VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Bạch Mã, Lạc Dương

Baima Si, 白马寺, 白馬寺, Bạch Mã Tự, Thích Nguyên Tổ Đình, White Horse Temple, White Horse Temple Luoyang

Ngôi chùa Phật giáo đầu tiên được triều đình dựng trên đất Trung Hoa năm 68 SCN bên ngoài thành cổ Lạc Dương, nơi hai vị cao tăng Thiên Trúc đặt gánh kinh từ lưng ngựa trắng và khai mở lịch sử dịch kinh chữ Hán.

Khởi dựng
Năm 68 SCN
năm Vĩnh Bình thứ 11 thời Hán Minh Đế (Đông Hán)
Danh hiệu
Thích Nguyên, Tổ Đình
nơi ra đời bản dịch Kinh Tứ Thập Nhị Chương
Xếp hạng
Văn vật Trọng điểm đợt 1
Quốc vụ viện Trung Quốc công nhận năm 1961

Đi về phía đông trung tâm thành phố Lạc Dương chừng mười hai cây số, dưới chân núi Mang Sơn hướng ra bờ bắc sông Lạc Thủy, quý vị sẽ gặp một cổng tam quan xây gạch cuốn vòm sơn đỏ, phía trước có đôi ngựa đá trắng đời Tống đứng trầm mặc dưới bóng hòe và bạch quả cổ thụ. Bước qua cổng ấy là một trục sân gạch xanh nối tiếp năm lớp điện cổ lợp ngói xám, khói trầm bay qua những tấm bia đá khắc chữ từ thời Đường, Tống, Kim, Nguyên cho tới đài gạch cao ở cuối chùa mang tên Thanh Lương Đài, nơi gần hai nghìn năm trước những dòng kinh Phật đầu tiên đã được chuyển sang chữ Hán.

Đây là Chùa Bạch Mã (Bạch Mã Tự, 白馬寺, White Horse Temple) tại quận Lạc Long, thành phố Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, ngôi chùa Phật giáo đầu tiên được nhà nước chính thức kiến lập tại Trung Hoa vào năm 68 sau Công nguyên. Trong sử học Phật giáo Đông Á, Bạch Mã Tự được tôn xưng là Thích Nguyên (cội nguồn họ Thích) và Tổ Đình (sân tổ của muôn chùa), điểm khởi đầu cho hành trình lan tỏa đạo Phật từ lưu vực Hoàng Hà sang bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam.

Chùa Bạch Mã, Lạc Dương
Chùa Bạch Mã, Lạc Dương. Ảnh: xiquinhosilva, giấy phép CC BY 2.0, nguồn Wikimedia Commons.

IGiấc Mộng Vua Hán Minh Đế, Đôi Ngựa Trắng Chở Kinh Và Danh Xưng Thích Nguyên Tổ Đình

Chùa Bạch Mã thuộc Phật giáo Bắc truyền (Phật giáo Hán truyền), hiện nay hành trì theo truyền thống Thiền tông và Tịnh Độ tông đại chúng, nhưng ở tầng lịch sử sâu nhất, đây là tổ đình chung của toàn bộ các tông phái Phật giáo chữ Hán. Chính điện của chùa tôn thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đức Phật A Di Đà và Đức Phật Dược Sư, cùng hai vị tổ khai sơn là tôn giả Ca Diếp Ma Đằng (Kāśyapa Mātaṅga) và tôn giả Trúc Pháp Lan (Dharmaratna), hai bậc cao tăng người Thiên Trúc (Ấn Độ cổ đại) đã đem giáo pháp vượt núi Thông Lĩnh tới kinh đô Đông Hán.

Theo sử liệu

Theo các bộ sử liệu cổ như Hậu Hán Thư (quyển Tây Vực truyện), Lạc Dương Già Lam Ký của Dương Huyễn Chi thời Bắc Ngụy và Cao Tăng Truyện của Huệ Kiểu thời Lương, vào năm Vĩnh Bình thứ bảy (64 SCN), hoàng đế Hán Minh Đế (Lưu Trang) nằm mộng thấy một vị thần mình vàng rực rỡ, đỉnh đầu tỏa hào quang như mặt trời bay tới trước điện. Khi hỏi quần thần, thái sử Phó Nghị tấu rằng phương Tây có bậc đắc đạo hiệu là Phật, sắc thân kim sắc. Nhà vua bèn sai trung lang tướng Thái Âm, bác sĩ đệ tử Tần Cảnh và Vương Tuân gồm mười tám người đi sứ về phương Tây cầu pháp.

