VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang

Sắc tứ Tịnh Quang Tự, Chùa Tịnh Quang, Chùa Sắc Tứ Ái Tử, Am Tịnh Độ, Tịnh Nghiệp Tự

Ngôi tổ đình cổ nhất và là chốn tổ Phật giáo của tỉnh Quảng Trị, do Thiền sư Chí Khả khai sơn năm 1739 bên vùng đất dinh cổ Ái Tử và dòng sông Thạch Hãn.

Khai sơn
1739
Thiền sư Chí Khả đời thứ 35 dòng Lâm Tế
Sắc tứ
Chúa Nguyễn
Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát ban biển vàng
Xếp hạng
Quốc gia
công nhận di tích lịch sử văn hóa năm 1991

Đi dọc theo con đường thiên lý qua vùng đất dinh cổ Ái Tử, nơi chúa Tiên Nguyễn Hoàng từng dựng dinh lũy đầu tiên khi vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558, quý vị rẽ về phía tây chừng một cây số tới khu vực Bàu Voi sẽ bắt gặp một cổng tam quan cổ kính vươn cao giữa những tán cây rợp bóng. Phía sau cổng tam quan ấy là khuôn viên rộng lớn của một ngôi già lam lưng tựa vào sườn đồi Hóc Trước, mặt nhìn ra hồ nước Bàu Voi và đồng bằng châu thổ sông Thạch Hãn.

Đây là Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang, thường được người dân địa phương gọi ngắn gọn là Chùa Sắc Tứ hay Chùa Tịnh Quang, tọa lạc tại tiểu khu 3, đường Lê Duẩn, xã Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (trước đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 là thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Khởi lập từ năm Kỷ Hợi 1739 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, Tịnh Quang là ngôi tổ đình Phật giáo Bắc tông cổ nhất và giữ vai trò chốn tổ truyền thừa của Phật giáo tỉnh Quảng Trị suốt gần ba thế kỷ.

Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang
Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang. Ảnh: Phương Huy, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

ITổ Sư Chí Khả Và Mạch Nguồn Lâm Tế Bên Đất Dinh Cổ Ái Tử

Người đặt viên đá đầu tiên khai sáng Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang là Thiền sư Chí Khả, pháp danh Tu Pháp, tự Tánh Tu, hiệu Chí Khả (một số tư liệu ghi ngài xuất thân từ vùng Quảng Đông, Trung Hoa sang Đàng Trong cầu đạo, thuộc thế hệ thứ 35 dòng Thiền Lâm Tế). Sinh thời, ngài là bậc cao tăng nổi tiếng nghiêm trì giới luật, chuyên tụng trì kinh Pháp Hoa và có đạo hạnh cảm hóa sâu rộng đối với cư dân vùng dinh Ái Tử, huyện Đăng Xương (nay là vùng Triệu Phong, Quảng Trị).

Trong buổi đầu dừng bước tại sườn đồi Hóc Trước bên đầm Bàu Voi, nhận thấy nơi đây phong cảnh thanh u, thế đất cao ráo nhìn ra lưu vực sông Thạch Hãn và sông Vĩnh Định, ngài đã dựng một thảo am nhỏ bằng tre tranh để ẩn tu, chuyên hành trì pháp môn Tịnh độ kết hợp thiền quán Lâm Tế. Từ thảo am đơn sơ ấy, tiếng chuông kệ của Tổ sư Chí Khả đã quy tụ đông đảo thiện nam tín nữ cùng quan lại vùng dinh trấn Quảng Trị về quy y thọ giáo, mở ra một trung tâm truyền giới và đào tạo tăng tài lớn nhất vùng bắc Thuận Hóa.

Theo giáo nghĩa

Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, sự ra đời của chùa Tịnh Quang phản ánh rõ nét tư tưởng Thiền Tịnh song tu của dòng Lâm Tế thế kỷ 18. Ngay từ những tên gọi ban đầu của chùa là Am Tịnh Độ và Tịnh Nghiệp Tự cho tới danh hiệu Tịnh Quang Tự do chúa Nguyễn ban tặng, chữ Tịnh luôn đứng ở vị trí trung tâm. Tịnh Độ là cõi Phật thanh tịnh, Tịnh Nghiệp là ba nghiệp thân, khẩu, ý trong sạch của người tu hành, còn Tịnh Quang là ánh sáng trí tuệ phát khởi từ tâm thanh tịnh chiếu soi muôn loài. Khi tâm người tu lắng sạch vọng niệm như mặt nước hồ Bàu Voi phẳng lặng trước sân chùa, ánh sáng giác ngộ tự nhiên hiển lộ.

