Từ bất kỳ ngả đường nào tiến vào thung lũng sông Lhasa ở độ cao 3.700 mét trên mặt nước biển, mắt người hành hương đều bị hút về một ngọn núi đá mọc độc lập giữa lòng bình nguyên mang tên Marpo Ri, tức Hồng Sơn. Bám chặt vào sườn núi ấy và vươn thẳng lên bầu trời cao nguyên xanh ngắt là những bức tường đá hoa cương dày hàng mét hơi nghiêng vào trong, hai cánh trắng toát ôm lấy khối tâm điểm màu đỏ nâu thẫm, phía trên lấp lánh những tầng mái vàng ròng và diềm cỏ bộng nhuộm đỏ. Suốt hơn ba thế kỷ, khách lữ hành đi qua dãy Himalaya đều nhận ra Lhasa từ xa nhờ ánh vàng phản chiếu từ đỉnh núi ấy.
Đó là Cung Potala (tiếng Tạng: Po ta la, ཕོ་བྲང་པོ་ཏ་ལ་, chữ Hán: 布達拉宮, âm Hán Việt cổ: Phổ Đà Lạc Cung), kiệt tác kiến trúc pháo đài và thánh địa của Phật giáo Tây Tạng (Kim Cương thừa), được UNESCO ghi danh Di sản Thế giới năm 1994. Công trình vừa lưu giữ hai thánh thất cổ từ thế kỷ thứ 7 của Tán phổ Songtsen Gampo, vừa là tòa cung điện mùa đông và lăng tẩm linh tháp dát vàng của các đời Đạt Lai Lạt Ma kể từ cuộc đại kiến thiết năm 1645 dưới thời Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 5.

ITịnh Độ Potalaka Của Bồ Tát Quán Thế Âm Và Sự Hợp Nhất Đạo Đời Tại Hồng Sơn
Cung Potala thuộc truyền thống Phật giáo Tây Tạng (Kim Cương thừa hay Mật tông Tây Tạng), gắn liền trực tiếp với tông Gelug (Cách Lỗ phái, còn gọi là Hoàng giáo) từ thế kỷ 17, đồng thời được mọi hệ phái Phật giáo Tây Tạng (Nyingma, Kagyu, Sakya) cùng tôn kính như thánh địa tối cao. Tên gọi Potala bắt nguồn từ tiếng Phạn Potalaka (mà kinh điển chữ Hán dịch âm là Phổ Đà Lạc Già hoặc Phổ Đà Sơn), tên ngọn núi thiêng trong Kinh Hoa Nghiêm được xem là đạo tràng tịnh độ nơi Đức Bồ Tát Quán Thế Âm (tiếng Tạng: Chenrezig, tiếng Phạn: Avalokiteśvara) thường trú để lắng nghe tiếng kêu cứu của chúng sinh.
Trong vũ trụ quan của Phật giáo Tây Tạng, Bồ Tát Quán Thế Âm là vị bản tôn bảo hộ của toàn cõi Tuyết Sơn. Cả vị vua khai sáng đế chế thổ phồn thế kỷ thứ 7 là Tán phổ Songtsen Gampo (Tùng Tán Can Bố) lẫn các đời Đạt Lai Lạt Ma về sau đều được tín đồ tôn ngưỡng là hóa thân (Tulku) của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát thị hiện nơi thế gian. Vì lẽ đó, ngọn đồi Đỏ (Marpo Ri) nơi nhà vua từng nhập thất thiền định và nơi các vị Đạt Lai Lạt Ma ngự trị tự nhiên được đồng nhất với núi thiêng Potalaka.
Sự phân chia hai sắc màu chủ đạo trên mặt tiền Potala phản ánh trực quan cấu trúc Chösi Nyindre (hợp nhất tâm linh và thế tục) của lịch sử Tây Tạng cổ truyền: khối Bạch Cung (Potrang Karpo) sơn trắng bao bọc hai bên tượng trưng cho sự thanh tịnh, an hòa và đảm nhận chức năng hành chính, tịnh thất sinh hoạt cùng giảng đường, trong khi khối Hồng Cung (Potrang Marpo) sơn màu đỏ đất thổ hoàng ở chính giữa và cao nhất tượng trưng cho trí tuệ, uy lực hộ pháp và dành trọn cho các điện thờ Phật, mạn đà la cùng tám bảo tháp lưu giữ nhục thân các bậc Đạt Lai Lạt Ma.
