796 để tưởng niệm công đức của Tây Sơn Đại Sư, Tứ Minh Đại Sư và Lôi Mặc Đại Sư.
- 1976 - 1984Phục dựng Điện Đại Hùng, Lầu Vạn Tuế và xây Tàng Kinh Các mớiSau khi hơn một nửa trong số 24 tòa kiến trúc gỗ của chùa bị hư hại nặng năm 1951, Điện Đại Hùng được phục dựng năm 1976 theo đúng nguyên mẫu năm 1765, Lầu Vạn Tuế phục dựng năm 1979 và tòa Tàng Kinh Các chuyên dụng được xây dựng năm 1984 để bảo quản bộ bản in Bát Vạn Đại Tạng Kinh.
Một đóng góp văn hóa vô giá của Chùa Phổ Hiền núi Diệu Hương đối với lịch sử Đông Á là việc bảo vệ trọn vẹn bộ Triều Tiên Vương Triều Thực Lục (Joseon Wangjo Sillok). Khi chiến sự năm 1592 nổ ra làm ba trong bốn tàng thư quốc gia của triều đình bị thiêu hủy, bản duy nhất còn sót lại thuộc Toàn Châu Sử Khố (Jeonju Sago) cùng bức ngự chân của vua Thái Tổ đã được chư tăng và nho sĩ hộ tống vượt đường núi hiểm trở đưa về cất giữ an toàn tại Chùa Phổ Hiền và am Phật Ảnh (Puryong-dae) trên núi Diệu Hương. Nhờ bản gốc được gìn giữ tại núi Diệu Hương này mà vào năm 1603 triều đình mới có thể khắc in lại bộ Thực Lục hoàn chỉnh, ngày nay đã trở thành Di sản Tư liệu Thế giới của UNESCO.
IIIKiến Trúc Già Lam Cổ Điển, Tháp Bát Giác 13 Tầng Và Tàng Kinh Các
Khác với lối bố cục đồng trục thẳng tắp thường thấy ở các ngôi chùa đồng bằng, tổng thể già lam của Chùa Phổ Hiền núi Diệu Hương được tổ chức theo hai trục không gian vuông góc và bổ sung cho nhau. Trục chính chạy theo hướng nam bắc đi qua ba lớp cổng sơn môn gồm Tào Khê Môn (Jogye-mun, dựng năm 1644), Giải Thoát Môn (Haetal-mun) và Thiên Vương Môn (Chonwang-mun), dẫn thẳng vào Lầu Vạn Tuế (Manse-ru) và Điện Đại Hùng (Taeung-jon). Giữa cổng Giải Thoát và cổng Thiên Vương là một con đường dài rợp bóng cây cổ thụ với hàng chục tấm bia đá cổ đứng trên lưng rùa đá (bi quy) ghi lại lịch sử gần một thiên niên kỷ của chùa. Trong khi đó, trục thứ hai mở rộng sang phía đông sân lớn, quy tụ Điện Quan Âm, Điện Linh Sơn, khu đền Thù Trung Từ và Tàng Kinh Các.
Giữa khoảng sân trung tâm rộng thoáng, hai ngọn bảo tháp bằng đá hoa cương thời Cao Ly đứng đối diện nhau dọc trục bắc nam, tạo nên điểm nhấn thị giác và nghệ thuật điêu khắc đá tiêu biểu nhất của quần thể Quốc bảo số 40.
Đứng ngay trước thềm Điện Đại Hùng, dựng vào cuối thời Cao Ly (thế kỷ 14) bằng đá hoa cương chạm trổ tinh mỹ, tổng chiều cao 8,58 mét. Bệ tháp gồm ba tầng bát giác chạm hoa sen ngửa và sen úp, phía trên là 13 tầng thân và mái đá thu nhỏ dần theo tỷ lệ hài hòa, đỉnh tháp đội bầu tích trượng và bảo châu bằng đồng, cùng 104 chiếc chuông gió đồng treo ở tám góc của 13 tầng mái.
Đứng phía trước Lầu Vạn Tuế, được kiến tạo năm Tĩnh Tông thứ 10 triều Cao Ly (1044) với chiều cao 6,35 mét (có nguồn đo cả chóp là hơn 7 mét). Khác với tháp 13 tầng hình bát giác, ngọn tháp năm 1044 có bình đồ hình vuông bốn cạnh chuẩn mực, ghi dấu phong cách tháp đá giữa thời Cao Ly.
