VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Hạ (Tuyên Quang)

Đền Tam Cờ, Hiệp Thuận Linh Từ, Đền Hợp Hòa

Ngôi đền cổ dưới chân núi Là bên bờ hữu ngạn sông Lô, chốn tổ của tín ngưỡng thờ Mẫu xứ Tuyên và là nơi hợp tế của đại lễ rước Mẫu ba đền mỗi độ tháng hai âm lịch.

Khởi dựng
1738 / 1741
thời Hậu Lê, đại trùng tu năm 1878
Thờ phụng
Mẫu Phương Dung
Tam Tòa Thánh Mẫu, Mẫu Thượng Ngàn
Xếp hạng
Quốc gia
Di tích năm 1991, Di sản lễ hội năm 2017

Đi dọc đường Chiến Thắng Sông Lô ở trung tâm phố núi Tuyên Quang, nơi mặt nước sông Lô mở rộng thành một dải lụa xanh phẳng lặng dưới chân núi Là, quý vị sẽ bắt gặp một cổng tam quan cổ kính nổi bật với bốn chữ Hán đắp nổi Hiệp Thuận linh từ. Bước qua ngưỡng cửa ấy, tiếng phố xá lùi lại phía sau để nhường chỗ cho bóng cây đại già, mùi trầm hương ấm áp và những bức chạm gỗ tứ linh ánh lên lớp sơn son thếp vàng đã ngả màu thời gian suốt gần ba thế kỷ.

Đó là Đền Hạ (Tuyên Quang), ngôi đền mà người dân địa phương vẫn quen gọi là Đền Tam Cờ hay Đền Hợp Hòa. Không chỉ là một di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia nằm ngay bên bến nước ngã ba sông xưa, nơi đây còn là hạt nhân kết nối quần thể ba ngôi đền thờ Mẫu danh tiếng bậc nhất vùng thượng lưu sông Lô gồm Đền Hạ, Đền Thượng và Đền Ỷ La, làm nên một không gian lễ hội rước Mẫu độc đáo đã được ghi danh vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

IThần Tích Công Chúa Phương Dung Và Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Xứ Tuyên

Trong tâm thức dân gian vùng châu thổ và miền núi phía Bắc, mỗi dòng sông lớn đều gắn liền với hình bóng những vị nữ thần bảo hộ nguồn nước, rừng núi và sinh kế của cư dân đôi bờ. Tại lưu vực sông Lô đoạn chảy qua đất Tuyên Quang, mạch nguồn tín ngưỡng ấy kết tinh quanh truyền thuyết về hai nàng công chúa con vua Hùng là Phương Dung Công Chúa và Ngọc Lân Công Chúa, những vị thần chủ được nhân dân suy tôn làm Thánh Mẫu trong hệ thống Đạo Mẫu Việt Nam.

Theo thần tích lưu truyền tại Đền Hạ, Đền Thượng và Đền Ỷ La, thuở vua Hùng dựng nước Văn Lang, hai nàng công chúa Phương Dung và Ngọc Lân là những bậc tài sắc vẹn toàn, giàu lòng nhân ái, thường vâng mệnh vua cha đi kinh lý khắp các miền rừng núi biên viễn để dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, cấy lúa và khai mở đất đai. Trong một chuyến ngược dòng sông Lô lên vùng đất Tuyên Quang, thuyền ngự của hai nàng dừng lại bên bến Tam Cờ dưới chân núi Là. Đêm ấy trời nổi cơn mưa to gió lớn, sấm chớp vang rền mặt sông, cả hai nàng công chúa đều hiển hóa và bay về trời ngay giữa vùng sơn thủy giao hòa.