Theo hồ sơ Di sản Thế giới số 707 của UNESCO và biên niên sử Tây Tạng, tiền thân của Potala được khởi dựng vào khoảng năm 637 SCN (thế kỷ thứ 7) khi Tán phổ Songtsen Gampo dời đô về thung lũng Rasa (Lhasa ngày nay) và cho xây Hồng Sơn Cung trên đỉnh Marpo Ri để đón công chúa Văn Thành nhà Đường và công chúa Bhrikuti xứ Nepal. Trải qua biến cố sét đánh và chiến loạn cuối thế kỷ 8 và thế kỷ 9 khi vương triều Thổ Phồn tan rã, phần lớn cung điện cổ bị hủy hoại, chỉ còn lại hai gian thánh thất nằm sâu trong lòng núi đá là Chogyel Drupuk (động pháp vương tu thiền) và Phakpa Lhakhang (điện thờ Quán Âm Thánh Tổ).
Phải tám trăm năm sau, vào năm 1645, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 5 là Ngawang Lobsang Gyatso (1617 tới 1682), với sự trợ lực của nhiếp chính Desi Sangye Gyatso, đã quyết định khởi công đại kiến thiết Cung Potala ngay trên nền phế tích Hồng Sơn để làm trung tâm điều hành Ganden Phodrang. Bạch Cung hoàn thành năm 1648, còn Hồng Cung được nhiếp chính Sangye Gyatso huy động hơn bảy nghìn thợ thủ công và họa sĩ xây tiếp từ năm 1690 tới năm 1694 để tôn trí linh tháp của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 sau khi ngài viên tịch.
Một nhầm lẫn khá phổ biến là gọi Potala đơn thuần là một tu viện giống như chùa Drepung hay Sera. Thực chất, Potala là một phức hợp đa chức năng độc nhất vô nhị: bên trong vừa có tu viện Namgyal (Namgyal Dratsang, tự viện riêng của Đạt Lai Lạt Ma chuyên tu trì mật pháp Thời Luân Kim Cương), vừa có trường đào tạo quan lại tăng tục, xưởng in kinh bản gỗ, kho tàng bảo vật, tịnh thất mùa đông và hệ thống lăng tháp (Chorten). Việc gọi công trình là Cung Potala vừa giữ đúng nghĩa chữ Potrang (cung điện) trong tiếng Tạng, vừa bao hàm được tính chất thánh địa tôn giáo của ngọn núi.
IIHơn Mười Ba Thế Kỷ Từ Hồng Sơn Cung Thời Thổ Phồn Tới Di Sản Thế Giới UNESCO
Lịch sử của Cung Potala chia làm hai kỷ nguyên lớn cách nhau gần một thiên niên kỷ: kỷ nguyên khởi nguyên thời vương triều Thổ Phồn thế kỷ thứ 7 và kỷ nguyên đại kiến thiết từ giữa thế kỷ 17 kéo dài tới nửa đầu thế kỷ 20.
- Khoảng 637Tán phổ Songtsen Gampo dựng Hồng Sơn CungVua Songtsen Gampo lập cung điện trên đỉnh núi Marpo Ri tại Lhasa. Theo truyền thống Tây Tạng, cung có 999 gian phòng cộng thêm 1 gian tịnh thất trên đỉnh núi thành 1.000 gian, nay còn giữ được động thiền Chogyel Drupuk và điện Phakpa Lhakhang.
- Thế kỷ 8 tới 9Hư hại do sét đánh và binh biếnNửa sau thế kỷ 8, cung điện gỗ trên núi bị sét đánh cháy một phần lớn, tiếp đó bị tàn phá trong các cuộc nổi dậy cuối thời đế chế Thổ Phồn thế kỷ 9, chỉ còn sót lại hai thánh thất trung tâm.
- 1645 tới 1648Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 khởi công xây Bạch CungNăm 1645, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 5 (Ngawang Lobsang Gyatso) cho khởi công xây dựng Bạch Cung (Potrang Karpo) trên núi Marpo Ri. Năm 1648 công trình hoàn thành, ngài dời trụ sở từ tu viện Drepung về ngự tại Potala.