Chính điện trung tâm của chùa, mặt tiền 5 gian, chiều sâu 3 gian, mái lợp ngói xám truyền thống kiểu bát tác (paljak) với hệ thống đấu củng đa bao sơn vẽ ngũ sắc (đan thanh) rực rỡ. Phục dựng năm 1976 theo đúng nguyên mẫu năm 1765, bên trong tôn trí bộ tượng Tam Thế Phật và bức tranh cuộn Phật giáo (thang họa) lớn.
Nằm ở phía đông Điện Đại Hùng, khởi dựng năm 1449 dưới triều vua Thế Tông nhà Joseon, mặt tiền 3 gian, chiều sâu 3 gian. Đây là tòa điện gỗ nguyên bản cổ xưa nhất còn tồn tại tại Chùa Phổ Hiền, nổi bật với các đầu dư chạm rồng, đấu củng chuyển tiếp thời Cao Ly sang Joseon và đôi cánh cửa gỗ chạm hoa mẫu đơn, hoa sen xuyên thấu.
Nằm ở phía đông khu sân cỏ lớn, tòa Tàng Kinh Các (Bảo tồn khố xây dựng năm 1984 với hệ thống kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm nghiêm ngặt) là nơi lưu giữ bộ bản in trọn vẹn trên giấy Dâu cổ truyền (được in năm 1937 từ bộ mộc bản thế kỷ 13 tại chùa Hải Ấn) của pho Bát Vạn Đại Tạng Kinh Cao Ly gồm hơn 80.000 trang kinh.
Dựng năm 1794 ở góc đông bắc để thờ chân dung ba vị đại sư Tây Sơn, Tứ Minh và Lôi Mặc, kèm nhà bia dựng năm 1796. Cùng với tấm bia Diệu Hương Sơn Phổ Hiền Tự Ký năm 1141 của Kim Phú Thức đặt bên cổng Tào Khê, đây là kho sử liệu thạch văn quý giá bậc nhất vùng Tây Bắc.
Sự hiện diện song hành của ngọn Tháp đá vuông 9 tầng năm 1044 và ngọn Tháp đá Bát giác 13 tầng thế kỷ 14 trên cùng một trục sân giúp người xem nhận ra rõ nét sự chuyển dịch thẩm mỹ của nghệ thuật Phật giáo Cao Ly: từ vẻ trang nghiêm khỏe khoắn kế thừa truyền thống Tân La thống nhất (như tại Chùa Phật Quốc Bulguksa ở Gyeongju) sang vẻ thanh thoát, đa diện và giàu tính trang trí của các bảo tháp bát giác vùng phương Bắc dưới ảnh hưởng giao lưu văn hóa Đông Á thời trung đại.
IVThế Đất Và Hướng
Trên bán đảo Triều Tiên, truyền thống chọn đất dựng chùa từ thời Cao Ly chịu ảnh hưởng sâu sắc của học thuyết Phong thủy Bổ trợ tự tháp (dựng chùa và tháp tại các huyệt đạo trọng yếu để bồi bổ địa khí cho quốc gia) do Quốc sư Đạo Tiên (Doseon Guksa, 827 tới 898) khởi xướng. Phần dưới đây là cách đọc thế đất thực địa của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền kết hợp với cấu trúc sơn thủy của dãy núi Diệu Hương.
Xét về long mạch và đại cục sơn thủy, dãy núi Diệu Hương (với đỉnh cao nhất là Bì Lô Phong / Pirobong cao 1.909 mét) là một đại sơn mạch tách ra từ dãy Trường Bạch và Lang Lâm ở phương Bắc, chạy dọc theo bờ đông của dòng sông Thanh Xuyên (Chongchon River). Tại tọa độ thực địa 40,00848 độ vĩ Bắc và 126,23499 độ kinh Đông thuộc thôn Hương Nham, các sườn núi đá hoa cương trùng điệp đột ngột mở ra một bình nguyên thung lũng bằng phẳng, ấm áp và khuất gió lạnh phương Bắc. Dòng suối lớn Hương Xuyên (Hyangchon-chon) bắt nguồn từ các khe núi sâu chảy uốn lượn ngay phía trước mặt chùa từ đông bắc xuống tây nam để đổ vào sông Thanh Xuyên, tạo nên thế ngọc đái thủy (dải đai ngọc ôm vòng trước ngực huyệt).