Theo sử liệu

Truyền thuyết địa phương kể tiếp rằng sau đêm mưa bão, người dân ven sông tìm thấy dấu tích xiêm y của hai vị công chúa dạt vào hai bờ tả hữu của dòng sông Lô. Tưởng nhớ công đức của hai nàng, cư dân bản địa đã lập đền thờ ngay tại những điểm linh ứng ấy. Bên bờ hữu ngạn dưới chân núi Là, nhân dân dựng Đền Hạ để phụng thờ người chị là Phương Dung Công Chúa. Bên bờ tả ngạn thuộc xã Tràng Đà phía thượng nguồn, người dân lập Đền Thượng để thờ người em là Ngọc Lân Công Chúa. Về sau, một bộ phận cư dân từ vùng bờ sông di chuyển vào khu vực Ỷ La lập làng mới, đã rước chân nhang của Mẫu Phương Dung về dựng thêm Đền Ỷ La để tiện bề hương khói. Từ một gốc thần tích chung, ba ngôi đền hình thành thế chân kiềng vững chãi, gắn kết chị em Thánh Mẫu trong cùng một mạch thờ phụng không tách rời.

Theo giáo nghĩa

Xét dưới góc độ lịch sử tôn giáo, quá trình phát triển của Đền Hạ phản ánh rõ nét sự giao thoa giữa tín ngưỡng thờ thần tự nhiên thời Hùng Vương với hệ thống Tam phủ, Tứ phủ của Đạo Mẫu ở vùng thượng du Bắc Bộ. Từ vị thần hộ mệnh bến sông và núi rừng, Phương Dung Công Chúa được đồng nhất và tôn vinh trong ngôi vị Thánh Mẫu Thượng Ngàn (Lâm Cung Thánh Mẫu, cai quản miền rừng núi) đồng thời hòa quyện trong ban thờ Tam Tòa Thánh Mẫu gồm Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên (cai quản miền trời), Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn (cai quản miền rừng núi) và Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ (cai quản miền sông nước). Sự kết hợp ấy đặc biệt tương thích với cảnh quan của Đền Hạ, nơi có núi Là đại diện cho miền Thượng Ngàn đứng sát bên dòng sông Lô đại diện cho miền Thoải Phủ.

Các lớp tên gọi qua dòng chảy lịch sử

Trước khi định hình tên gọi phổ biến là Đền Hạ như ngày nay, ngôi đền bên bến sông Lô từng mang nhiều danh xưng gắn liền với địa danh cổ và các triều đại phong kiến. Theo tư liệu di tích của tỉnh Tuyên Quang, vào thời Lý ngôi đền được gọi là đền Tam Kỳ bởi nằm gần khu vực hợp lưu ba nhánh nước và ba ngả đường giao thương. Sang thời Trần, khi vùng đất này thuộc thôn Hiệp Thuận, xã Ỷ La cũ, đền được đổi tên thành đền Hiệp Thuận. Bốn chữ Hán Hiệp Thuận linh từ (協順靈祠, nghĩa là ngôi đền linh thiêng của đất Hiệp Thuận) hiện vẫn còn đắp nổi trang trọng trên cổng tam quan chính là chứng tích trực tiếp của danh xưng ấy.

Bên cạnh đó, trong dân gian và sử liệu địa phương, ngôi đền còn được biết đến với tên gọi Đền Tam Cờ (gắn với địa danh bến Tam Cờ và chợ Tam Cờ sầm uất bên bờ sông Lô) hoặc Đền Hợp Hòa (khi khu phố ven sông mang tên phố Hợp Hòa vào thời cận đại). Tên gọi Đền Hạ xuất hiện từ cuối thời Hậu Lê để phân biệt vị trí địa lý ở phía hạ lưu bên hữu ngạn với Đền Thượng ở phía thượng lưu bên tả ngạn sông Lô.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều khách hành hương lần đầu tới Tuyên Quang thường nghĩ Đền Hạ và Đền Thượng là hai ngôi đền thờ cùng một vị thần nhưng đặt ở vị trí thấp và cao trên cùng một ngọn núi, giống như cấu trúc Đền Hạ và Đền Thượng ở Ba Vì hay Lào Cai. Thực tế tại Tuyên Quang hoàn toàn khác. Hai chữ Thượng và Hạ ở đây được định vị theo dòng chảy của sông Lô và theo thứ bậc hai chị em trong thần tích: Đền Hạ nằm ở phía dưới dòng sông thờ chị là Mẫu Phương Dung, còn Đền Thượng nằm ở phía trên dòng sông bên bờ đối diện thờ em là Mẫu Ngọc Lân. Hiểu đúng cấu trúc không gian sông nước này mới thấy hết ý nghĩa của nghi thức rước kiệu từ Đền Thượng và Đền Ỷ La về Đền Hạ hợp tế mỗi dịp xuân về.