- 1690 tới 1694Nhiếp chính Sangye Gyatso xây dựng Hồng CungSau khi Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 viên tịch năm 1682, nhiếp chính Desi Sangye Gyatso giữ kín tin tang lễ và huy động hơn 7.000 thợ đá, thợ mộc, thợ kim hoàn Tây Tạng, Hán và Nepal xây dựng Hồng Cung (Potrang Marpo) cùng linh tháp vàng ròng, khánh thành năm 1694.
- 1922 tới 1936Tu bổ thời Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 và dựng linh tháp thứ támĐức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 13 (Thubten Gyatso) cho tu sửa nhiều điện trong Bạch Cung và mở rộng Hồng Cung thêm hai tầng năm 1922, rồi sau khi ngài viên tịch năm 1933, linh tháp lớn thứ tám của ngài được dựng hoàn tất vào năm 1936.
- 1961Đơn vị Bảo hộ Văn vật Trọng điểm Toàn quốc đợt 1Ngày 4 tháng 3 năm 1961, Quốc vụ viện Trung Quốc công nhận Cung Potala là Đơn vị Bảo hộ Văn vật Trọng điểm Toàn quốc đợt đầu tiên, và các đợt đại trùng tu kỹ thuật được thực hiện từ 1989 tới 1994 và từ 2002 tới 2009.
- 1994Ghi danh Di sản Thế giới UNESCOUNESCO công nhận Quần thể lịch sử Cung Potala tại Lhasa là Di sản Thế giới số 707 theo các tiêu chí (i), (iv) và (vi), sau đó mở rộng thêm chùa Đại Chiêu (Jokhang) năm 2000 và cung Norbulingka năm 2001.
Khi đối chiếu các nguồn tài liệu khảo cổ và bách khoa thư quốc tế, thư viện ghi nhận một số điểm chênh lệch nhỏ về con số đo đạc. Về tổng chiều cao Cung Potala, hồ sơ UNESCO, Britannica và phần lớn học giả ghi công trình cao hơn 117 mét (117,19 mét), trong khi một đợt khảo sát quét laser kỹ thuật số đầu thế kỷ 21 ghi độ cao từ chân tường nam lên đỉnh mái vàng là 115,703 mét (chiều dài đông tây khoảng 360 tới 400 mét, chiều sâu nam bắc khoảng 350 mét). Về chiều cao hai linh tháp lớn nhất trong Hồng Cung, linh tháp Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 5 (Azam Grolma) được các nguồn chính thức của Tây Tạng và China.org.cn ghi cao 14,85 mét và bọc 3.721 kg vàng ròng (tương đương 119.082 lạng vàng Tạng, một số sách cũ ghi cao 12,6 mét), còn linh tháp Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 13 được ghi cao 14 mét (một số nguồn tính cả tầng bệ dưới ghi 21 tới 22 mét). Thư viện nêu rõ cả hai thông số để người đọc nắm trọn dữ liệu.
IIIKiến Trúc Pháo Đài Đá Mười Ba Tầng, Bạch Cung, Hồng Cung Và Tám Linh Tháp Vàng Ròng
Cung Potala là đỉnh cao của nghệ thuật xây dựng pháo đài (Dzong) truyền thống Tây Tạng kết hợp với kết cấu đấu củng mái vàng của kiến trúc Hán và nghệ thuật chạm khắc kim hoàn của người Newar (Nepal). Toàn bộ công trình gồm 13 tầng trải rộng trên diện tích mặt sàn hơn 130.000 mét vuông với hơn 1.000 gian phòng, 10.000 khám thờ và khoảng 200.000 pho tượng lớn nhỏ. Để chịu được trọng lực khổng lồ trên sườn núi đá dốc đứng và chống động đất trên cao nguyên, các bức tường đá hoa cương ở chân móng được xây dày tới 5 mét (thu hẹp dần còn khoảng 1 tới 2 mét ở các tầng trên), tạo độ nghiêng thu vào trong khoảng 10 độ khiến khối nhà trông càng vút cao. Đặc biệt, người thợ Tây Tạng thế kỷ 17 đã nấu chảy đồng lỏng đổ trực tiếp vào các khe đá móng để khóa chặt kết cấu đá với đá, còn phần diềm tường phía trên cùng được xếp bằng hàng vạn bó cỏ bộng (cỏ penma mọc trên cao nguyên, phơi khô, đập dập rồi nhuộm đất đỏ) vừa nhẹ tải trọng cho tầng cao, vừa chống thấm mưa tuyết.