Tại vùng Đại Nguyệt Thị (Bactria ở Trung Á ngày nay), đoàn sứ giả gặp hai vị sa môn Thiên Trúc là Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan, thỉnh được kinh văn chữ Phạn và bức họa tượng Đức Phật Thích Ca đặt trên lưng ngựa trắng, cùng hai ngài trở về kinh đô Lạc Dương vào năm Vĩnh Bình thứ mười (67 SCN). Ban đầu hai vị cao tăng được đón vào nghỉ tại Hồng Lô Tự, cơ quan tiếp đón sứ thần ngoại quốc của triều đình. Sang năm sau, tức năm Vĩnh Bình thứ mười một (68 SCN), Hán Minh Đế hạ chiếu dựng một ngôi tịnh xá mới bên ngoài cổng Ung Môn ở phía tây thành Lạc Dương cổ để làm nơi hai ngài an cư dịch kinh. Để ghi nhớ công lao của đôi ngựa trắng chở kinh văn vạn dặm, nhà vua đặt tên là Bạch Mã Tự. Cũng từ sự kiện chuyển công sở Hồng Lô Tự sang Bạch Mã Tự, chữ Tự (寺, vốn nghĩa là cơ quan quan thự của triều đình) chính thức trở thành danh từ chỉ ngôi chùa Phật giáo trong tiếng Hán và tiếng Việt (như chùa Quán Sứ, chùa Hồng Phúc Tự).

Theo giáo nghĩa

Tại đài Thanh Lương phía sau chùa Bạch Mã, hai tôn giả Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan đã dịch ra chữ Hán bộ Kinh Tứ Thập Nhị Chương (Sutra of Forty-Two Chapters, Bốn mươi hai chương kinh), bản kinh chữ Hán đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa. Bản kinh gồm 42 đoạn ngắn gọn đúc kết những giáo lý cốt lõi của Phật giáo nguyên thủy và buổi đầu Đại thừa: từ lý vô thường, tứ diệu đế, bát chính đạo, việc đoạn trừ ái dục cho tới lòng từ bi không phân biệt. Hơn một thế kỷ sau, vào thời Tam Quốc (năm 250 SCN), cao tăng Đàm Kha Ca La (Dharmakāla) người Trung Ấn cũng tại chùa Bạch Mã đã dịch bộ Tăng Kỳ Giới Bản và lập giới đàn truyền giới Cụ túc đầu tiên cho người Hán (khởi đầu từ ngài Chu Sĩ Hành, vị tăng nhân Hán tộc đầu tiên đi Tây Vực cầu kinh), biến Bạch Mã Tự thành nơi khai sinh cả Kinh tạng lẫn Luật tạng chữ Hán.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người khi đọc sử thấy ghi Bạch Mã Tự thời Đông Hán nằm ngoài cổng Ung Môn ở phía tây kinh thành Lạc Dương, nhưng nhìn bản đồ ngày nay lại thấy chùa nằm ở phía đông thành phố Lạc Dương hiện đại nên nghi ngờ chùa đã bị dời chỗ. Thực tế, vị trí của chùa Bạch Mã không hề thay đổi suốt gần hai nghìn năm, mà thứ thay đổi chính là vị trí của thành Lạc Dương. Kinh thành Lạc Dương thời Hán Ngụy nằm ở phía đông chùa Bạch Mã ngày nay (nên chùa ở phía tây thành cổ), còn thành phố Lạc Dương hiện đại phát triển trên nền thành Lạc Dương thời Tùy Đường nằm dịch về phía tây khoảng mười lăm cây số (khiến ngôi chùa cổ trở thành điểm nằm ở phía đông thành phố ngày nay).

IIMười Chín Thế Kỷ Thăng Trầm Từ Kinh Đô Đông Hán Tới Đợt Trùng Tu Minh Thanh

Đứng ở trung tâm vùng Trung Nguyên, nơi các triều đại nối nhau tranh đoạt thiên hạ, chùa Bạch Mã đã trải qua nhiều lần binh lửa tàn phá rồi lại được các bậc đế vương, danh tăng và cư sĩ đời sau dựng lại trên chính nền đất cũ thời Hán.