IIBa Thế Kỷ Khởi Dựng, Trùng Tu Và Các Đạo Sắc Phong

Dù lớp tín ngưỡng thờ hai nàng công chúa con vua Hùng đã bén rễ bên bờ sông Lô từ nhiều thế kỷ trước dưới dạng các miếu thờ nhỏ của cư dân chài lưới và buôn bán đường sông, diện mạo kiến trúc quy mô của Đền Hạ bắt đầu định hình rõ nét từ nửa đầu thế kỷ 18 dưới triều Hậu Lê. Về năm khởi dựng chính thức, các nguồn tư liệu địa phương ghi nhận hai mốc thời gian rất gần nhau cần được đối chiếu cẩn trọng.

Theo sử liệu

Theo hồ sơ di tích và Cổng thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang, Đền Hạ được khởi dựng quy mô lớn vào năm Mậu Ngọ 1738 (niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 4 đời vua Lê Ý Tông). Trong khi đó, một số tài liệu biên khảo lịch sử văn hóa địa phương và lời dẫn lễ hội lại ghi nhận mốc xây dựng vào năm Tân Dậu 1741 (niên hiệu Cảnh Hưng thứ 2 đời vua Lê Hiển Tông), gắn liền với đợt mở rộng các cơ sở thờ Mẫu ở vùng lỵ sở Tuyên Quang thế kỷ 18. Sự chênh lệch ba năm giữa 1738 và 1741 nhiều khả năng phản ánh quá trình từ lúc khởi công lập nền dựng điện năm 1738 tới khi hoàn thiện các hạng mục thờ tự và thiết lập lệ tế vào đầu niên hiệu Cảnh Hưng năm 1741. Thư viện Vạn Đạo Đường ghi nhận song song cả hai mốc sử liệu này để người đọc có cái nhìn toàn diện.

Sang thế kỷ 19, khi bến Tam Cờ trở thành thương cảng đường thủy nhộn nhịp bậc nhất nối miền xuôi với vùng thượng đạo Hà Giang, Tuyên Quang, nhu cầu mở rộng và tôn tạo ngôi đền ngày càng lớn. Vào tháng 6 âm lịch năm Mậu Ngọ 1878 (niên hiệu Tự Đức thứ 31), quan lại tỉnh Tuyên Quang cùng các bậc hào trưởng, thương nhân và bách tính thập phương đã đóng góp công đức tiến hành cuộc đại trùng tu Đền Hạ, đồng thời đúc quả đại hồng chung bằng đồng treo tại đền. Một số tài liệu du lịch sơ lược đôi khi ghi nhầm năm 1878 là năm Đinh Mão, song đối chiếu lịch vạn niên và niên biểu triều Nguyễn thì năm Đinh Mão là 1867 (Tự Đức thứ 20), còn năm 1878 chính xác là năm Mậu Ngọ (Tự Đức thứ 31), khớp với minh văn khắc trên cổ vật và hồ sơ di tích.