Khối kiến trúc 7 tầng sơn vôi trắng hoàn thành năm 1648, bao quanh sườn đông và tây. Trên tầng 4 là Đông Đại Điện (Tsomchen Shar), đại sảnh lớn nhất Bạch Cung rộng 717 mét vuông với 44 cột gỗ lớn, nơi cử hành lễ tọa sàng (đăng quang) của các đời Đạt Lai Lạt Ma. Trên tầng 7 cao nhất của Bạch Cung là hai dãy tịnh thất hướng nắng mặt trời (Đông Nhật Quang Điện và Tây Nhật Quang Điện), nơi ở và làm việc mùa đông của các vị Đạt Lai Lạt Ma. Phía trước Bạch Cung là sân đá Deyangshar rộng 1.600 mét vuông dùng làm nơi biểu diễn vũ điệu Cham.
Khối kiến trúc trung tâm sơn màu đỏ đất thổ hoàng hoàn thành năm 1694, dành riêng cho việc thờ Phật và tôn trí linh tháp. Trung tâm Hồng Cung là Tây Đại Điện (Sishi Phuntsok), đại sảnh lớn nhất toàn cung Potala rộng hơn 725 mét vuông được chống đỡ bởi 48 cây cột gỗ bọc nỉ trang sức lộng lẫy. Bốn bức tường quanh điện vẽ kín 698 bức bích họa mô tả cuộc đời và công hạnh của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 5, trong đó có cảnh ngài hội kiến hoàng đế Thuận Trị tại Bắc Kinh năm 1652.
Hai di tích cổ xưa nhất còn nguyên vẹn từ thời Tán phổ Songtsen Gampo thế kỷ thứ 7 nằm ở vị trí cao nhất và thiêng liêng nhất trong lòng Hồng Cung. Động Chogyel Drupuk là hang đá tự nhiên nơi vua Songtsen Gampo từng tịnh tu, hiện còn giữ tượng nhà vua cùng hai hoàng hậu Văn Thành và Bhrikuti. Ngay phía trên là điện Phakpa Lhakhang, nơi tôn trí pho tượng Quán Thế Âm Bồ Tát bằng gỗ đàn hương tự nhiên (Arya Lokeshvara) linh thiêng bậc nhất Tây Tạng.
Trong Hồng Cung đặt 8 bảo tháp (Stupa hay Chorten) lưu giữ nhục thân đã được ướp hương thảo và muối Tạng của các vị Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 5, 7, 8, 9, 10, 11, 12 và 13 (riêng đời thứ 6 viên tịch trên đường đi Thanh Hải còn đời 1 tới 4 an táng tại Drepung và Tashilhunpo). Đồ sộ nhất là Linh tháp Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 5 (Zamling Gyenjik, nghĩa là Trang nghiêm độc nhất thế gian) cao 14,85 mét xuyên qua 3 tầng lầu, bọc 3.721 kg vàng ròng và khảm hơn 18.000 viên ngọc trai, kim cương, san hô, hổ phách, ngọc lam.
Hồng Cung còn có các điện mật tông lưu giữ 3 bộ Mạn đà la lập thể (ba chiều) đúc bằng vàng, bạc và đồng nạm ngọc của các bản tôn Cuhyasamaja (Bí Mật Tập Hội), Samvara (Thắng Lạc Kim Cương) và Yamantaka (Đại Uy Đức Kim Cương), cùng hàng vạn bộ kinh Kangyur, Tengyur viết bằng mực vàng, bạc, san hô nghiền và các bộ kinh lá bối (Pattra) cổ đem từ Ấn Độ sang.
