VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Thánh Mẫu Liễu Hạnh (Đèo Ngang)

Đền Mẫu Liễu Hạnh Đèo Ngang, Đền Liễu Hạnh Công chúa, Đền Mẫu Hoành Sơn

Ngôi đền cổ khởi dựng từ năm 1557 dưới chân Đèo Ngang, nơi lưu giữ huyền tích Thánh Mẫu Liễu Hạnh hóa thân mở quán nước bên đường thiên lý dưới dãy Hoành Sơn.

Khởi dựng
1557
niên hiệu Thiên Hựu đời vua Lê Anh Tông
Thế đất
Hoành Sơn
lưng tựa núi Đèo Ngang, mặt hướng biển Đông
Xếp hạng
Di tích cấp tỉnh
công nhận năm 2000, điểm du lịch năm 2024

Từ con đường thiên lý vắt qua sườn núi Đèo Ngang nhìn xuống phía nam, nơi dãy Hoành Sơn chạy dài từ dải Trường Sơn ra tận mép sóng biển Đông, quý vị sẽ thấy một mái đền cổ kính nép mình bên mặt hồ nước ngọt phẳng lặng của thôn Vĩnh Sơn. Phía trên đỉnh đèo là cổng thành đá Hoành Sơn Quan đứng giữa mây gió, còn dưới chân đèo là khói trầm bảng lảng tỏa ra từ những nếp mái ngói âm dương rêu phong, soi bóng xuống mặt nước hướng về dải biển Vũng Chùa và Đảo Yến.

Đó là Đền Thánh Mẫu Liễu Hạnh (Đèo Ngang), tọa lạc tại thôn Vĩnh Sơn, xã Phú Trạch, tỉnh Quảng Trị (trước đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 là xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình). Được khởi dựng từ năm Đinh Tỵ 1557 dưới triều Hậu Lê, ngôi đền đánh dấu một trong những điểm dừng chân phương Nam quan trọng nhất trong hành trình hiển thánh của Đệ Nhị Tiên Chúa Quỳnh Hoa, vị thần chủ tối cao của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Việt Nam.

IThánh Mẫu Liễu Hạnh Và Huyền Tích Quán Nước Đèo Ngang

Đền thờ chính Thánh Mẫu Liễu Hạnh, còn được dân gian vùng Hoành Sơn tôn xưng là Liễu Hạnh Công chúa, Bà Chúa Liễu hay Mẫu Thượng Thiên. Trong tâm thức tín ngưỡng của người Việt, Thánh Mẫu Liễu Hạnh là vị thánh nữ duy nhất góp mặt trong hàng Tứ bất tử cùng với Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương và Chử Đồng Tử. Bà vừa là bậc Tiên Chúa trên thượng giới, vừa là người mẹ hiền che chở cho dân lành, thương nhân vượt đèo và ngư dân dong thuyền trên vùng biển dữ.

Theo giáo nghĩa

Trong hệ thống thần điện của Đạo Mẫu Việt Nam, Thánh Mẫu Liễu Hạnh giữ ngôi vị thống lĩnh Tam tòa Thánh Mẫu. Bà hóa hiện trong sắc đỏ của Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên cai quản bầu trời và mây mưa sấm chớp, đồng thời dung nhiếp quyền năng của Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn trông coi núi rừng và Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ cai quản sông biển. Sự hiện diện của ngôi đền thờ Mẫu ngay tại Đèo Ngang, nơi núi cao Hoành Sơn gặp biển lớn Đông Hải, thể hiện trọn vẹn tính chất giao hòa giữa miền Thượng Ngàn rừng thẳm và miền Thoải Phủ biển khơi dưới sự che chở của Mẫu Thượng Thiên.