  • Thời Lý - TrầnHình thành miếu cổ Tam Kỳ, Hiệp Thuận
    Theo truyền thuyết và tư liệu địa phương, tiền thân của đền là ngôi miếu nhỏ bên bến sông Lô mang tên đền Tam Kỳ thời Lý, sang thời Trần gọi là đền Hiệp Thuận theo tên thôn Hiệp Thuận, xã Ỷ La.
  • 1738 / 1741Khởi dựng quy mô thời Hậu Lê
    Hồ sơ di tích ghi nhận đền được dựng lớn vào năm Mậu Ngọ 1738 đời Lê Ý Tông, trong khi một số biên khảo địa phương ghi năm Tân Dậu 1741 (Cảnh Hưng thứ 2 đời Lê Hiển Tông). Tên gọi Đền Hạ định hình từ giai đoạn này.
  • 1878Đại trùng tu năm Mậu Ngọ và đúc đại hồng chung
    Tháng 6 âm lịch năm Mậu Ngọ 1878 dưới triều vua Tự Đức, nhân dân và thiện tín tiến hành đại trùng tu kiến trúc gỗ, chạm khắc hệ thống cửa võng tứ linh và đúc quả chuông đồng lớn còn lưu giữ tới ngày nay.
  • Cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20Các triều vua Nguyễn ban sắc phong
    Triều đình nhà Nguyễn qua các đời vua Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân và Khải Định liên tiếp ban các đạo sắc phong chuẩn phong mỹ tự cho Thánh Mẫu Phương Dung và cho phép nhân dân sở tại phụng thờ theo quốc điển.
  • 1991Xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
    Đền Hạ chính thức được Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật, lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1991.
  • 2015 - 2016Tu bổ tôn tạo tổng thể khuôn viên
    Tỉnh Tuyên Quang triển khai dự án tu bổ, chống xuống cấp các hạng mục gỗ cổ, chỉnh trang sân đền, cổng tam quan và cảnh quan bờ sông Lô nhưng vẫn giữ nguyên cấu trúc và mảng chạm khắc thế kỷ 19.
  • 2017Ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
    Ngày 23 tháng 1 năm 2017, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký Quyết định số 217/QĐ-BVHTTDL đưa Lễ hội Đền Hạ, Đền Thượng, Đền Ỷ La vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

IIIKiến Trúc Nội Công Ngoại Quốc, Nghệ Thuật Chạm Gỗ Và Cổ Vật

Trải qua gần ba trăm năm tồn tại bên bờ sông Lô, Đền Hạ vẫn bảo lưu được cốt cách của một công trình kiến trúc gỗ truyền thống Bắc Bộ thế kỷ 19. Tổng thể ngôi đền được quy hoạch theo bố cục nội công ngoại quốc kết hợp các nếp nhà chạy dọc theo trục thần đạo hướng ra mặt sông. Từ ngoài đường Chiến Thắng Sông Lô bước vào, không gian chuyển tiếp nhịp nhàng qua cổng tam quan, sân đền rợp bóng cây cổ thụ, tòa tiền tế, trung từ (thiêu hương) rồi tiến sâu vào hậu cung (cung cấm) thâm nghiêm.

Bộ khung chịu lực của đền làm bằng gỗ tứ thiết vững chắc, liên kết bằng hệ thống mộng mẹo chính xác với kết cấu vì kèo kiểu chồng rường giá chiêng và con chồng kẻ bẩy. Mái đền lợp ngói mũi hài cổ truyền, các đầu đao uốn cong thanh thoát với hình tượng lưỡng long chầu nguyệt trên bờ nóc và nghê chầu trên bờ giải, tạo nên vẻ uy nghi nhưng không nặng nề giữa khung cảnh sông nước thoáng đãng.

