VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Sùng Khánh

Sùng Khánh Tự, Chùa Làng Nùng, Sùng Khánh Diên Linh

Ngôi cổ tự thời Trần khởi dựng năm Bính Thân (1356) trên đồi cao bên bờ hữu ngạn sông Lô, nơi lưu giữ tấm bia đá Bảo vật quốc gia khắc năm Đại Trị thứ 10 (1367) khẳng định mạch nguồn Phật giáo và cương vực biên viễn Đại Việt.

Khởi dựng
1356
mùng 2 tháng Giêng năm Bính Thân đời vua Trần Dụ Tông
Bảo vật
Bia đá năm 1367
công nhận Bảo vật quốc gia đợt 2 ngày 30/12/2013 theo Quyết định 2599/QĐ-TTg
Xếp hạng
Di tích quốc gia
xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 05/11/1993

Men theo Quốc lộ 2 chạy dọc thung lũng sông Lô ở địa phận xã Vị Xuyên (khu vực xã Đạo Đức cũ, cách trung tâm đô thị Hà Giang cũ chừng chín cây số về phía nam), quý vị rẽ qua cây cầu nhỏ dẫn vào bản làng trù phú của đồng bào Tày và Nùng dưới chân núi Pú Chiến. Đi hết con đường lát đá uốn quanh sườn đồi thoai thoải rợp bóng cây xanh của thôn Làng Nùng (Nà Mầu), một ngôi chùa nhỏ nhắn, tĩnh mặc hiện ra trên đỉnh đồi cao chừng ba mươi mét nhìn xuống cánh đồng lúa và dòng sông Lô xanh biếc.

Đó là Chùa Sùng Khánh (dân gian trong vùng gọi là Chùa Làng Nùng), một trong những di tích Phật giáo thời Trần quý hiếm bậc nhất nơi biên cương phía Bắc của Tổ quốc. Giữa không gian khiêm nhường của ngôi chùa miền sơn cước ấy đang lưu giữ một báu vật vô giá của lịch sử Việt Nam: Bảo vật quốc gia Bia chùa Sùng Khánh dựng năm Đinh Mùi (1367), tấm bia đá nguyên khối gần bảy trăm năm tuổi khắc ghi việc hoàng tộc nhà Trần cùng thủ lĩnh bản địa chung tay dựng chùa và giữ yên cõi bờ.

IChư Quân Dịch Thủ Nguyễn Thêm (Sư Cụ Hoàng Y) Và Mạch Thiền Thời Trần Nơi Biên Viễn

Chùa có tên chữ Hán khắc rõ trên trán tấm bia đá thế kỷ 14 là Sùng Khánh Tự (崇慶寺), thuộc dòng chảy Phật giáo thời Trần (Phật giáo). Hai chữ Sùng Khánh mang hàm nghĩa tôn sùng điều phúc khánh, cầu cho quốc gia hưng thịnh và muôn dân nơi miền biên ải được hưởng ân đức từ bi của Phật pháp. Trong đời sống cộng đồng tại địa phương, do chùa nằm gắn liền với bản làng của người Nùng và người Tày tại thôn Làng Nùng (còn gọi là khu vực Nà Mầu, xã Đạo Đức cũ), nhân dân vẫn quen gọi một cách thân thuộc là Chùa Làng Nùng.

Khác với những ngôi đại tự ở kinh thành Thăng Long hay vùng đồng bằng Bắc Bộ do các bậc cao tăng triều đình trực tiếp trụ trì, Chùa Sùng Khánh được khai sáng bởi một vị thủ lĩnh quân sự và hành chính bản địa đã quy y cửa Phật: Chư quân dịch thủ Nguyễn Thêm (có bản dịch văn bia phiên âm là Nguyễn Ấn), người được nhân dân tôn kính gọi là Sư cụ Hoàng Y (vị sư mặc áo vàng). Sau khi ông viên tịch, người em trai kế nghiệp cai quản vùng đất này là Phụ đạo Nguyễn Ích cùng phu nhân là công chúa nhà Trần (con gái một vị thân vương tôn thất triều Trần được gả lên vùng biên viễn) đã tiếp tục mở rộng ngôi chùa và xin triều đình ban văn bia ghi công đức.