Huyền tích quán nước cỏ tranh dưới chân Hoành Sơn

Theo sử liệu

Theo truyền thuyết dân gian lưu truyền tại vùng Quảng Đông và Kỳ Anh cùng các bản thần tích Đạo Mẫu, trong những lần giáng trần (nhiều tư liệu gắn với lần giáng trần thứ hai hoặc thứ ba vào khoảng thế kỷ 16 tới thế kỷ 17), Công chúa Liễu Hạnh đã rời chốn kinh kỳ tìm vào dải đất biên viễn phía nam Đàng Ngoài. Thấy dưới chân Đèo Ngang cảnh sắc kỳ vĩ, một bên là vách núi đá dựng đứng hiểm trở, một bên là sóng biển vỗ bờ, người qua lại trên đường thiên lý thường mỏi gối chồn chân giữa chốn rừng thiêng nước độc, Tiên Chúa bèn hóa thân thành một người thiếu nữ xinh đẹp dựng quán nước nhỏ bằng tranh tre ngay dưới chân đèo để giúp đỡ khách bộ hành.

Quán nước của nàng thiếu nữ bên chân đèo chẳng những giải cơn khát cho khách đường xa mà còn nổi tiếng khắp vùng vì tài ứng đối thi ca mẫn tiệp. Về những nhân vật lịch sử và truyền kỳ từng dừng chân thử tài tại quán nước này, các nguồn tư liệu và truyền khẩu dân gian ghi nhận hai mạch truyện khác nhau. Mạch truyền thuyết bản địa tại Quảng Bình và Hà Tĩnh kể rằng tiếng đồn về người thiếu nữ tài sắc dưới chân Đèo Ngang truyền tới tận kinh thành Thăng Long, khiến một vị hoàng tử con vua Lê (có dị bản gọi là chàng Sơn Nhân hoặc một công tử quyền quý triều Lê) giả dạng thư sinh tìm vào tận chân núi Hoành Sơn để cợt nhả, trêu ghẹo. Thánh Mẫu đã dùng phép thần thông hóa biến cành đào và quả cau khiến vị hoàng tử mê loạn tâm thần, phải nhờ triều đình lập đàn cầu đảo xin tạ lỗi mới được giải bệnh. Trong khi đó, mạch văn học truyền kỳ gắn với tác phẩm Vân Cát thần nữ lục của Đoàn Thị Điểm lại khắc họa hình ảnh Tiên Chúa mở quán nước, xướng họa thơ văn thử tài bậc đại khoa Phùng Khắc Khoan (Trạng Bùng) cùng hai vị cử nhân họ Ngô, họ Lý trước khi hiển lộ chân tướng tiên gia rồi bay về trời. Dù theo dị bản nào, hình ảnh quán nước dưới chân Đèo Ngang cũng là biểu tượng cho trí tuệ, phẩm hạnh đoan trang và lòng thương dân của Thánh Mẫu.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều khách hành hương lần đầu đi qua Đèo Ngang thường nghĩ rằng tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh chỉ tập trung ở vùng châu thổ Bắc Bộ như Phủ Dầy (Ninh Bình mới, tức Nam Định cũ) hay Phủ Tây Hồ (Hà Nội) và xứ Thanh với Đền Sòng Sơn. Thực tế, dãy Hoành Sơn từ thế kỷ 16 tới thế kỷ 18 là phên giậu cực nam của Đàng Ngoài và là trạm dừng chân bắt buộc trên con đường thiên lý Bắc Nam. Ngôi đền dưới chân Đèo Ngang chính là cột mốc thiêng đánh dấu sự lan tỏa của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh từ Bắc Bộ vượt qua dãy Hoành Sơn để đi vào vùng đất Thuận Quảng của Đàng Trong.

IIHơn Bốn Thế Kỷ Bên Đường Thiên Lý Bắc Nam

Lịch sử Đền Thánh Mẫu Liễu Hạnh dưới chân Đèo Ngang gắn liền với lịch sử mở cõi và giao thông trên con đường cái quan xuyên Việt. Theo hồ sơ di tích của ngành văn hóa địa phương và các bản tin trên Báo Nhân Dân, Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, ngôi đền được nhân dân dựng lên từ năm Đinh Tỵ (1557), tức năm Thiên Hựu thứ nhất đời vua Lê Anh Tông triều Hậu Lê, ngay trên nền quán nước xưa của Thánh Mẫu.