Tinh hoa chạm khắc gỗ thế kỷ 19 và hệ thống phối thờ

Giá trị mỹ thuật nổi bật nhất khiến giới nghiên cứu di sản đánh giá cao Đền Hạ nằm ở nghệ thuật chạm khắc gỗ trên các cấu kiện kiến trúc và đồ thờ tự có niên đại từ cuộc đại trùng tu năm 1878. Trên các bức cốn, đầu dư, kẻ hiên, xà nách và đặc biệt là hệ thống cửa võng nhiều lớp nối từ tiền tế vào hậu cung, các nghệ nhân xưa đã thi triển kỹ thuật chạm lộng, chạm bong kênh và chạm nổi vô cùng tinh xảo. Đề tài chủ đạo là tứ linh (long, lân, quy, phượng), tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai), cá chép hóa rồng và đặc biệt là bức chạm long giáng thủy cung với những thân rồng uốn lượn mềm mại trong mây lửa, phản ánh sự giao hòa giữa quyền uy của thần linh với nguồn nước sông Lô.

Về bài trí thờ tự, Đền Hạ thể hiện trọn vẹn quy chuẩn của một ngôi đền Mẫu vùng trung du và miền núi phía Bắc. Lớp ngoài tại tòa tiền tế và trung từ đặt các ban thờ Công Đồng Tứ Phủ, Ngũ Vị Tôn Ông, Quan Lớn Tuần Tranh và Đức Thánh Trần Hưng Đạo theo lối phối thờ tiền Phật hậu Thánh, tiền Thánh hậu Mẫu. Lớp trong cùng tại hậu cung là nơi tôn trí khám thờ và tượng Tam Tòa Thánh Mẫu cùng thần vị của Thánh Mẫu Phương Dung Công Chúa. Phía dưới gầm hương án chính là ban thờ Ngũ Hổ và Bạch Xà, biểu trưng cho sức mạnh trấn giữ ngũ phương và cai quản sơn lâm, thủy vực. Bên cạnh tòa đền chính còn có động Sơn Trang đắp giả sơn thờ Chúa Thượng Ngàn cùng các cô, các cậu bản cảnh.

Tam quan Hiệp Thuận Linh Từ

Cổng đền xây gạch cổ kính mở thẳng ra đường Chiến Thắng Sông Lô và bến sông, trên trán cổng đắp nổi bốn chữ Hán Hiệp Thuận linh từ cùng các phù điêu rồng phượng, hổ phù.

Tòa Tiền tế và hệ thống cửa võng

Không gian hành lễ chính với bộ vì kèo gỗ chồng rường giá chiêng. Nổi bật nhất là các bức cửa võng chạm thủng đề tài tứ linh, long giáng thủy cung sơn son thếp vàng rực rỡ từ thế kỷ 19.

Hậu cung (Cung cấm)

Không gian thâm nghiêm nhất ở phía trong cùng, nơi đặt khám thờ lớn sơn son thếp vàng tôn trí tượng Tam Tòa Thánh Mẫu và bài vị Thánh Mẫu Phương Dung Công Chúa.

Chuông đồng năm Mậu Ngọ 1878 và khánh đồng

Quả đại hồng chung bằng đồng đúc trong đợt đại trùng tu dưới triều vua Tự Đức năm 1878 cùng chiếc khánh đồng cổ, trên thân có khắc bài minh văn chữ Hán ghi rõ niên đại, tên gọi cổ của đền và danh sách tín thí công đức.

Bộ sưu tập sắc phong triều Nguyễn

Các đạo sắc phong cổ trên giấy dó vẽ rồng mây của các vua triều Nguyễn ban tặng cho Thánh Mẫu Phương Dung, là tư liệu Hán Nôm gốc xác thực lịch sử thờ tự của ngôi đền.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện Vạn Đạo Đường theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền dựa trên địa hình thực tế của thành phố Tuyên Quang, không phải nội dung chép trong văn bia hay sắc phong của đền. Chúng tôi tách bạch rõ tư liệu lịch sử và góc nhìn hình thế để quý vị tiện tham khảo.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ địa hình ở tọa độ 21,8144 độ vĩ Bắc và 105,2158 độ kinh Đông, Đền Hạ sở hữu một trong những cục đất tựa sơn hướng thủy chuẩn mực nhất của vùng đô thị ven sông miền núi phía Bắc. Phía sau lưng đền (phương Tây và Tây Bắc) là khối núi Là (còn gọi là núi Thổ Sơn, nơi có di tích Thành nhà Mạc) mọc lên đột ngột giữa lòng thung lũng phẳng, đóng vai trò làm hậu chẩm vững chãi che chắn gió lạnh và giữ cho mạch khí từ dãy núi phía tây đổ xuống không bị tản mát. Phía trước mặt đền (phương Đông và Đông Nam) là dòng sông Lô rộng lớn chảy từ phương Bắc xuống phương Nam, mở ra một minh đường thủy tụ khoáng đạt, sáng sủa.