Theo sử liệu

Khi khảo cứu các nguồn tư liệu viết về buổi đầu khai sơn chùa Tịnh Quang, thư viện ghi nhận ba điểm chênh lệch giữa các nguồn mà người đọc cần lưu ý. Thứ nhất, về tên gọi ban đầu của thảo am do Tổ Chí Khả dựng năm 1739, Báo Giác Ngộ và một số bản lược sử tổ đình ghi tên gốc là Am Tịnh Độ, trong khi Cổng thông tin Phật giáo Việt Nam và một số tài liệu địa phương ghi là Tịnh Nghiệp Tự (Chùa Tịnh Nghiệp). Thứ hai, về can chi của năm dương lịch 1739 (năm Vĩnh Hựu thứ 5 đời vua Lê Ý Tông, năm thứ hai chúa Nguyễn Phúc Khoát nối ngôi chúa), nhiều bài viết trên báo chí chép nhầm thành năm Kỷ Sửu, đối chiếu lịch vạn niên, năm 1739 chính xác là năm Kỷ Hợi (còn năm Kỷ Sửu là 1709 hoặc 1769). Thứ ba, về thời điểm chúa Nguyễn Phúc Khoát (Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng Đế) ban biển vàng năm chữ Sắc tứ Tịnh Quang Tự, một mạch tư liệu ghi chúa ban ngay trong năm 1739 nhân chuyến tuần du ra dinh Ái Tử, còn một mạch tư liệu lịch sử địa phương lại ghi chúa ban biển sắc tứ vào năm Đinh Sửu (1757), sau khi Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát chính thức xưng vương năm Giáp Tý (1744) và định chế lại toàn bộ phẩm phục, chùa chiền xứ Đàng Trong. Thư viện ghi nhận đầy đủ cả hai mốc 1739 và 1757 để bảo toàn tính khách quan của sử liệu.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người khi nghe danh hiệu Sắc tứ Tịnh Quang Tự thường mặc định biển sắc tứ này do các hoàng đế triều Nguyễn sau năm 1802 (như vua Gia Long hay vua Minh Mạng) ban tặng lần đầu. Thực tế, Tịnh Quang được ban biển Sắc tứ ngay từ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát ở thế kỷ 18, khi vùng Ái Tử và dinh Cát (Triệu Phong) vẫn là cội rễ phát tích của vương triều Nguyễn. Đến thời các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức ở thế kỷ 19, triều đình Huế tiếp tục ban sắc chỉ công nhận lại danh hiệu quốc tự và cấp ngân khố trùng tu ngôi cổ tự này.

IIBa Thế Kỷ Truyền Thừa Và Những Đợt Đại Trùng Tu

Từ một thảo am nhỏ bên đồi Hóc Trước năm 1739, Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang đã trải qua gần ba trăm năm lịch sử với nhiều thế hệ tổ sư kế đăng truyền pháp. Sau khi Tổ khai sơn Chí Khả viên tịch ngày 18 tháng 2 âm lịch (ngôi bảo tháp của ngài hiện tôn trí bên phải khuôn viên chùa), các thế hệ đệ tử và pháp tôn thuộc dòng Lâm Tế đã nối tiếp nhau mở rộng quy mô tùng lâm, đưa Tịnh Quang trở thành chốn tổ xuất thân của hầu hết các bậc danh tăng tỉnh Quảng Trị.

Dưới triều đại nhà Nguyễn thế kỷ 19, ngôi chùa luôn nhận được sự hộ trì đặc biệt của hoàng gia và quan lại tỉnh Quảng Trị. Sang thế kỷ 20, trong phong trào chấn hưng Phật giáo miền Trung những năm 1930 tới 1940, Tịnh Quang là trụ sở của Hội An Nam Phật Học tỉnh Quảng Trị và là nơi mở các trường gia giáo, giới đàn lớn. Năm 1972, do biến cố lịch sử trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, toàn bộ kiến trúc cổ của chùa bị hư hại hoàn toàn, chỉ còn lại nền móng, cổng cổ, bảo tháp Tổ sư và một số pháp khí, tượng cổ được chư tăng cùng tín đồ cất giữ. Từ năm 1997 đến năm 2001, dưới sự chủ trì của Hòa thượng Thích Chánh Liêm cùng chư tôn đức và Phật tử khắp nơi, ngôi tổ đình được đại trùng tu quy mô lớn trên nền đất cũ.