  • 68 SCNKhởi dựng chùa Bạch Mã và dịch Kinh Tứ Thập Nhị Chương
    Năm Vĩnh Bình thứ 11 thời Hán Minh Đế, chùa được dựng ngoài cổng Ung Môn thành Lạc Dương cho hai ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan cư trú, dịch kinh văn đầu tiên sang chữ Hán.
  • 250 tới 280Lập giới đàn đầu tiên và thời kỳ dịch kinh của Trúc Pháp Hộ
    Năm Gia Bình thứ 2 (250) nước Ngụy, ngài Đàm Kha Ca La dịch giới bản và lập đàn truyền giới đầu tiên tại chùa. Từ năm 266 tới 280 thời Tây Tấn, đại dịch sư Trúc Pháp Hộ (Dharmarakṣa) trụ trì tại đây, dịch hàng chục bộ kinh Đại thừa.
  • 685Đại mở rộng dưới thời Võ Tắc Thiên nhà Đường
    Năm Thùy Củng thứ nhất (685), Võ Tắc Thiên sai trùng tu chùa Bạch Mã với quy mô nguy nga như cung điện, cử tăng nhân Tiết Hoài Nghĩa trông coi, vào thời cực thịnh chùa có hơn một nghìn tăng chúng.
  • 1175Dựng lại tháp gạch Tề Vân thời nhà Kim
    Năm Đại Định thứ 15 thời Kim Thế Tông (1175), tháp Tề Vân (vốn là tháp gỗ 9 tầng thời Đường bị cháy cuối thời Bắc Tống) được dựng lại thành tháp gạch 13 tầng mái mật diêm, hiện là công trình cổ nhất còn đứng vững tại Lạc Dương.
  • 1333Văn bia Lạc Kinh Bạch Mã Tự Tổ Đình Ký thời Nguyên
    Năm Chí Thuận thứ 4 đời Nguyên (1333), thiền sư Văn Tài lập bia đá khắc hai chữ Tổ Đình và Thích Nguyên. Cũng trong thời Nguyên, bộ tượng Thập Bát La Hán sơn mài khô (giáp trữ) được tạo tác.
  • 1555Đại trùng tu định hình mặt bằng thời Gia Tĩnh nhà Minh
    Năm Gia Tĩnh thứ 34 (1555), thái giám Hoàng Cẩm phát tâm đại trùng tu toàn bộ năm lớp điện chính và đúc đại hồng chung nặng 2,5 tấn, tạo nên bố cục mặt bằng truyền thừa qua các đợt tu sửa năm 1660 và 1713 thời Thanh.
  • 1961Đơn vị Bảo hộ Văn vật Trọng điểm Toàn quốc đợt 1
    Ngày 4 tháng 3 năm 1961, Quốc vụ viện Trung Quốc công nhận chùa Bạch Mã là Đơn vị Bảo hộ Văn vật Trọng điểm Toàn quốc đợt đầu tiên, rồi từ năm 1972 chùa được trùng tu lớn và sau năm 2005 mở thêm khu Phật điện quốc tế ở phía tây.
Theo sử liệu

Trong quá trình khảo cứu các tư liệu khảo cổ và du lịch, thư viện ghi nhận hai điểm khác biệt về số liệu. Về chiều cao tháp Tề Vân, phần lớn các cẩm nang như Travel China Guide và China Culture ghi tháp cao 25 mét (mặt đáy vuông mỗi cạnh 7,8 mét), trong khi một số hồ sơ đo đạc di tích tỉnh Hà Nam ghi tổng chiều cao tính từ chân đế tới đỉnh chóp bảo bình là 35 mét. Về diện tích khuôn viên, khu chùa cổ truyền thống trong tường đỏ rộng khoảng 40.000 mét vuông (4 héc ta), toàn khu di tích bao gồm vườn tháp Tề Vân ở phía đông nam rộng khoảng 13 héc ta, và nếu gộp cả khu triển lãm Phật điện quốc tế (gồm các ngôi chùa kiểu Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar dựng từ thập niên 1990 tới thập niên 2010 ở phía tây) thì tổng diện tích đạt hơn 20 héc ta (khoảng 200 mẫu Trung Quốc).

IIINăm Lớp Điện Cổ Trục Nam Bắc, Bộ Tượng La Hán Sơn Mài Khô Và Tháp Tề Vân

Khác với những ngôi chùa dựng cheo leo trên sườn núi, chùa Bạch Mã giữ nguyên chuẩn mực già lam đồng bằng cổ điển của vùng Trung Nguyên: mặt bằng hình chữ nhật dài, tường đỏ bao quanh, tọa bắc hướng nam nghiêm cẩn trên một trục thần đạo thẳng tắp. Trước cổng tam quan là đôi ngựa đá trắng cao 1,80 mét, dài 2,20 mét có niên đại từ thời Bắc Tống (vốn được chuyển từ mộ phần của thái sư Văn Ngạn Bác đời Tống về đặt trước chùa năm 1935). Ngay sau cổng, nép dưới bóng cây cổ thụ ở hai phía đông và tây là hai ngôi mộ đá hình tròn của nhị vị tổ sư Ca Diếp Ma Đằng (bên đông) và Trúc Pháp Lan (bên tây), nơi hai vị cao tăng Thiên Trúc viên tịch và an nghỉ ngay trên mảnh đất các ngài đã dành trọn phần đời còn lại để dịch kinh.