Điểm đắt giá nhất trong hình thế của Đền Hạ nằm ở khúc uốn của dòng sông Lô. Đoạn sông chảy qua trước cửa đền không chảy xiết thẳng tuột mà hơi uốn cong ôm lấy bờ hữu ngạn nơi có bến Tam Cờ xưa, tạo thành thế thủy triều hoài bão (nước ôm vào lòng đất). Trong phép xem thủy pháp cổ truyền, khúc sông uốn cong ôm lấy cuộc đất là nơi tụ khí sinh tài, nước chảy êm hòa giúp khí trường luôn tươi mới. Chính nhờ thế đất vừa có núi Thổ Sơn làm điểm tựa tĩnh tại, vừa có minh đường sông Lô giao hội nguồn nước mà bến Tam Cờ suốt nhiều thế kỷ là nơi thuyền bè hội tụ, cư dân buôn bán trù phú, còn ngôi đền trở thành nơi ngự trị linh thiêng của cả Mẫu Thượng Ngàn (núi) lẫn Mẫu Thoải (nước).

Nhìn rộng ra toàn cục lỵ sở Tuyên Quang, ba ngôi đền Đền Hạ, Đền Thượng và Đền Ỷ La tạo nên một tam giác phong thủy cân đối: Đền Thượng trấn giữ đầu nguồn bên tả ngạn để đón thủy khẩu, Đền Hạ tọa lạc ở trung tâm hữu ngạn nơi thủy tụ, còn Đền Ỷ La nằm sâu trong thung lũng nội đồng dưới chân núi để tàng phong tụ khí. Ba điểm huyệt ấy hô ứng với nhau qua trục dòng sông Lô, giữ cho mạch khí của cả vùng đất xứ Tuyên được cân bằng giữa sơn và thủy.

VLễ Hội Đền Hạ, Đền Thượng, Đền Ỷ La Tháng Hai Âm Lịch

Nhắc tới Đền Hạ (Tuyên Quang) là nhắc tới Lễ hội Đền Hạ, Đền Thượng, Đền Ỷ La diễn ra từ ngày 11 đến ngày 16 tháng 2 âm lịch hằng năm, một trong những lễ hội thờ Mẫu lớn và đặc sắc nhất vùng Đông Bắc và Việt Bắc. Đây là dịp để nhân dân tưởng nhớ công đức của hai nàng công chúa Phương Dung và Ngọc Lân, đồng thời tái hiện sự gắn kết máu thịt giữa ba ngôi đền thông qua nghi thức rước Mẫu hợp tế mà Đền Hạ giữ vai trò là trung tâm hội tụ.

Đỉnh cao của phần lễ là nghi thức rước kiệu Mẫu diễn ra vào ngày 11 và ngày 12 tháng 2 âm lịch. Từ sáng sớm, đoàn rước từ Đền Thượng vượt qua dòng sông Lô và đoàn rước từ Đền Ỷ La tiến về Đền Hạ trong tiếng nhạc lưu thủy, tiếng trống chiêng vang dội, cờ thần ngũ sắc rợp bóng cùng đội múa lân, múa rồng và các thiếu nữ dâng hoa. Khi kiệu rước bài vị, tượng Thánh Mẫu của cả hai đền về tới sân Đền Hạ, các vị chủ tế và bô lão cử hành Lễ hợp tế trang trọng tại chính điện Đền Hạ. Hình ảnh kiệu Mẫu từ Đền Thượng và Đền Ỷ La về hội ngộ tại Đền Hạ mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc: đó là cuộc đoàn tụ hàng năm của hai chị em Phương Dung Công Chúa và Ngọc Lân Công Chúa tại ngôi đền của người chị bên bến sông xưa.