  • 1739Thiền sư Chí Khả khai sơn thảo am
    Năm Kỷ Hợi (1739, niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 5 đời vua Lê Ý Tông), Thiền sư Tu Pháp Chí Khả dựng thảo am bên đồi Hóc Trước tại vùng Ái Tử với tên gọi ban đầu là Am Tịnh Độ (hoặc Tịnh Nghiệp Tự).
  • 1739 hoặc 1757Chúa Nguyễn Phúc Khoát ban biển Sắc tứ Tịnh Quang Tự
    Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát tuần du ra Quảng Trị, cảm mến đạo hạnh của Tổ sư và cảnh trí trang nghiêm nên ban tặng bức hoành phi sơn son thếp vàng năm chữ Sắc tứ Tịnh Quang Tự (có nguồn ghi năm 1739, nguồn khác ghi năm Đinh Sửu 1757).
  • 1802 tới 1819Định danh chính thức dưới triều vua Gia Long
    Sau khi lên ngôi hoàng đế năm 1802, vua Gia Long ban sắc xác nhận danh hiệu Tịnh Quang Tự và miễn sưu dịch cho chư tăng chăm lo việc hương khói tại chốn tổ.
  • 1840Trùng tu dưới triều vua Minh Mạng
    Năm Canh Tỵ niên hiệu Minh Mạng thứ 21 (1840, một số tài liệu ghi kéo dài sang đầu năm 1841), nhà vua ban sắc và cấp tiền kho cùng chư tăng, quan lại địa phương mở rộng chính điện, nhà Tổ và đúc pháp khí.
  • 1856Đại trùng tu dưới triều vua Tự Đức
    Năm Bính Thìn niên hiệu Tự Đức thứ 9 (1856), chùa được đại trùng tu kiến trúc theo quy thức chữ Khẩu truyền thống của tùng lâm xứ Huế, hoàn thiện hệ thống tiền đường, chính điện, đông lang, tây lang và hậu tổ.
  • 1941Tôn tạo thời kỳ chấn hưng Phật giáo
    Năm Tân Tỵ niên hiệu Bảo Đại thứ 16 (1941), chư tôn đức và đạo hữu Phật tử tỉnh Quảng Trị tiến hành tu bổ chánh điện, cổng tam quan và mở trường Phật học tại chùa.
  • 1991Xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
    Bộ Văn hóa và Thông tin ban hành quyết định công nhận Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia (các nguồn ghi Quyết định số 2009/QĐ-BVHTT ngày 15/11/1991 hoặc số 2198/QĐ-VH ngày 12/12/1991).
  • 1997 tới 2001Đại trùng tu và phục dựng tổng thể tổ đình
    Hòa thượng Thích Chánh Liêm cùng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Quảng Trị khởi công đại trùng tu chùa năm Đinh Sửu (1997) và tổ chức đại lễ lạc thành năm Tân Tỵ (2001), khôi phục diện mạo uy nghiêm của chốn tổ.
Theo sử liệu

Về văn bản pháp lý công nhận Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào cuối năm 1991, các nguồn tài liệu hiện hành ghi nhận hai số hiệu và ngày tháng khác nhau. Trang tra cứu Chùa Việt Toàn Cầu và một số bài báo dẫn Quyết định số 2009/QĐ-BVHTT ngày 15 tháng 11 năm 1991 của Bộ Văn hóa và Thông tin, trong khi danh mục di tích địa phương và một số tài liệu văn hóa tỉnh Quảng Trị ghi Quyết định số 2198/QĐ-VH ngày 12 tháng 12 năm 1991. Cả hai thông tin đều thống nhất thời điểm xếp hạng cấp quốc gia là cuối năm 1991, trước khi công cuộc đại trùng tu năm 1997 bắt đầu.

IIIKiến Trúc Chữ Khẩu Xứ Đàng Trong, Tháp Tổ Và Pháp Khí Cổ

Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang mang đậm phong cách kiến trúc tùng lâm truyền thống xứ Huế và vùng Thuận Hóa. Tổng thể mặt bằng kiến trúc chính của chùa được quy hoạch theo bố cục hình chữ Khẩu (hoặc nội công ngoại quốc khép kín bốn mặt quanh sân thiên tỉnh), gồm tòa Tiền đường và Chính điện ở phía trước, nhà Hậu Tổ ở phía sau, hai dãy Đông lang và Tây lang nối liền hai bên tả hữu. Lối bố cục này vừa tạo ra sự liên hoàn ấm cúng cho sinh hoạt tu học của chư tăng trong mùa mưa bão miền Trung, vừa mở ra khoảng sân trong ngập tràn ánh sáng tự nhiên và gió mát từ hồ Bàu Voi thổi lên.