Một năm sau mốc khởi dựng ấy, vào năm Mậu Ngọ (1558), Đoan Quận công Nguyễn Hoàng vượt biển qua cửa Roòn và dãy Hoành Sơn vào trấn thủ đất Thuận Hóa, mở đầu cơ nghiệp hai thế kỷ của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Suốt thời kỳ phân tranh Trịnh Nguyễn lấy sông Gianh và dãy Hoành Sơn làm giới tuyến, rồi sang thời Tây Sơn và triều Nguyễn thống nhất sơn hà, ngôi đền nhỏ dưới chân Đèo Ngang luôn là chốn dừng chân cầu bình an của quan quân, sứ thần, sĩ tử vào kinh ứng thí và các đoàn thương thuyền ghé vịnh Hòn La tránh bão.

  • 1557Khởi dựng ngôi đền dưới chân Đèo Ngang
    Theo hồ sơ di tích địa phương, đền được lập năm Đinh Tỵ niên hiệu Thiên Hựu thứ nhất đời vua Lê Anh Tông trên nền quán nước truyền thuyết của Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại thôn Vĩnh Sơn.
  • Thế kỷ 17 tới 18Lan tỏa tín ngưỡng thờ Mẫu qua cõi Hoành Sơn
    Các triều vua Hậu Lê liên tiếp ban sắc phong cho Thánh Mẫu Liễu Hạnh các mỹ tự như Mã Hoàng Công Chúa và Chế Thắng Hòa Diệu Đại Vương, đưa ngôi đền dưới chân đèo thành điểm tựa tâm linh bên đường thiên lý.
  • 1833Vua Minh Mạng dựng Hoành Sơn Quan trên đỉnh đèo
    Tháng 3 năm Quý Tỵ niên hiệu Minh Mạng thứ 14 (1833), triều Nguyễn cho xây dựng cửa ải Hoành Sơn Quan trên đỉnh Đèo Ngang, kết nối với Đền Mẫu Liễu Hạnh ở chân đèo thành một chỉnh thể trấn ải và tâm linh.
  • Cuối thế kỷ 19 tới đầu thế kỷ 20Các đợt tu bổ bằng đá ong và vôi vữa cổ truyền
    Cư dân làng Vĩnh Sơn và khách thập phương nhiều lần góp công trùng tu ngôi đền bằng vật liệu đá ong, gạch nung và vôi hàu chịu được gió bão vùng ven biển.
  • 1996Phục dựng và tôn tạo trên nền móng cổ
    Sau nhiều thập niên chịu tác động của thiên tai và thời gian làm hư hại các cấu kiện gỗ, nhân dân địa phương cùng chính quyền tiến hành phục dựng, tôn tạo lại Tiền đền, Hậu đền và hệ thống cổng bình phong trên nền móng cũ.
  • 2000Xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh
    Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình cũ ban hành quyết định công nhận Đền Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại xã Quảng Đông là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
  • 2024 tới 2025Điểm du lịch cấp tỉnh và điều chỉnh địa giới hành chính
    Tháng 10 năm 2024, đền được công nhận là Điểm du lịch văn hóa tâm linh cấp tỉnh. Từ tháng 7 năm 2025, theo Nghị quyết 202/2025/QH15 và Nghị quyết 1680/NQ-UBTVQH15, di tích thuộc xã Phú Trạch, tỉnh Quảng Trị.
Theo sử liệu