Các kỳ lễ tiết chính trong năm tại Đền Hạ và quần thể đền thờ Mẫu thành phố Tuyên Quang. Nguồn: Tổng hợp từ hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Lễ hội Đền Hạ, Đền Thượng, Đền Ỷ La (Quyết định số 217/QĐ-BVHTTDL năm 2017) và Cổng thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang..
Thời điểm âm lịchTên lễ tiếtKhông gian và nghi thức chính
Ngày 11 đến 16 tháng 2Lễ hội chính Đền Hạ, Đền Thượng, Đền Ỷ LaĐại lễ rước kiệu Thánh Mẫu từ Đền Thượng và Đền Ỷ La về hợp tế tại Đền Hạ, tế lễ cổ truyền, diễn xướng hầu đồng và mở các trò chơi dân gian bên bờ sông Lô.
Ngày 16 tháng 2Lễ hoàn cung (giã hội)Làm lễ tạ tại Đền Hạ rồi rước kiệu Thánh Mẫu từ Đền Hạ trở về an vị tại Đền Thượng và Đền Ỷ La, khép lại mùa hội xuân.
Tháng 3 âm lịchTiệc Mẫu tháng BaCác vấn hầu đồng, dâng văn chúc thánh tưởng niệm ngày hội Mẫu theo lệ chung của tín ngưỡng Tam phủ, Tứ phủ Việt Nam.
Ngày 12 tháng 7 âm lịchLễ hội mùa thu (tiệc Mẫu tháng Bảy)Kỷ niệm ngày hóa của Thánh Mẫu theo truyền thuyết địa phương với lễ dâng hương, cúng Phật, tế Mẫu và cầu quốc thái dân an.
Mùng 1 và Rằm hằng thángLễ sóc vọng thường kỳNhân dân phố núi Tuyên Quang và du khách thập phương tới dâng hương cầu bình an, tài lộc tại các cung thờ của đền.

Song hành cùng phần lễ trang nghiêm là không gian diễn xướng Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt (di sản đã được UNESCO ghi danh năm 2016) với những giá hầu đồng, hát văn mượt mà ca ngợi cảnh đẹp non nước xứ Tuyên và công đức của Thánh Mẫu. Phần hội ngoài sân đền và dọc bờ sông Lô diễn ra sôi nổi với các trò chơi dân gian truyền thống như kéo co, cờ tướng, chọi gà, tung còn và hát Then của đồng bào Tày. Đến ngày 16 tháng 2 âm lịch, sau lễ hoàn cung rước kiệu trở về Đền Thượng và Đền Ỷ La, mùa hội khép lại trong niềm hoan hỷ của cư dân đôi bờ sông Lô.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 53 đường Chiến Thắng Sông Lô, tổ 4, phường Minh Xuân (trước đây thuộc phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang cũ), tỉnh Tuyên Quang
Đường tới
Đền nằm tại số 53 đường Chiến Thắng Sông Lô, phường Minh Xuân (phường Tân Quang cũ), ngay trung tâm đô thị Tuyên Quang bên bờ hữu ngạn sông Lô. Từ Hà Nội, quý vị đi theo cao tốc Nội Bài, Lào Cai nối cao tốc Tuyên Quang, Phú Thọ khoảng 130 km tới trung tâm tỉnh lỵ, sau đó rẽ ra đường Chiến Thắng Sông Lô ven sông là tới thẳng cổng đền.
Toạ độ
21.8144, 105.2158
Khi tới nơi