| Hạng mục | Thông số và quy mô | Nguồn đối chiếu |
|---|---|---|
| Độ cao mặt nước biển và chiều cao cung | Độ cao 3.700 m, chiều cao công trình 117 m (115,7 m), 13 tầng | UNESCO (hồ sơ 707), Britannica, khảo sát trắc đạc Potala |
| Kích thước và diện tích sàn | Đông tây 360 tới 400 m, nam bắc 350 m, diện tích sàn hơn 130.000 m2 | Travel China Guide, UNESCO |
| Độ dày tường đá hoa cương | Chân tường dày 5 m (đổ đồng lỏng vào móng), thu lên đỉnh còn 1 tới 2 m | Britannica, China.org.cn |
| Linh tháp Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 | Cao 14,85 m (3 tầng), bọc 3.721 kg vàng ròng và hơn 18.000 viên ngọc | China.org.cn, Travel China Guide |
| Số lượng linh tháp các đời Đạt Lai Lạt Ma | 8 linh tháp (các đời thứ 5, 7, 8, 9, 10, 11, 12 và 13) | UNESCO, Britannica |
| Tọa độ vệ tinh | 29,6578 độ vĩ Bắc, 91,1169 độ kinh Đông | Wikidata (Q71229), OpenStreetMap |
IVThế Đất Và Hướng
Phật giáo Tây Tạng không dùng phong thủy la bàn kiểu Hán truyền mà có hệ thống địa lý tâm linh riêng gọi là Sa-che (Sa dpyad, phép quán sát đất đai của Mật tông kết hợp với dịch lý Âm Dương Ngũ Hành được công chúa Văn Thành đem vào Tây Tạng từ thế kỷ thứ 7). Theo cổ thư Tây Tạng, toàn bộ thung lũng Lhasa được đọc như một Mạn đà la tám cánh sen trên bầu trời và tám nan hoa Pháp luân dưới mặt đất. Phần dưới đây đối chiếu truyền thống địa lý Tây Tạng ấy với phép hình thế cổ truyền của thư viện.
Xét trên đại cuộc sơn thủy của thung lũng Lhasa ở tọa độ 29,6578 độ vĩ Bắc, 91,1169 độ kinh Đông, bình nguyên Lhasa nằm lọt giữa vòng tay của dãy núi Nyenchen Tanglha hùng vĩ. Bốn phía thung lũng có các dãy núi tuyết vây tròn như tám cánh hoa sen che chở cho vùng đất bằng ở giữa, nơi dòng sông Kyi Chu (sông Lhasa, một nhánh lớn của sông Yarlung Tsangpo) chảy uốn lượn từ đông sang tây ở phía nam, tạo thành dải minh đường thủy rộng mở và hiền hòa. Giữa lòng thung lũng bằng phẳng ấy đột ngột nổi lên ba ngọn đồi đá thiêng tượng trưng cho Rigsum Gonpo (Tam Bộ Hộ Chủ của Mật tông): ngọn Marpo Ri (Hồng Sơn, nơi dựng Cung Potala) ứng với Bồ Tát Quán Thế Âm (Đại Bi), ngọn Chakpo Ri (Thiết Vi Sơn hay Dược Vương Sơn ở phía tây nam) ứng với Bồ Tát Kim Cương Thủ (Đại Lực), và ngọn Bamari (Bongwari) ứng với Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (Đại Trí). Trong thuật xem đất cổ truyền Á Đông, thế núi mọc độc lập giữa đồng bằng có sông lớn bao quanh gọi là Bình Dương Đột Khởi tinh phong (ngọn núi nổi lên giữa đất bằng), nơi long mạch ẩn dưới thung lũng hội tụ toàn bộ sinh khí để phát lộ thành một tụ huyệt thiên tạo.
Xét về sơn hướng và hình thế công trình, ngọn đồi Marpo Ri có dáng hình như một con voi khổng lồ đang nằm phủ phục hoặc một con sư tử tuyết ngẩng đầu. Toàn bộ Cung Potala được xây dựng tọa Bắc hướng Nam, lưng tựa vào dãy núi cao phía bắc (sau lưng chân núi phía bắc còn có hồ nước Long Vương Đàm, tức Lukhang, vốn hình thành từ việc đào đất đá đắp cung thế kỷ 17, tạo thành thế hậu huyền vũ có hồ nước tĩnh lặng). Mặt chính của Potala mở rộng về phương Nam đón trọn ánh nắng mặt trời rực rỡ quanh năm của Thành phố Ánh Nắng Lhasa, nhìn thẳng ra thung lũng sông Kyi Chu làm minh đường và dãy núi phía nam làm tiền án. Những bức tường đá hoa cương vát nghiêng 10 độ mọc liền từ vách đá tự nhiên khiến nhân tạo và thiên tạo hòa làm một: ngọn núi trở thành bệ đá của cung điện, còn cung điện trở thành chóp đỉnh của ngọn núi, đứng vững trước gió bão và địa chấn suốt hơn ba trăm năm.