Đặt trong mạch địa lịch sử của Đèo Ngang, Đền Mẫu Liễu Hạnh có mối liên hệ mật thiết với di tích Hoành Sơn Quan nằm trên đỉnh đèo cách đó không xa. Năm Minh Mạng thứ 14 (1833), nhà vua cho xây cửa ải bằng đá cao hơn bốn mét trên sống núi cao nhất của đèo, đặt biền binh canh giữ đường thiên lý. Các bậc tao nhân mặc khách như Bà Huyện Thanh Quan, vua Thiệu Trị, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát khi vượt Đèo Ngang đều để lại những vần thơ cảm hoài trước cảnh núi non trùng điệp. Nếu Hoành Sơn Quan ở trên đỉnh đèo đại diện cho uy quyền phòng thủ của vương triều, thì Đền Mẫu Liễu Hạnh ở dưới chân đèo lại đại diện cho sự chở che mềm mại, từ bi của người mẹ tâm linh đối với muôn dân trăm họ mỗi khi vượt qua con đèo hiểm trở bậc nhất miền Trung.

IIIKiến Trúc Đá Ong, Bình Phong Tam Quan Và Điện Thờ Tam Tòa

Không mang vẻ đồ sộ của các phủ lớn đồng bằng Bắc Bộ, Đền Thánh Mẫu Liễu Hạnh dưới chân Đèo Ngang mang dáng dấp cô đọng, vững chãi của kiến trúc đền miếu miền Trung vùng ven biển. Về diện tích tổng thể của khu vực kiến trúc chính, các nguồn tư liệu ghi nhận có sự chênh lệch nhỏ: một số bài khảo tả du lịch địa phương ghi diện tích khuôn viên đền khoảng 335 mét vuông, trong khi Báo Nhân Dân và Cổng thông tin du lịch ghi diện tích khoảng 350 mét vuông. Toàn bộ công trình được bố cục đăng đối theo một trục thần đạo thẳng tắp, nâng dần độ cao từ mặt đường chân đèo lên sườn đồi tựa vào núi Hoành Sơn.

Vật liệu làm nên nét riêng của ngôi đền là sự kết hợp giữa đá ong, đá xanh nguyên khối, gạch nung và vữa vôi truyền thống. Ở vùng chân núi Hoành Sơn quanh năm đón gió mùa đông bắc mang hơi muối biển và gió phơn tây nam khô nóng, những bức tường xây bằng đá ong và gạch dày giúp không gian nội điện giữ được sự mát mẻ, thâm nghiêm và bền vững trước mưa bão. Trên các bờ nóc, bờ quyết, trụ biểu và bức bình phong, các nghệ nhân miền Trung sử dụng kỹ thuật đắp nổi và ghép sành sứ màu rực rỡ, tạo nên những đồ án tứ linh (long, lân, quy, phụng) và tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai) uốn lượn sinh động.

Cổng đền và bức bình phong cổ

Mở đầu trục thần đạo là cổng ngoài dẫn vào bức bình phong xây gạch vữa đắp nổi hình long mã và cuốn thư, đóng vai trò cản luồng gió chướng thổi thẳng từ biển vào nội tự và phân định ranh giới phàm thánh.

Cổng tam quan và đôi trụ đầu lân

Nằm phía sau bình phong là cổng tam quan xây kiểu trụ biểu vươn cao, hai bên lối vào sân chầu có đôi trụ đắp nổi hình nghê lân chầu hướng vào trục chính với đường nét khỏe khoắn.

Đền Tiền (Tiền đường)

Tòa nhà phía trước lợp ngói âm dương, bờ nóc đắp lưỡng long chầu nguyệt. Bên trong đặt hương án lớn, ban thờ Công Đồng Tứ Phủ, Ngũ Vị Tôn Ông và các ban phối thờ chư vị quan lớn, chầu bà, ông hoàng.

Đền Hậu (Chính điện Tam Tòa Thánh Mẫu)

Nếp nhà trong cùng nằm ở cốt nền cao nhất, là cung cấm trang nghiêm thờ Tam Tòa Thánh Mẫu gồm Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên (Thánh Mẫu Liễu Hạnh) ở chính giữa, Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn và Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ ở hai bên.