Đi từ ngoài trục đường Lê Duẩn vào chùa, khách hành hương đi qua cổng tam quan cổ kính dẫn vào sân ngoại rộng rãi. Tâm điểm của sân chùa là đài Quán Thế Âm lộ thiên và bức bình phong long mã đắp nổi sành sứ. Tòa Chính điện được kiến thiết theo lối nhà rường trùng thiềm điệp ốc hai tầng mái lợp ngói liệt âm dương, bờ nóc đắp nổi lưỡng long chầu pháp luân, các đầu đao uốn cong thanh thoát với hình tượng phượng hàm thư và lân chầu.

Cổng tam quan và bức bình phong cổ

Cổng tam quan xây bốn trụ biểu vươn cao, đỉnh trụ đắp búp sen thanh tịnh, trên trán cổng đề chữ Hán Sắc tứ Tịnh Quang Tự. Phía sau cổng là bức bình phong cổ khảm sành sứ ngăn cách không gian ngoại viện và nội viện.

Tòa Chính điện trùng thiềm điệp ốc

Nếp nhà trung tâm có hệ khung cột gỗ vững chãi, mái lợp ngói âm dương, chính giữa treo tấm biển sơn son thếp vàng Sắc tứ Tịnh Quang Tự. Điện Phật bài trí tôn nghiêm theo pháp môn Bắc tông với tượng Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, Tam Thế Phật, Di Đà Tam Tôn cùng Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí.

Nhà Hậu Tổ và hai dãy Đông lang, Tây lang

Nằm phía sau Chính điện qua khoảng sân thiên tỉnh, nhà Hậu Tổ là nơi thờ Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma, Tổ khai sơn Tu Pháp Chí Khả cùng long vị chư vị lịch đại Tổ sư trụ trì qua gần ba thế kỷ. Hai dãy Đông lang và Tây lang là nơi đặt trai đường, giảng đường và tăng xá.

Khu vườn tháp và Bảo tháp Tổ khai sơn Chí Khả

Nằm bên phải khuôn viên chính điện trên sườn đất cao của đồi Hóc Trước, quy tụ bảo tháp lục giác nhiều tầng của Tổ sư khai sơn Chí Khả cùng các ngôi mộ tháp cổ của chư vị Hòa thượng kế thế trụ trì.

Lầu chuông, lầu trống và hệ thống pháp khí cổ

Hai bên sân trước Chính điện là gác chuông và gác trống đăng đối. Chùa còn bảo lưu nhiều pháp khí quý như đại hồng chung, trống Bát Nhã, mộc bản, bia đá ghi công đức trùng tu và các pho tượng cổ bằng đồng, gỗ sơn son thếp vàng.

Điểm tạo nên sức lắng đọng sâu thẳm khi bước vào nội điện Tổ đình Tịnh Quang là sự hài hòa giữa màu gỗ lim sẫm bóng của hệ thống cột, kèo, xuyên, trến chạm khắc tứ linh với sắc vàng trầm mặc của các bức hoành phi câu đối chữ Hán. Từng đôi câu đối khắc trên cột gỗ đều nhắc lại công hạnh khai sơn của Tổ Chí Khả giữa vùng cát trắng gió Lào và ân đức hộ trì Tam bảo của tiền nhân đất Ái Tử.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu lịch sử và đâu là kiến giải địa lý hình thế.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ địa hình vùng đồng bằng Triệu Phong và thị xã Quảng Trị cũ, Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang tọa lạc ở tọa độ 16,7639 độ vĩ Bắc và 107,1569 độ kinh Đông, nằm tại vùng chuyển tiếp bán sơn địa phía tây thị trấn Ái Tử xưa. Long mạch dẫn về chùa bắt nguồn từ các dải đồi thấp phía tây thuộc mạch núi Trường Sơn Bắc hạ thấp dần về phía đông, kết lại ở gò đồi Hóc Trước. Trong một vùng đồng bằng ven sông thường xuyên chịu cảnh ngập lụt mùa mưa lũ như lưu vực sông Thạch Hãn, việc Tổ sư Chí Khả chọn sườn đồi Hóc Trước cao ráo làm nơi dựng am là cách chọn cao nhất thốn vi sơn (cao hơn một tấc là núi), giúp ngôi tổ đình đứng vững trên nền đất long tước chắc chắn và thoát khỏi thủy tai.