Theo giáo nghĩa

Sự ra đời và tồn tại của Chùa Sùng Khánh cùng người anh em song sinh ở tả ngạn sông Lô là Chùa Bình Lâm là minh chứng sống động nhất cho tinh thần nhập thế hộ quốc của Phật giáo thời Trần. Dưới triều đại nhà Trần, sau khi đánh thắng quân Nguyên Mông và thống nhất tư tưởng trong dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, các vị vua Trần đã thực thi chính sách nhu viễn vô cùng khéo léo đối với các vùng biên cương: một mặt gả công chúa hoàng tộc cho các vị phụ đạo, thổ quan người Tày Nùng (như dòng họ Nguyễn ở vùng Trường Phú Linh và Giang Thông thuộc Vị Xuyên), mặt khác dùng ánh sáng từ bi của đạo Phật làm sợi dây gắn kết tâm linh giữa triều đình trung ương và cư dân miền núi. Tại Chùa Sùng Khánh, vị thủ lĩnh giữ đất cũng chính là người khoác áo nhà tu, và ngôi chùa trở thành trung tâm giáo hóa đạo đức cho cả một vùng thung lũng sông Lô.

Theo sử liệu

Toàn bộ lai lịch khởi dựng chùa được khắc chạm xác thực trên tấm bia đá Sùng Khánh tự bi minh tịnh tự dựng ngày 26 tháng 3 năm Đinh Mùi niên hiệu Đại Trị thứ 10 (1367). Tác giả soạn bài văn bia này không phải một người địa phương mà là một vị quan học giả từ kinh sư Thăng Long lên kinh lý vùng biên giới: ông Tạ Thúc Ngao (tự là Sở Khanh), giữ chức Phụng độc học sinh thư sử trực thủ dưới triều vua Trần Dụ Tông.

Theo lời văn bia của Tạ Thúc Ngao, vào ngày mùng 2 tháng Giêng năm Bính Thân (1356) niên hiệu Thiệu Phong thứ 16 đời vua Trần Dụ Tông, vị Chư quân dịch thủ họ Nguyễn (tức Nguyễn Thêm / Sư cụ Hoàng Y) đã phát tâm chọn ngọn đồi đẹp bên bờ sông Lô tại đất Hoằng Nông để dựng chùa thờ Phật, đúc tượng và cắt ruộng đất cung tiến làm hương hỏa. Sau khi Sư cụ Hoàng Y qua đời vào năm Bính Ngọ (1366), người em là Phụ đạo Nguyễn Ích cùng phu nhân (ái nữ của bậc vương hầu nhà Trần) đã tiếp tục cúng thêm ruộng nương, nô tì trông coi chùa và thỉnh quan triều đình Tạ Thúc Ngao viết bài minh khắc vào đá để lưu truyền muôn đời.

Chỗ hay hiểu lầm

Khi đọc các bài viết phổ thông về Chùa Sùng Khánh, quý vị có thể bắt gặp ba tên gọi nhân vật khác nhau là Nguyễn Thêm (Sư cụ Hoàng Y), Nguyễn Ấn và Nguyễn Ích, dẫn đến thắc mắc không biết ai mới là người dựng chùa. Sự khác biệt này xuất phát từ cách phiên âm chữ Hán cổ và hai thế hệ kế tiếp nhau được chép ngay trong văn bia năm 1367: người anh cả trực tiếp khởi dựng chùa năm 1356 và xuất gia mặc áo vàng là Nguyễn Thêm (một số bản dịch Hán Nôm đọc chữ Hán tương tự là Nguyễn Ấn, tục gọi Sư cụ Hoàng Y), còn người em trai nối chức phụ đạo đứng ra dựng bia năm 1367 và cưới công chúa nhà Trần là Nguyễn Ích. Cả hai anh em đều thuộc dòng họ thổ quan họ Nguyễn có công giữ yên bờ cõi Vị Xuyên thời Trần.

IIGần Bảy Trăm Năm Lịch Sử Từ Triều Trần Qua Triều Lê, Tây Sơn Đến Nay

Khởi dựng từ mùa xuân năm Bính Thân (1356), Chùa Sùng Khánh đã đi qua gần bảy thế kỷ lịch sử. Dù phần kiến trúc gỗ nguyên thủy thời Trần đã bị mai một qua mưa nắng vùng biên ải, mạch thờ tự trên đỉnh đồi thôn Làng Nùng cùng tấm bia đá năm 1367 và quả chuông đồng cổ vẫn đứng vững như một cột mốc văn hóa bất diệt bên dòng sông Lô.