Hệ thống hoành phi, câu đối và đồ tự khí

Lưu giữ các bức đại tự, câu đối ca ngợi công đức Mẫu Nghi Thiên Hạ và cảnh sắc Hoành Sơn, cùng hệ thống khám thờ sơn son thếp vàng, ngai thờ, sắc phong phục chế và đồ tế khí cổ truyền.

Bước qua khoảng sân gạch nhỏ nối giữa cổng tam quan và thềm Đền Tiền, quý vị sẽ nhận ra cách tổ chức không gian nối kết chặt chẽ giữa hai tòa Đền Tiền và Đền Hậu. Ở Đền Tiền, không gian mở thoáng để đón khách thập phương dâng hương bái vọng và cử hành các nghi thức tế lễ tập thể. Khi bước vào Đền Hậu, ánh sáng dịu hẳn xuống, chỉ còn ánh đèn dầu và sắc đỏ, sắc xanh, sắc trắng của ba pho tượng Tam Tòa Thánh Mẫu ngự trong khám chạm lọng. Phía dưới ban Mẫu còn có ban thờ Cô, thờ Cậu và ban Ngũ Hổ dưới gầm hương án, tuân thủ đầy đủ quy thức bài trí của một ngôi đền thuộc hệ thống Tứ phủ.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu lịch sử và đâu là kiến giải địa lý hình thế.

Thế đất và hướng

Xét trên đại cục sơn hà của miền Trung Việt Nam, dãy Hoành Sơn là một chi mạch lớn từ đại ngàn Trường Sơn đâm ngang ra biển Đông, tạo thành bức trường thành đá tự nhiên ngăn cách hai vùng đồng bằng Hà Tĩnh và Quảng Trị Bắc (Quảng Bình cũ). Đền Thánh Mẫu Liễu Hạnh tọa lạc ở tọa độ 17,9348 độ vĩ Bắc và 106,4332 độ kinh Đông, nằm đúng vào điểm kết huyệt ở sườn nam chân Đèo Ngang, nơi thế núi vừa từ đỉnh cao hơn hai trăm năm mươi mét hạ thấp dần xuống bình nguyên ven biển thôn Vĩnh Sơn. Trong phép tầm long điểm huyệt, vị trí chân đèo nơi mạch núi dừng lại gặp mặt nước phẳng được gọi là thế sơn cước hạ bình dương, tức chân núi bước xuống đất bằng, giúp hóa giải sự sát phạt hiểm trở của vách đá cao thành sinh khí hiền hòa, tụ lại để che chở cho xóm làng.

Về tọa hướng và tứ tượng, ngôi đền kết cục theo thế chuẩn mực tựa sơn hướng thủy, cụ thể là lưng tựa vào vách núi Hoành Sơn vững chãi ở phía bắc và tây bắc làm hậu chẩm (chỗ dựa sau lưng), mặt chính mở về phương nam chếch đông nam nhìn ra vùng biển Đông rộng lớn. Ngay trước mặt đền là hồ nước ngọt rộng của xã Quảng Đông cũ (thường gọi là hồ Bàu Sen hay hồ Quảng Đông), đóng vai trò nội minh đường tụ thủy, giữ cho khí mạch từ trên sườn núi đổ xuống không bị trôi tuột ra biển. Xa hơn về phía đông nam là vịnh biển Vũng Chùa, Đảo Yến và cụm đảo Hòn La làm ngoại minh đường và tiền án chắn sóng gió đại dương. Hai bên tả hữu có các nhánh đồi thấp của dãy Hoành Sơn vươn ra ôm bọc như hai cánh tay tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, đặc biệt cánh Thanh Long phía đông vươn dài ra mũi Rồng (Vũng Chùa) tạo thế rồng chầu hổ phục vô cùng đắc cách.