Về sơn hướng và minh đường, ngôi chùa tọa lạc theo thế tựa đồi Hóc Trước, hướng mặt nước Bàu Voi và lưu vực sông Thạch Hãn. Phía sau lưng chùa là gò đồi Hóc Trước làm hậu chẩm che chắn vững vàng, mặt tiền chùa mở về hướng đông nam đón gió lành từ biển Cửa Việt và dòng sông Thạch Hãn thổi vào. Ngay trước mặt chùa là đầm nước tự nhiên Bàu Voi đóng vai trò nội minh đường tụ thủy (trong phong thủy cổ truyền, bàu nước phẳng lặng trước cửa chùa gọi là thủy tụ thiên tâm, giúp giữ khí và làm dịu sức nóng của gió phơn tây nam). Xa hơn về phía đông và đông nam là dòng sông Thạch Hãn và nhánh sông Vĩnh Định uốn lượn như dải ngọc đái (thắt lưng ngọc) ôm lấy vùng đất dinh cổ Ái Tử, tạo thành ngoại minh đường rộng lớn giúp mạch khí của chốn tổ lưu truyền bền bỉ suốt ba thế kỷ.

VLễ Giỗ Tổ Khai Sơn Và Các Kỳ Pháp Hội Lớn

Là chốn tổ của Phật giáo tỉnh Quảng Trị, Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang quanh năm duy trì thời khóa tụng niệm thiền môn nghiêm mật và là nơi cử hành các đại lễ trọng đại nhất của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh cùng đông đảo tăng ni, tín đồ thập phương. Trong đó, ngày lễ quan trọng bậc nhất gắn liền với cội nguồn lịch sử của chùa là Lễ húy nhật (Giỗ Tổ) Tổ sư khai sơn Chí Khả diễn ra vào ngày 18 tháng 2 âm lịch hằng năm.

Các kỳ lễ tiết và pháp hội chính trong năm tại Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang. Nguồn: Tổng hợp từ Báo Giác Ngộ và Cổng thông tin Phật giáo Việt Nam..
Ngày âm lịchTên kỳ lễ hội và pháp hộiNội dung nghi lễ truyền thống
17 đến 18 tháng 2Lễ húy nhật Tổ sư khai sơn Tu Pháp Chí KhảChư tôn giáo phẩm, môn đồ pháp quyến và hàng vạn Phật tử vân tập về tổ đình cử hành lễ nhiễu tháp Tổ, tụng kinh Pháp Hoa, cung tiến giác linh Tổ sư và thiết lễ trai tăng, phả độ gia tiên.
Mùng 8 đến rằm tháng 4Đại lễ Phật Đản tại chốn tổ Quảng TrịLễ rước Phật, lễ Mộc dục (tắm Phật), thuyết giảng giáo lý, thả hoa đăng cầu nguyện quốc thái dân an và diễu hành xe hoa từ tổ đình đi qua các trục đường vùng Ái Tử, Đông Hà.
Mùng 1 tháng 4 đến rằm tháng 7Mùa An cư kiết hạ và Đại lễ Vu Lan báo hiếuTổ đình là trường hạ trung tâm của chư tăng tỉnh Quảng Trị suốt ba tháng mùa mưa. Đến rằm tháng 7 cử hành lễ Tự tứ mãn hạ, bông hồng cài áo Vu Lan và đại đàn chẩn tế cô hồn.
Mùng 1 tới rằm tháng GiêngLễ cầu an đầu xuân và khai kinh Pháp HoaNgười dân khắp vùng Triệu Phong, Quảng Trị về lễ Phật đầu năm, xin lộc chữ và tham dự khóa lễ khai kinh cầu bình an cho gia quyến.