VCác Kỳ Đại Lễ Phật Giáo Tây Tạng Và Nghi Thức Tẩy Trần Tường Cung Mùa Thu
Đời sống nghi lễ quanh Cung Potala vận hành theo lịch Tây Tạng (Phugpa, một hệ lịch âm dương kết hợp mật điển Thời Luân Kim Cương Kalachakra với lịch pháp Ấn Độ và Trung Hoa). Hằng ngày, dòng người hành hương cầm kinh luân (bánh xe cầu nguyện) đi nhiễu quanh chân núi Hồng Sơn theo chiều kim đồng hồ trên vòng Lingkor và Tsekor, miệng niệm lục tự đại minh chân ngôn Om Mani Padme Hum. Trong năm có bốn kỳ lễ hội và nghi thức truyền thống đặc sắc nhất gắn liền với Potala.
| Thời điểm | Theo lịch nào | Tên đại lễ | Nội dung và nghi thức tại Cung Potala |
|---|---|---|---|
| Tháng Giêng (đặc biệt từ mùng 1 tới 15) | Lịch Tây Tạng (Losar và Đại nguyện Monlam) | Tết Cổ truyền Losar và Lễ Đại Nguyện | Đầu năm mới theo lịch Tây Tạng, chư tăng cử hành khóa lễ cầu an tại các đại điện trong Potala, treo cờ lungta mới và dâng phẩm vật torma bằng bơ mạch nha trước các linh tháp. |
| Tháng Tư (cao điểm ngày rằm 15 tháng 4) | Lịch Tây Tạng (Saga Dawa) | Tháng Thánh Lễ Saga Dawa | Kỷ niệm cả ba sự kiện Đản sinh, Thành đạo và Nhập Niết bàn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Hàng vạn tín đồ từ khắp các thảo nguyên Tây Tạng, Thanh Hải, Tứ Xuyên về đi nhiễu hành tam bộ nhất bái quanh vòng Tsekor dưới chân Cung Potala. |
| Cuối tháng Sáu sang đầu tháng Bảy | Lịch Tây Tạng | Lễ hội Sữa Chua (Shoton) và Lễ Trải Thangka Phật lớn | Kết thúc mùa nhập thất của chư tăng, diễn ra lễ mở bức tranh thêu lụa Phật (Thangka) khổng lồ trên triền núi và trình diễn kịch truyền thống Lhamo. |
| Khoảng tháng Chín (sau mùa mưa, trước ngày 22 tháng 9) | Lịch Tây Tạng (trước Lễ Phật Thiên Giáng Lhabab Duchen) | Nghi thức Quét vôi sữa đường tường Cung Potala | Trước ngày lễ kỷ niệm Đức Phật từ cõi trời Đạo Lợi trở về nhân gian (22 tháng 9 lịch Tạng), hàng trăm tình nguyện viên và người thợ dùng hỗn hợp vôi trắng pha sữa bò tươi, đường đỏ, mật ong và nghệ tây rưới từ trên mái xuống để làm mới toàn bộ tường Bạch Cung và Hồng Cung, vừa chống nứt tường vừa được xem là việc làm tích tập công đức lớn. |
| Ngày 25 tháng Mười | Lịch Tây Tạng | Lễ hội Đèn Bơ (Ganden Ngamchoe) | Tưởng niệm ngày viên tịch của Đại sư Tsongkhapa (Tông Khách Ba, 1357 tới 1419), tổ sáng lập phái Gelug. Khi đêm xuống, hàng vạn ngọn đèn bơ yak được thắp sáng rực trên các bệ cửa sổ của Cung Potala và khắp thành phố Lhasa. |
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 35 đường Beijing Zhonglu (Bắc Kinh Trung Lộ), núi Marpo Ri (Hồng Sơn), quận Chengguan (Thành Quan), thành phố Lhasa, Khu tự trị Tây Tạng (西藏自治区拉萨市城关区北京中路35号)
- Đường tới
- Nằm ngay trung tâm thành phố Lhasa trên đại lộ Bắc Kinh Trung Lộ (Beijing Zhonglu). Từ sân bay Gonggar Lhasa (cách khoảng 60 km) có xe buýt sân bay chạy thẳng về chân núi Hồng Sơn, hoặc từ ga tàu hỏa Lhasa đi xe buýt tuyến số 1, 13, 14 tới trạm Potala.