Xét về sơn hướng và bố cục nội cục, cụm kiến trúc trung tâm gồm Điện Đại Hùng và Lầu Vạn Tuế được định vị theo thế tọa Đông Bắc hướng Tây Nam (lưng tựa vào chủ sơn thuộc dãy Hương Thiên Sơn ở phía bắc và đông bắc, mặt nhìn ra dòng suối Hương Xuyên và ngọn án sơn đứng chầu ngay bên kia bờ suối ở phía nam và tây nam). Điểm rất tinh tế trong phép bố trí không gian của cổ nhân tại Chùa Phổ Hiền là ba lớp cổng Tào Khê Môn, Giải Thoát Môn và Thiên Vương Môn không đặt thẳng tắp trên một đường kẻ hình học mà hơi xoay lệch góc nhẹ theo độ uốn của địa hình thung lũng và dòng nước, vừa giúp dẫn khí từ tốn theo lối khúc tắc hữu tình, vừa mở ra tầm nhìn bất ngờ khi bước qua từng lớp cổng. Việc dựng ngọn Tháp đá 9 tầng và Tháp đá Bát giác 13 tầng trên trục tâm sân trước Điện Đại Hùng chính là phép tọa trấn trung cung của phong thủy Phật giáo Cao Ly, dùng sức nặng của đá hoa cương và âm thanh của 104 chiếc chuông gió đồng để điều hòa khí trường giữa bốn bề núi cao.
VCác Kỳ Lễ Phật Truyền Thống Và Nghi Thức Tưởng Niệm Tổ Sư
Là ngôi tổ đình lịch sử tiêu biểu của Phật giáo trên bán đảo Triều Tiên, Chùa Phổ Hiền núi Diệu Hương duy trì các ngày lễ kỷ niệm lớn trong năm theo lịch Phật giáo Bắc truyền, kết hợp với nghi thức tưởng niệm truyền thống dành cho các bậc Quốc sư khai sơn và Tây Sơn Đại Sư Hyujeong.
| Thời điểm trong năm | Tên ngày lễ / Pháp hội | Ý nghĩa và nghi thức truyền thống |
|---|---|---|
| Ngày 8 tháng 4 âm lịch | Đại lễ Phật Đản (Seokgatansin-il) | Kỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đản sinh. Chư tăng cử hành khóa lễ tụng kinh Bát Nhã, dâng hương hoa tại Điện Đại Hùng và đi nhiễu quanh Tháp đá Bát giác 13 tầng. |
| Rằm tháng 7 âm lịch (15/7) | Lễ Vu Lan Bồn (Baekjung) | Ngày lễ báo hiếu và cầu siêu cho cửu huyền thất tổ cùng chư hương linh theo truyền thống Phật giáo Đông Á. |
| Mùa xuân và mùa thu âm lịch | Lễ tưởng niệm tại đền Thù Trung Từ | Nghi thức dâng trà và hương hoa truyền thống tưởng niệm Tây Sơn Đại Sư Hyujeong, Tứ Minh Đại Sư Yujong và Lôi Mặc Đại Sư tại khu đền Thù Trung Từ ở góc đông bắc chùa. |
| Ngày 8 tháng 12 âm lịch | Lễ Phật Thành Đạo (Seongdo-jeol) | Kỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca thành đạo dưới cội Bồ Đề, chư tăng tụng kinh và tọa thiền tưởng niệm công hạnh giác ngộ của Đức Thế Tôn. |
Trong các dịp lễ trọng cũng như những chuyến viếng thăm học thuật, du khách và học giả tới Chùa Phổ Hiền thường dành thời gian chiêm bái các bản in giấy Dâu của bộ Bát Vạn Đại Tạng Kinh tại Tàng Kinh Các và lắng nghe tiếng chuông gió ngân vang trên ngọn bảo tháp bát giác giữa rừng thông núi Diệu Hương.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Hương Nham (Hyangam-ri), huyện Hương Sơn (Hyangsan-gun), dãy núi Diệu Hương (Myohyang-san), tỉnh Bắc Pyongan, Triều Tiên
- Đường tới
- Tọa lạc tại thôn Hương Nham, huyện Hương Sơn, tỉnh Bắc Pyongan, dưới chân dãy núi Diệu Hương bên bờ sông Thanh Xuyên, cách trung tâm thủ đô Bình Nhưỡng khoảng 160 km về phía bắc đông bắc theo tuyến đường bộ Bình Nhưỡng đi Hương Sơn.