Theo sử liệu

Khi đối chiếu các nguồn tư liệu viết về quả chuông đồng cổ đang treo tại Chùa Sùng Khánh và mốc xếp hạng di tích quốc gia, thư viện ghi nhận hai điểm nguồn vênh nhau và liệt kê đầy đủ cả hai luồng thông tin. Thứ nhất, về niên đại quả chuông đồng cổ tại chùa (cao 0,90 m, đường kính miệng khoảng 0,50 m đến 0,62 m): một luồng tài liệu nghiên cứu và giới thiệu di tích ghi nhận quả chuông đồng hiện còn tại chùa được đúc vào năm Cảnh Thịnh thứ 5 (1797) dưới triều Tây Sơn, trong khi hồ sơ của một số cơ quan báo chí và nghiên cứu Phật học lại chép quả chuông đồng tại chùa có khắc dòng chữ Hán Sùng Khánh Diên Linh đúc vào thời Lê Trung hưng, niên hiệu Vĩnh Thịnh (1705 hoặc 1707) đời vua Lê Dụ Tông nhân dịp trùng tu lớn ngôi chùa. Điều này cho thấy qua thế kỷ 18 (từ thời Lê Dụ Tông đến thời Tây Sơn), Chùa Sùng Khánh đã trải qua những đợt trùng tu và chú tạo pháp khí rất quan trọng.

Thứ hai, về mốc xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia: hồ sơ di sản ghi nhận Chùa Sùng Khánh được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào ngày 05 tháng 11 năm 1993 (một số bài nghiên cứu tổng hợp về Phật giáo Hà Giang cũ có nhắc thêm mốc bổ sung hồ sơ năm 1999). Đến ngày 30 tháng 12 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2599/QĐ-TTg công nhận Bia chùa Sùng Khánh là Bảo vật quốc gia (đợt 2). Về mặt địa giới hành chính, kể từ sau Nghị quyết 202/2025/QH15 và Nghị quyết 1684/NQ-UBTVQH15 năm 2025, tỉnh Hà Giang cũ hợp nhất với tỉnh Tuyên Quang thành tỉnh Tuyên Quang mới, và xã Đạo Đức cũ được sáp nhập cùng thị trấn Vị Xuyên và vùng phụ cận để thành lập xã Vị Xuyên mới.

  • 1356Khởi dựng Chùa Sùng Khánh
    Ngày mùng 2 tháng Giêng năm Bính Thân (niên hiệu Thiệu Phong thứ 16 đời vua Trần Dụ Tông), Chư quân dịch thủ Nguyễn Thêm (tức Sư cụ Hoàng Y) khởi công xây dựng chùa trên đồi cao bên bờ sông Lô.
  • 1367Khắc dựng Bia đá chùa Sùng Khánh
    Ngày 26 tháng 3 năm Đinh Mùi (niên hiệu Đại Trị thứ 10 đời vua Trần Dụ Tông), Phụ đạo Nguyễn Ích cùng phu nhân là công chúa nhà Trần cho dựng tấm bia đá Sùng Khánh tự bi minh tịnh tự do quan triều đình Tạ Thúc Ngao soạn văn bia.
  • Thế kỷ 18Trùng tu chùa và đúc chuông đồng cổ
    Ngôi chùa được nhân dân và các vị thổ quan địa phương trùng tu lớn và đúc chuông đồng cao 0,90 m (tư liệu ghi nhận niên đại đúc chuông vào năm Vĩnh Thịnh 1705 - 1707 đời Lê Dụ Tông hoặc năm Cảnh Thịnh thứ 5 tức 1797 thời Tây Sơn).
  • 1989Phục dựng ngôi chùa trên nền móng cũ
    Sau thời gian kiến trúc gỗ cổ bị hủy hoại bởi thời gian, nhân dân thôn Làng Nùng và ngành văn hóa địa phương đã dựng lại ngôi chùa bảo vệ tấm bia đá thời Trần và quả chuông đồng cổ.
  • 1993Xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
    Ngày 05 tháng 11 năm 1993, Bộ Văn hóa và Thông tin ban hành quyết định xếp hạng Chùa Sùng Khánh là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
  • 2013Công nhận Bảo vật quốc gia Bia chùa Sùng Khánh
    Ngày 30 tháng 12 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2599/QĐ-TTg công nhận Bia chùa Sùng Khánh (cùng đợt với Chuông chùa Bình Lâm) là Bảo vật quốc gia đợt 2.
  • 2025Thuộc xã Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang mới
    Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 và Nghị quyết số 1684/NQ-UBTVQH15 năm 2025, tỉnh Hà Giang hợp nhất vào tỉnh Tuyên Quang, xã Đạo Đức cũ sáp nhập thành xã Vị Xuyên thuộc tỉnh Tuyên Quang.