VLễ Hội Tháng Ba Và Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Vùng Chân Đèo

Hằng năm, Đền Thánh Mẫu Liễu Hạnh dưới chân Đèo Ngang là tâm điểm hành hương lớn của cư dân vùng bắc Quảng Trị, nam Hà Tĩnh và du khách trên hành trình thiên lý Bắc Nam. Kỳ lễ hội chính của đền diễn ra từ mùng 1 đến mùng 3 tháng 3 âm lịch, trùng với tiết lễ Tháng Ba giỗ Mẫu (ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch là ngày kỵ của Thánh Mẫu Liễu Hạnh theo truyền thống Đạo Mẫu toàn quốc). Vào dịp này, chính quyền và nhân dân địa phương tổ chức tuần lễ văn hóa du lịch Đèo Ngang với đầy đủ nghi thức cổ truyền trang trọng.

Các kỳ lễ tiết chính trong năm tại Đền Thánh Mẫu Liễu Hạnh dưới chân Đèo Ngang. Nguồn: Tổng hợp từ hồ sơ di tích xã Quảng Đông cũ và Báo Nhân Dân, Báo Văn Hóa..
Thời gian âm lịchTên kỳ lễNội dung và nghi thức chính
Mùng 1 đến mùng 3 tháng 3Đại lễ giỗ Thánh Mẫu Liễu Hạnh (Chính hội)Lễ rước kiệu Mẫu, lễ mộc dục, lễ dâng hương hoa phẩm vật, đọc chúc văn tưởng niệm công đức Thánh Mẫu, thực hành nghi lễ hầu đồng (hát văn hầu Thánh) và các hội thi văn hóa dân gian vùng biển Quảng Đông.
Mùng 1 tới rằm tháng GiêngLễ cầu an và khai xuân đầu nămNhân dân địa phương, ngư dân vùng biển Vũng Chùa, Hòn La và khách đi đường thiên lý về dâng hương cầu quốc thái dân an, thuận buồm xuôi gió, mở hàng buôn bán hanh thông.
Rằm tháng 7 và rằm tháng 8Lễ Vu Lan báo hiếu và tiệc Mẫu mùa thuTổ chức khóa lễ cầu siêu độ cho bá tánh, tưởng niệm tiền nhân khai khẩn vùng chân núi Hoành Sơn và dâng lễ tạ ơn Tam Tòa Thánh Mẫu.
Tháng Chạp cuối nămLễ tạ thần cuối nămCon hương đệ tử khắp nơi về đền dâng lễ tạ ơn Thánh Mẫu đã phù hộ một năm bình an và sửa sang nhang đèn đón Tết Nguyên đán.

Nét đặc sắc nhất trong những ngày hội tháng Ba dưới chân Đèo Ngang là sự giao thoa giữa nghi lễ cung văn, hầu đồng của Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ (Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO ghi danh năm 2016) với lễ tế cổ truyền của cư dân vùng biển miền Trung. Tiếng đàn nguyệt, tiếng phách hát văn ngân vang dưới bóng núi Hoành Sơn hòa cùng tiếng sóng biển Đông tạo nên một không gian linh thiêng, nối kết tâm thức hướng về nguồn cội của người dân hai phía nam bắc Đèo Ngang.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn Vĩnh Sơn, xã Phú Trạch (xã Quảng Đông cũ, huyện Quảng Trạch cũ, tỉnh Quảng Bình cũ), tỉnh Quảng Trị
Đường tới
Đền nằm ngay cạnh tuyến Quốc lộ 1A cũ dưới chân phía nam Đèo Ngang (cách cửa phía nam hầm đường bộ Đèo Ngang khoảng 1,5 km), thuộc thôn Vĩnh Sơn, xã Phú Trạch, tỉnh Quảng Trị (xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình cũ). Từ trung tâm phường Đồng Hới đi theo Quốc lộ 1A về phía bắc khoảng 65 km, hoặc từ trung tâm Hà Tĩnh đi về phía nam khoảng 75 km là tới đền.
Toạ độ
17.9348, 106.4332
Khi tới nơi