Vào ngày 18 tháng 2 âm lịch hằng năm, nghi thức nhiễu tháp Tổ sư Chí Khả dưới bóng cây cổ thụ trên sườn đồi Hóc Trước luôn để lại ấn tượng sâu sắc cho khách hành hương. Hàng trăm vị tăng ni trong màu y vàng trang nghiêm cùng hàng ngàn Phật tử áo lam chắp tay niệm Phật, đi nhiễu ba vòng quanh ngôi bảo tháp rêu phong để tưởng niệm bậc khai sơn đã thắp lên ngọn đèn Tịnh Quang giữa đất dinh xưa.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Tiểu khu 3, khu vực Bàu Voi, đường Lê Duẩn, xã Triệu Phong (thị trấn Ái Tử cũ, huyện Triệu Phong cũ), tỉnh Quảng Trị
Đường tới
Chùa tọa lạc tại tiểu khu 3, khu vực Bàu Voi, số 235 đường Lê Duẩn, xã Triệu Phong (thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong cũ), tỉnh Quảng Trị, cách tuyến Quốc lộ 1A khoảng 1 km về phía tây. Từ trung tâm phường Đông Hà đi theo Quốc lộ 1A về hướng nam khoảng 8 km tới ngã tư Ái Tử rồi rẽ phải về phía tây theo biển chỉ dẫn là tới cổng tổ đình.
Toạ độ
16.7639, 107.1569
Khi tới nơi

Khi tới lễ Phật và chiêm bái Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang, quý vị lưu ý mặc trang phục kín đáo, trang nhã (Phật tử nên mặc áo tràng lam nếu có), bước vào cổng tam quan theo hai cửa bên (cửa Không và cửa Vô Tác) thay vì đi chính giữa cửa Trung Đạo. Khi vào Chính điện, nhà Hậu Tổ và khu vườn tháp Tổ sư Chí Khả, xin quý vị bỏ mũ nón, đi nhẹ, nói khẽ và giữ tâm thanh tịnh, đặc biệt tránh gây ồn ào vào các giờ chư tăng đang tụng kinh, tọa thiền hoặc trong ba tháng mùa An cư kiết hạ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang

Contribute photos, information or video for Sắc tứ Tịnh Quang Ancestral Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang do ai khai sơn và vào năm nào?

Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang do Thiền sư Tu Pháp, tự Tánh Tu, hiệu Chí Khả (thuộc dòng Thiền Lâm Tế đời thứ 35) khai sơn vào năm Kỷ Hợi 1739 dưới thời vua Lê Ý Tông và chúa Nguyễn Phúc Khoát. Ban đầu chùa là một thảo am nhỏ bên đồi Hóc Trước mang tên Am Tịnh Độ (một số nguồn ghi là Tịnh Nghiệp Tự).

Danh hiệu Sắc tứ Tịnh Quang Tự do vị chúa hay vị vua nào ban tặng?

Danh hiệu năm chữ Sắc tứ Tịnh Quang Tự được chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng Đế) ban tặng bằng tấm biển sơn son thếp vàng khi ngài tuần du ra vùng đất dinh cổ Ái Tử (có nguồn ghi ban năm 1739, có nguồn ghi năm Đinh Sửu 1757). Sang triều Nguyễn thế kỷ 19, các vua Gia Long, Minh Mạng (năm 1840) và Tự Đức (năm 1856) tiếp tục ban sắc xác nhận và cấp kinh phí trùng tu chùa.

Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, chùa Tịnh Quang thuộc xã nào của tỉnh Quảng Trị?

Trước ngày 1 tháng 7 năm 2025, chùa thuộc tiểu khu 3, thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Theo Nghị quyết số 1680/NQ-UBTVQH15 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thị trấn Ái Tử được sáp nhập cùng xã Triệu Thành và xã Triệu Thượng để thành lập xã mới mang tên xã Triệu Phong trực thuộc tỉnh Quảng Trị.

Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang được xếp hạng Di tích quốc gia vào năm nào?

Ngôi tổ đình được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào cuối năm 1991. Các tài liệu lưu trữ ghi nhận hai mốc văn bản là Quyết định số 2009/QĐ-BVHTT ngày 15 tháng 11 năm 1991 và Quyết định số 2198/QĐ-VH ngày 12 tháng 12 năm 1991.

Ngày lễ lớn nhất trong năm tại Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang là ngày nào?

Ngày lễ truyền thống quan trọng nhất của tổ đình là Lễ húy nhật (Giỗ Tổ) Tổ sư khai sơn Tu Pháp Chí Khả, diễn ra vào ngày 17 và 18 tháng 2 âm lịch hằng năm. Ngoài ra, vì là chốn tổ của Phật giáo tỉnh Quảng Trị, chùa còn là nơi tổ chức trọng thể Đại lễ Phật Đản rằm tháng 4 và Đại lễ Vu Lan rằm tháng 7 âm lịch.

›Đọc Tiếp