IIIKiến Trúc Chùa Đồi Và Bảo Vật Quốc Gia Bia Đá Năm 1367

Kiến trúc hiện hữu của Chùa Sùng Khánh nằm gọn trên mặt bằng đỉnh đồi rộng khoảng hơn hai trăm mét vuông, được tôn tạo lại khang trang trên đúng nền móng cổ thời Trần với diện tích gian thờ chính khoảng 26 mét vuông, tường xây gạch, mái lợp ngói mũi hài uốn đao cong theo thức cổ truyền Bắc Bộ. Không gian bên trong chính điện tuy giản dị nhưng ấm cúng và trang nghiêm, ở giữa đặt ban thờ Phật Tam Bảo, hai bên đặt hai hiện vật gốc vô giá đã đi qua hàng trăm năm lịch sử là Bảo vật quốc gia Bia chùa Sùng Khánh (bên phải) và quả chuông đồng cổ (bên trái).

Tâm điểm khảo cổ và mỹ thuật của toàn bộ di tích là tấm bia đá Sùng Khánh tự bi minh tịnh tự dựng năm Đại Trị thứ 10 (1367). Theo hồ sơ Bảo vật quốc gia của Cục Di sản văn hóa (dsvh.gov.vn), bia được tạc từ đá xanh nguyên khối đặt trên lưng một cụ rùa đá cũng tạc nguyên khối. Phần thân bia có chiều cao 90 cm, chiều rộng 47 cm đến 48 cm, độ dày 11 cm, còn phần đế rùa đá dài 95 cm, rộng 57 cm, cao 19 cm với dáng đầu rồng ngẩng cao khỏe khoắn đặc trưng của điêu khắc thời Trần. Điều làm giới nghiên cứu mỹ thuật cổ kinh ngạc là trán bia hình cánh cung được chia làm 3 ô chạm nổi vô cùng độc đáo, chưa từng bắt gặp ở bất kỳ tấm bia thời Trần nào khác tại Việt Nam: ô chính giữa chạm hình Đức Phật A Di Đà ngồi thiền định trên tòa sen với hai vị Bồ Tát đứng hầu hai bên, còn hai ô bên tả hữu chạm hình đôi rồng thời Trần uốn lượn mềm mại đang bay hướng chầu về tòa sen của Đức Phật.

Bảo vật quốc gia Bia chùa Sùng Khánh (1367)

Thân bia đá xanh cao 90 cm, rộng 47 - 48 cm, dày 11 cm đặt trên lưng rùa đá dài 95 cm, rộng 57 cm, cao 19 cm. Trán bia chia 3 ô chạm nổi Phật A Di Đà tọa đài sen cùng hai thị giả và đôi rồng chầu độc nhất vô nhị trong mỹ thuật thời Trần.

Bài minh văn 18 dòng, 436 chữ Hán Nôm

Do quan triều đình Tạ Thúc Ngao (hiệu Sở Khanh) soạn ngày 26 tháng 3 năm Đinh Mùi (1367), khắc 18 dòng với 436 chữ. Văn bia không chỉ ghi việc dựng chùa năm 1356 và công đức của dòng họ Nguyễn cùng công chúa nhà Trần, mà còn lưu giữ những chữ Nôm cổ ghi tên đất, tên người bản địa vùng Vị Xuyên.

Quả chuông đồng cổ cao 0,90 m

Treo bên trái chính điện, cao khoảng 90 cm, quai đúc hình đôi rồng đấu lưng, trên thân có khắc bài minh chữ Hán ghi việc trùng tu chùa và cung tiến của các thổ quan, tín nữ địa phương (tư liệu ghi niên đại thời Lê Trung hưng 1705 - 1707 hoặc thời Tây Sơn năm Cảnh Thịnh thứ 5 tức 1797).