- Toạ độ
- 29.6578, 91.1169
Cung Potala nằm ở độ cao 3.700 mét, không khí loãng và hành trình tham quan phải leo hơn một nghìn bậc thang đá dốc đứng. Quý vị nên dành ít nhất một tới hai ngày đầu tại Lhasa để cơ thể thích nghi độ cao, đi chậm và mang theo nước ấm. Khi đi nhiễu quanh chân cung hoặc bước vào các gian điện trong Bạch Cung và Hồng Cung, quý vị luôn đi theo chiều kim đồng hồ (từ trái sang phải), bỏ mũ, không mặc quần váy ngắn, không giẫm lên ngưỡng cửa, không chỉ ngón tay thẳng vào tượng Phật và tuyệt đối không chụp ảnh hay quay phim bên trong các gian điện và linh tháp.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Cung Potala, Lhasa
Contribute photos, information or video for Potala PalaceThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tên gọi Potala có nghĩa là gì và liên quan thế nào tới Phật giáo
Tên gọi Potala bắt nguồn từ chữ Phạn Potalaka (kinh chữ Hán dịch là Phổ Đà Lạc Già), tên ngọn núi thiêng trong Kinh Hoa Nghiêm được coi là tịnh độ của Đức Bồ Tát Quán Thế Âm. Vì truyền thống Phật giáo Tây Tạng tôn kính Tán phổ Songtsen Gampo và các đời Đạt Lai Lạt Ma là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm nên ngọn núi Marpo Ri nơi dựng cung điện được đặt tên là Potala.
Sự khác nhau giữa Bạch Cung và Hồng Cung trong Cung Potala là gì
Bạch Cung (Potrang Karpo, sơn vôi trắng, hoàn thành năm 1648) nằm bao quanh hai bên, là khu vực dành cho sinh hoạt, tịnh thất mùa đông của Đạt Lai Lạt Ma, đại sảnh nghi lễ hành chính và trường đào tạo. Hồng Cung (Potrang Marpo, sơn màu đỏ đất ở chính giữa và cao nhất, hoàn thành năm 1694) dành trọn cho mục đích tâm linh, nơi đặt các Phật điện, mạn đà la và 8 linh tháp lưu giữ nhục thân các đời Đạt Lai Lạt Ma.
Trong Cung Potala có bao nhiêu linh tháp của các đời Đạt Lai Lạt Ma
Bên trong Hồng Cung lưu giữ 8 linh tháp (Chorten) chứa nhục thân của các vị Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 5, 7, 8, 9, 10, 11, 12 và 13. Lớn và lộng lẫy nhất là linh tháp của Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 5 (người đại kiến thiết Potala), cao 14,85 mét xuyên qua 3 tầng lầu, được bọc bằng 3.721 kg vàng ròng và khảm hơn 18.000 viên ngọc quý.
Phần cổ xưa nhất từ thế kỷ thứ 7 trong Cung Potala hiện nằm ở đâu
Dù phần lớn kiến trúc hiện hữu được xây từ năm 1645 tới 1694, Cung Potala vẫn giữ nguyên vẹn hai gian thánh thất từ thời Tán phổ Songtsen Gampo thế kỷ thứ 7 nằm ở đỉnh phía tây bắc Hồng Cung: động thiền Chogyel Drupuk (hang đá nơi nhà vua từng nhập thất) và điện Phakpa Lhakhang ngay phía trên (nơi thờ tượng Quán Thế Âm bằng gỗ đàn hương cổ).
Vì sao người dân Tây Tạng lại pha sữa, mật ong và đường vào vôi để quét tường Cung Potala
Hằng năm vào khoảng tháng Chín lịch Tây Tạng (sau mùa mưa lũ và trước lễ Phật Thiên Giáng), người dân và thợ thủ công lại quét mới toàn bộ tường trắng, đỏ, vàng của Potala. Hỗn hợp vôi trắng được pha thêm sữa bò yak, đường đỏ, mật ong và nghệ tây vừa tạo độ kết dính dẻo dai giúp mặt tường chống chịu băng giá cao nguyên, vừa mang ý nghĩa dâng cúng phẩm vật tinh khiết nhất lên chư Phật.