- Toạ độ
- 40.00848, 126.23499
Khi tới thăm Chùa Phổ Hiền núi Diệu Hương, quý vị cần giữ trang phục lịch sự, đi nhẹ và nói khẽ khi bước qua cổng Thiên Vương Môn vào khu vực sân chính trước Điện Đại Hùng và Điện Quan Âm. Quý vị lưu ý bỏ giày dép trước khi bước lên thềm gỗ của các tòa điện thờ, không chạm tay vào các tấm bia đá cổ thế kỷ 12 dọc lối đi và tuân thủ quy định bảo quản độ ẩm khi tham quan khu vực trưng bày kinh bản tại Tàng Kinh Các.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Phổ Hiền núi Diệu Hương
Contribute photos, information or video for PohyonsaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Phổ Hiền núi Diệu Hương được khởi dựng năm nào và do ai sáng lập?
Theo tấm bia đá Diệu Hương Sơn Phổ Hiền Tự Ký khắc năm 1141 do đại sử gia Kim Phú Thức soạn, Quốc sư Thám Mật dựng am tại đây năm 1028, người cháu là Đại sư Hoành Khuếch tới cùng tu năm 1038, và tới năm Tĩnh Tông thứ 8 triều Cao Ly (1042) hai ngài chính thức dựng đại tự viện Phổ Hiền Tự quy mô 243 gian. Một số tài liệu tiếng Anh ghi năm khởi dựng là 1024.
Vì sao ngôi chùa và ngọn núi lại mang tên Phổ Hiền và Diệu Hương?
Ngọn núi được gọi là Diệu Hương (Myohyang-san) theo hình ảnh ngọn núi tỏa hương lành trong kinh Tăng Nhất A-hàm, đồng thời còn được tôn xưng là Nga Mi Sơn, tức đạo tràng của Đức Phổ Hiền Bồ Tát (Pohyon Posal), vị đại Bồ Tát biểu trưng cho Đại Hạnh trong kinh Hoa Nghiêm. Vì thế ngôi đại tự viện trung tâm của núi được đặt tên là Chùa Phổ Hiền.
Ngọn Tháp đá Bát giác 13 tầng ở sân chùa có gì đặc biệt?
Được kiến tạo vào cuối thời Cao Ly (thế kỷ 14) và xếp hạng Quốc bảo số 144, ngọn Tháp đá Bát giác 13 tầng (Thích Ca Tháp) cao 8,58 mét bằng đá hoa cương đứng ngay trước Điện Đại Hùng. Tháp có bệ ba tầng chạm hoa sen, thân 13 tầng thu nhỏ dần hết sức thanh thoát và treo 104 chiếc chuông gió bằng đồng ở các góc mái đá.
Tòa kiến trúc gỗ nào là cổ nhất còn nguyên vẹn tại Chùa Phổ Hiền?
Đó là tòa Điện Quan Âm (Kwanum-jon, xếp hạng Quốc bảo số 57), được xây dựng vào năm 1449 dưới triều vua Thế Tông nhà Joseon. Tòa điện 3 gian này đã vượt qua hơn năm thế kỷ mà vẫn giữ được kết cấu khung gỗ, hệ đấu củng chuyển tiếp từ phong cách Cao Ly sang Joseon và các cánh cửa chạm hoa sen, hoa mẫu đơn tinh xảo.
Chùa Phổ Hiền lưu giữ những di sản văn hiến lịch sử nào quan trọng?
Chùa hiện lưu giữ tại Tàng Kinh Các bộ bản in giấy Dâu (in năm 1937) của pho Bát Vạn Đại Tạng Kinh Cao Ly, cùng rừng bia đá cổ có bia Diệu Hương Sơn Phổ Hiền Tự Ký năm 1141 của Kim Phú Thức. Trong lịch sử, chùa và am Phật Ảnh trên núi Diệu Hương cũng là nơi bảo vệ thành công bản duy nhất còn sót lại của bộ Triều Tiên Vương Triều Thực Lục hồi cuối thế kỷ 16.