Đế bia rùa đá thời Trần

Tạc từ khối đá xanh liền khối dài 95 cm, đầu rùa vươn cao, sống mũi nổi rõ, bốn chân đạp vững chãi xuống nền đất, phản ánh phong cách tạo hình khỏe khoắn, khoáng đạt của điêu khắc đá Đại Việt thế kỷ 14.

Ngôi chính điện và đường bậc đá lên đồi

Hệ thống bậc đá dẫn từ chân đồi thôn Làng Nùng lên đỉnh đồi rợp bóng cây cổ thụ, đưa khách hành hương tách khỏi nhịp sống thường nhật trước khi bước vào gian tam bảo.

Theo sử liệu

Về mặt ngôn ngữ học và lịch sử địa lý, 436 chữ khắc trên lòng Bia chùa Sùng Khánh là một kho tư liệu Hán Nôm vô giá của thế kỷ 14. Bên cạnh phần văn chữ Hán bác học của học giả kinh sư Tạ Thúc Ngao, văn bia đã dùng chữ Nôm thời Trần để ghi chép chính xác tên các xứ đồng, ngọn núi, dòng sông và tên các gia nô, tín chủ người Tày Nùng được cúng vào chùa tại vùng đất Hoằng Nông, Giang Thông (tức sông Lô) và Trường Phú Linh (tức vùng Phú Linh, Vị Xuyên ngày nay). Cùng với tấm bia chùa Bình Lâm đã thất lạc mà chỉ còn chuông đồng năm 1295, Bia chùa Sùng Khánh năm 1367 là bằng chứng thép bằng đá xanh khẳng định vùng đất Vị Xuyên - Hà Giang (nay thuộc tỉnh Tuyên Quang) đã nằm trong hệ thống hành chính, văn hóa và chữ viết thống nhất của quốc gia Đại Việt từ hơn bảy thế kỷ trước.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền kết hợp với chính lời mô tả địa thế trong bài văn bia năm 1367 của Tạ Thúc Ngao. Thư viện nói rõ để quý vị thấy cách người xưa chọn đất lập chùa nơi biên viễn.

Thế đất và hướng

Ngay trên mặt tấm bia đá năm 1367, học giả Tạ Thúc Ngao đã dùng chính ngôn ngữ phong thủy hình thế thời Trần để miêu tả cục đất của Chùa Sùng Khánh: phía sau chùa có ngọn núi cao đứng sừng sững làm hậu chẩm che chở, phía trước có dòng Giang Thông (tức sông Lô) chảy qua làm dải nước minh đường, thế đất vừa thanh tịnh vừa uy nghiêm như hoa sen nở giữa núi rừng. Kiểm chứng trên bản đồ vệ tinh tại tọa độ vĩ bắc 22,76136 độ và kinh đông 104,99770 độ, lời mô tả từ thế kỷ 14 ấy khớp tuyệt đối với địa hình thực địa của thôn Làng Nùng (xã Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang).

Ngôi chùa tọa lạc trên đỉnh một quả đồi độc lập cao chừng ba mươi mét (đồi Nà Mầu / Làng Nùng), tách ra từ mạch núi lớn Pú Chiến ở phía tây bắc. Dãy núi Pú Chiến trùng điệp phía sau chính là chủ sơn (huyền vũ) giữ vai trò chắn gió lạnh phương bắc và truyền long mạch xuống quả đồi nơi đặt chùa. Mặt chính của Chùa Sùng Khánh mở về hướng Đông và Đông Nam, nhìn thẳng ra cánh đồng thung lũng thôn Làng Nùng bằng phẳng đóng vai trò là nội minh đường, và xa hơn một quãng về phía đông là dòng sông Lô hùng vĩ uốn lượn từ bắc xuống nam làm ngoại minh đường đắc thủy. Đặc biệt, nếu kẻ một đường chim bay qua bên kia bờ tả ngạn sông Lô về hướng đông nam khoảng năm cây số, quý vị sẽ thấy Chùa Bình Lâm tại xã Phú Linh. Hai ngôi cổ tự thời Trần một ở hữu ngạn (Sùng Khánh), một ở tả ngạn (Bình Lâm) đứng đối vọng nhau qua dòng sông Lô như hai trụ biểu tâm linh khóa giữ thủy khẩu và mạch khí cho toàn bộ vùng cửa ngõ biên cương cực Bắc.