Khi tới chiêm bái Đền Thánh Mẫu Liễu Hạnh dưới chân Đèo Ngang, quý vị lưu ý chọn trang phục lịch sự, kín đáo, bước qua cổng tam quan theo lối cửa bên và giữ sự trang nghiêm nơi cung cấm Tam Tòa Thánh Mẫu. Khi sắp lễ dâng Mẫu, quý vị nên ưu tiên hoa tươi, trầu cau, bánh oản, trái cây thanh khiết và hạn chế đốt nhiều vàng mã để giữ gìn không gian trong lành dưới chân núi Hoành Sơn. Sau khi lễ Mẫu, quý vị có thể kết hợp lên đỉnh đèo thăm di tích Hoành Sơn Quan và ghé vùng biển Vũng Chùa, Đảo Yến nằm cách đền chỉ vài cây số về phía đông nam.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Thánh Mẫu Liễu Hạnh (Đèo Ngang)

Contribute photos, information or video for Liễu Hạnh Holy Mother Temple at Ngang Pass

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Thánh Mẫu Liễu Hạnh dưới chân Đèo Ngang thờ vị thần nào?

Đền thờ chính Thánh Mẫu Liễu Hạnh (Đệ Nhị Tiên Chúa Quỳnh Hoa, tức Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên), vị thần đứng đầu hệ thống Tam tòa Thánh Mẫu trong tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam và là một trong Tứ bất tử của dân tộc. Ngoài ra trong đền còn phối thờ Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải Phủ và hội đồng các quan trong hệ thống Tứ phủ.

Ngôi đền được khởi dựng từ năm nào và gắn với truyền thuyết gì?

Theo hồ sơ di tích địa phương, đền được khởi dựng vào năm Đinh Tỵ 1557 dưới triều vua Lê Anh Tông nhà Hậu Lê. Ngôi đền gắn liền với truyền thuyết Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong lần giáng trần đã hóa thân thành người thiếu nữ mở quán nước bên chân Đèo Ngang để giúp đỡ khách bộ hành, xướng họa thơ văn thử tài văn nhân và trừng trị kẻ quyền quý ngạo mạn.

Sau đợt sáp nhập tỉnh thành năm 2025, Đền Mẫu Liễu Hạnh Đèo Ngang thuộc địa phương nào?

Trước tháng 7 năm 2025, đền thuộc thôn Vĩnh Sơn, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Sau khi thực hiện Nghị quyết số 202/2025/QH15 về hợp nhất tỉnh và Nghị quyết số 1680/NQ-UBTVQH15 về sắp xếp cấp xã, xã Quảng Đông hợp nhất với các xã Quảng Phú, Quảng Kim, Quảng Hợp thành xã Phú Trạch thuộc tỉnh Quảng Trị mới.

Lễ hội chính của Đền Mẫu Liễu Hạnh Đèo Ngang diễn ra vào thời gian nào?

Lễ hội chính của đền diễn ra hằng năm từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch, trọng tâm là ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch (ngày giỗ Thánh Mẫu Liễu Hạnh). Trong dịp lễ hội có nghi thức rước Mẫu, tế lễ cổ truyền, diễn xướng hát văn hầu đồng và các hoạt động văn hóa dân gian vùng ven biển Hoành Sơn.

Xung quanh Đền Mẫu Liễu Hạnh Đèo Ngang có những di tích và danh thắng nào kết nối?

Ngôi đền nằm trong quần thể di tích và danh thắng nổi tiếng vùng chân núi Hoành Sơn. Ngay phía trên đỉnh Đèo Ngang là cửa ải cổ Hoành Sơn Quan xây dựng năm Minh Mạng thứ 14 (1833), còn cách đền vài cây số về phía đông nam là thắng cảnh biển Vũng Chùa, Đảo Yến, mũi Rồng và vịnh Hòn La.

›Đọc Tiếp