Khi tới chiêm bái Đền Hạ, quý vị lưu ý giữ trang phục lịch sự, kín đáo, bước đi nhẹ nhàng khi qua tòa tiền tế vào khu vực hậu cung. Khu vực cung cấm đặt khám thờ Tam Tòa Thánh Mẫu và các đạo sắc phong cổ có quy định riêng của nhà đền, quý vị chỉ dâng hương và hành lễ ở phía ngoài cửa võng, tuyệt đối không tự ý chạm tay vào quả chuông đồng năm 1878 hay các mảng chạm gỗ cổ. Vào dịp chính hội từ ngày 11 đến 16 tháng 2 âm lịch, lượng khách đổ về đường Chiến Thắng Sông Lô rất đông, quý vị nên sắp xếp đi bộ dọc tuyến phố ven sông để thuận tiện theo dõi đoàn rước kiệu Mẫu.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Hạ (Tuyên Quang)

Contribute photos, information or video for Hạ Temple (Tuyên Quang)

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Hạ (Tuyên Quang) thờ vị thần nào

Đền Hạ thờ chính Thánh Mẫu Phương Dung Công Chúa, tương truyền là con gái vua Hùng đã hiển hóa bên dòng sông Lô trong một đêm mưa bão. Trong hệ thống tín ngưỡng Đạo Mẫu, bà được nhân dân tôn vinh làm Thánh Mẫu Thượng Ngàn và phối thờ cùng Tam Tòa Thánh Mẫu, Ngũ Vị Tôn Ông, Đức Thánh Trần và Chúa Sơn Trang.

Vì sao Đền Hạ còn có tên là Đền Tam Cờ hay Hiệp Thuận Linh Từ

Tên gọi Hiệp Thuận Linh Từ có từ thời Trần khi ngôi đền tọa lạc trên đất thôn Hiệp Thuận, xã Ỷ La cũ, và bốn chữ Hán này hiện vẫn còn đắp nổi trên cổng tam quan. Còn tên gọi Đền Tam Cờ bắt nguồn từ địa danh bến Tam Cờ và chợ Tam Cờ cổ nằm ngay bên bờ sông Lô trước cửa đền.

Đền Hạ được khởi dựng và trùng tu vào những năm nào

Theo hồ sơ di tích của tỉnh Tuyên Quang, đền được khởi dựng quy mô lớn vào năm Mậu Ngọ 1738 đời Lê Ý Tông, trong khi một số tài liệu địa phương ghi năm Tân Dậu 1741 đời Lê Hiển Tông. Đợt đại trùng tu quan trọng nhất tạo nên diện mạo chạm khắc gỗ và quả chuông đồng hiện còn diễn ra vào tháng 6 năm Mậu Ngọ 1878 dưới triều vua Tự Đức.

Mối liên hệ giữa Đền Hạ, Đền Thượng và Đền Ỷ La là gì

Ba ngôi đền này hợp thành quần thể thờ hai chị em công chúa con vua Hùng tại Tuyên Quang: Đền Hạ bên bờ hữu ngạn sông Lô thờ người chị là Phương Dung Công Chúa, Đền Thượng bên bờ tả ngạn thờ người em là Ngọc Lân Công Chúa, và Đền Ỷ La là nơi người dân rước chân nhang Mẫu Phương Dung từ Đền Hạ về lập thêm khi di cư vào nội đồng.

Lễ hội Đền Hạ diễn ra vào thời gian nào trong năm

Lễ hội chính diễn ra từ ngày 11 đến ngày 16 tháng 2 âm lịch hằng năm và đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2017. Nghi thức đặc sắc nhất của lễ hội là lễ rước kiệu Thánh Mẫu từ Đền Thượng và Đền Ỷ La về Đền Hạ để cử hành đại lễ hợp tế đoàn tụ hai chị em Thánh Mẫu.

›Đọc Tiếp