VLễ Hội Chùa Sùng Khánh Và Hội Lồng Tồng Rằm Tháng Giêng

Gắn liền với lịch sử khởi dựng chùa vào tháng Giêng năm Bính Thân (1356), hằng năm cứ vào dịp đầu xuân, đặc biệt là ngày mùng 15 tháng Giêng âm lịch (Rằm tháng Giêng), nhân dân các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Kinh tại xã Vị Xuyên (xã Đạo Đức cũ) lại tưng bừng tổ chức Lễ hội Chùa Sùng Khánh kết hợp Hội Lồng Tồng (Hội xuống đồng) dưới chân đồi chùa Làng Nùng.

Các kỳ lễ chính và hoạt động hội xuân tại Chùa Sùng Khánh (thôn Làng Nùng, xã Vị Xuyên). Nguồn: Tổng hợp từ Báo Tuyên Quang, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và hồ sơ lễ hội địa phương..
Thời gian âm lịchNghi thức và hoạt độngNội dung chi tiết
Mùng 1 đến mùng 2 tháng GiêngLễ dâng hương đầu năm và kỷ niệm ngày khai sơnNhân dân địa phương lên đồi chùa dâng hương lễ Phật ngày đầu năm mới, đồng thời tưởng niệm ngày Sư cụ Hoàng Y (Nguyễn Thêm) khởi dựng chùa Sùng Khánh (mùng 2 tháng Giêng năm 1356).
Sáng ngày 15 tháng Giêng (Rằm tháng Giêng)Lễ cầu an tại chùa và nghi thức Tịch điền Lồng TồngCác bậc cao niên và đại diện cộng đồng làm lễ dâng hương hoa, mâm cỗ chay và xôi ngũ sắc tại chính điện Chùa Sùng Khánh cầu quốc thái dân an, sau đó rước lễ xuống cánh đồng dưới chân đồi làm lễ cày ruộng đầu năm (Lồng Tồng).
Cả ngày 15 tháng GiêngPhần hội tung còn, hát Then và trò chơi dân gianTrên cánh đồng thôn Làng Nùng dưới chân đồi chùa diễn ra hội tung còn qua vòng tròn trên cột tre cao, hát Then đàn Tính, hát Cọi, kéo co, đẩy gậy, đi cà kheo và bắn nỏ.
Rằm tháng Tư và Rằm tháng Bảy âm lịchLễ Phật Đản và Lễ Vu LanPhật tử và nhân dân quanh vùng Vị Xuyên về chùa dâng hương tắm Phật dịp Phật Đản và cầu siêu báo hiếu tổ tiên dịp rằm tháng Bảy.

Sự hòa quyện giữa lễ Phật trên đỉnh đồi Sùng Khánh và hội Lồng Tồng (xuống đồng) của người Tày, người Nùng dưới chân đồi tạo nên bản sắc độc nhất vô nhị cho lễ hội nơi đây. Sau khi tiếng chuông đồng thế kỷ 18 ngân vang trên đồi chùa báo hiệu lời chúc phúc của Đức Phật và tiền nhân họ Nguyễn, dưới cánh đồng Làng Nùng, những đường cày đầu tiên được mở ra trong tiếng trống chiêng rộn rã và những quả còn ngũ sắc bay vút lên trời xanh. Đạo Phật từ thời Trần đã đi vào đời sống cư dân miền núi bên dòng sông Lô một cách tự nhiên, bền chặt và gần gũi đúng như thế suốt gần bảy trăm năm qua.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn Làng Nùng (Nà Mầu), xã Vị Xuyên (xã Đạo Đức cũ, huyện Vị Xuyên cũ, tỉnh Hà Giang cũ), tỉnh Tuyên Quang
Đường tới
Từ trung tâm phường Hà Giang (thành phố Hà Giang cũ) đi về phía nam theo Quốc lộ 2 hướng đi Tuyên Quang khoảng 9 km tới địa phận xã Đạo Đức cũ (nay thuộc xã Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang), quý vị rẽ phải qua cầu vào thôn văn hóa Làng Nùng khoảng hơn 1 km là tới chân đồi Chùa Sùng Khánh.
Toạ độ
22.76136, 104.9977
Khi tới nơi

Chùa Sùng Khánh nằm trên đồi cao trong bản văn hóa thôn Làng Nùng, khi tới chiêm bái xin quý vị ăn mặc trang nhã, đi nhẹ bước trên các bậc đá và giữ yên tĩnh nơi chính điện. Đặc biệt, tấm Bia chùa Sùng Khánh năm 1367 là Bảo vật quốc gia bằng đá xanh nguyên bản từ thời Trần, xin quý vị chỉ chiêm ngưỡng bằng mắt, tuyệt đối không chạm tay lên mặt chữ Hán Nôm, không tì đè lên đầu rùa đá và không tự ý dập bia hay gõ vào quả chuông đồng cổ bên trong chùa.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Sùng Khánh

Contribute photos, information or video for Sùng Khánh Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Sùng Khánh được xây dựng vào năm nào và do ai sáng lập?

Theo văn bia khắc năm 1367 tại chùa, Chùa Sùng Khánh được khởi dựng vào ngày mùng 2 tháng Giêng năm Bính Thân (1356) dưới triều vua Trần Dụ Tông. Người sáng lập chùa là vị thủ lĩnh địa phương giữ chức Chư quân dịch thủ tên là Nguyễn Thêm (có bản dịch đọc là Nguyễn Ấn), sau khi xuất gia được nhân dân tôn kính gọi là Sư cụ Hoàng Y.

Bảo vật quốc gia Bia chùa Sùng Khánh có những đặc điểm gì độc đáo?

Bia chùa Sùng Khánh dựng ngày 26 tháng 3 năm Đinh Mùi niên hiệu Đại Trị thứ 10 (1367), cao 90 cm, rộng 47 - 48 cm, dày 11 cm, đặt trên lưng rùa đá nguyên khối. Trán bia chia làm 3 ô chạm nổi hình Phật A Di Đà tọa đài sen cùng hai vị hầu cận và đôi rồng thời Trần chầu vào rất độc đáo. Lòng bia khắc 18 dòng với 436 chữ Hán và chữ Nôm cổ do quan triều đình Tạ Thúc Ngao soạn. Bia được công nhận Bảo vật quốc gia ngày 30 tháng 12 năm 2013.

Ngoài tấm bia đá thời Trần, Chùa Sùng Khánh còn lưu giữ cổ vật nào quý giá?

Bên cạnh tấm bia đá năm 1367, trong chính điện chùa còn lưu giữ một quả chuông đồng cổ cao khoảng 0,90 m có quai rồng tinh xảo. Về niên đại quả chuông này, các nguồn tư liệu ghi nhận hai mốc thuộc thế kỷ 18 là thời Lê Trung hưng niên hiệu Vĩnh Thịnh (1705 - 1707) đời vua Lê Dụ Tông hoặc năm Cảnh Thịnh thứ 5 (1797) thời Tây Sơn.

Chùa Sùng Khánh hiện nay thuộc tỉnh nào và xã nào sau đợt sáp nhập năm 2025?

Trước ngày 1 tháng 7 năm 2025, chùa thuộc thôn Làng Nùng (Nà Mầu), xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 và Nghị quyết số 1684/NQ-UBTVQH15 năm 2025, tỉnh Hà Giang hợp nhất với tỉnh Tuyên Quang thành tỉnh Tuyên Quang mới, đồng thời xã Đạo Đức sáp nhập với thị trấn Vị Xuyên và vùng phụ cận thành xã Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang.

Lễ hội Chùa Sùng Khánh diễn ra vào ngày nào trong năm?

Lễ hội lớn nhất tại Chùa Sùng Khánh diễn ra vào ngày Rằm tháng Giêng (15 tháng Giêng âm lịch) hằng năm, kết hợp giữa nghi thức dâng hương cầu an tại chùa trên đỉnh đồi và Lễ hội Lồng Tồng (xuống đồng) của đồng bào Tày, Nùng dưới cánh đồng thôn Làng Nùng với các trò chơi tung còn, kéo co, đẩy gậy và hát Then.

›Đọc Tiếp