Đi dọc theo trục chính từ nam lên bắc, người hành hương lần lượt bước qua năm lớp điện lớn dựng từ thời Minh và Thanh: Thiên Vương Điện, Đại Phật Điện, Đại Hùng Điện, Tiếp Dẫn Điện và trên cùng là Tỳ Lô Các ngự trên nền Thanh Lương Đài. Hai bên trục chính là gác chuông, gác trống, Pháp đường, Tổ đường, Thiền đường và hơn bốn mươi tấm bia đá cổ.

Đại Phật Điện và quả chuông Minh Gia Tĩnh

Tòa điện chính rộng 5 gian, sâu 4 gian, mái lợp ngói xám một tầng diềm kiểu yết sơn đính, dựng lại năm Minh Gia Tĩnh thứ 34 (1555). Chính giữa điện thờ tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bằng đất sét sơn thếp thời Minh, hai bên là tôn giả Ca Diếp, A Nan cùng Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền. Ở góc đông nam trong điện treo quả chuông lớn đúc năm 1555 nặng khoảng 2,5 tấn (5.000 cân cổ), cao 1,65 mét, tương truyền tiếng chuông Bạch Mã Tự vang xa trong sương sớm có thể cộng hưởng với chuông lầu thành Lạc Dương (một trong Tám cảnh đẹp Lạc Dương cổ: Mã Tự Chung Thanh).

Đại Hùng Điện và bộ Thập Bát La Hán sơn mài khô thời Nguyên

Tòa điện thứ ba trên trục chính, nơi lưu giữ bảo vật điêu khắc quý giá nhất của chùa Bạch Mã: 23 pho tượng tạo tác bằng kỹ thuật giáp trữ (sơn mài khô trên cốt vải gai, tiếng Anh gọi là dry lacquer) từ thời nhà Nguyên (thế kỷ 13 tới 14), gồm Tam Thế Phật, hai vị thiên tướng Vi Đà, Thiên Kiều và bộ 18 vị La Hán đặt dọc hai vách đông tây. Mỗi pho tượng La Hán cao từ 1,45 tới 1,56 mét nhưng bên trong rỗng nên chỉ nặng khoảng 3 tới 5 kg, thần thái sống động, nếp áo mềm mại và giữ nguyên sắc vàng son suốt bảy trăm năm mà không hề nứt mối. Đây là bộ tượng Thập Bát La Hán sơn mài khô thời Nguyên duy nhất còn nguyên vẹn tại Trung Quốc.

Thanh Lương Đài và Tỳ Lô Các

Nằm ở cuối trục bắc là một nền đài gạch xanh đắp cao 6 mét, dài 43 mét, rộng 33 mét gọi là Thanh Lương Đài, nơi xưa kia Hán Minh Đế dùng làm hành cung tránh nóng mùa hè rồi nhường lại cho hai vị cao tăng Thiên Trúc làm nơi dịch Kinh Tứ Thập Nhị Chương và cất giữ bản kinh gốc. Trên đỉnh đài là tòa Tỳ Lô Các mái trùng diêm (hai tầng mái) thờ Đức Tỳ Lô Giá Na Pháp Thân Phật cùng tượng hai ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan ở hai điện phối thờ Đông Tây.

Tháp gạch Tề Vân (Qiyun Pagoda) năm 1175

Nằm cách cổng chùa Bạch Mã khoảng 200 mét về phía đông nam, trong khuôn viên Tề Vân Tháp Viện (nay là khu ni viện của chùa). Tháp khởi dựng bằng gỗ 9 tầng từ thời Đường, bị hủy hoại cuối thời Bắc Tống và được dựng lại năm Đại Định thứ 15 thời nhà Kim (1175) thành một tòa tháp gạch 13 tầng mái mật diêm có mặt bằng hình vuông mỗi cạnh 7,8 mét, cao 25 mét (hoặc 35 mét tính cả chóp bảo bình), dáng tháp hơi phình nhẹ ở phần bụng theo đường cong cổ điển thời Đường Tống. Khi đứng cách mặt nam tháp khoảng 20 mét và vỗ tay mạnh, người nghe sẽ thấy tiếng dội lại từ các tầng mái gạch nghe như tiếng ếch kêu (Kim Đề Khuê Minh).

Mộ nhị vị cao tăng Thiên Trúc và rừng bia cổ

Hai gò mộ tròn kè đá xanh từ thời Đông Hán bên trong cổng sơn môn: phía đông là mộ ngài Ca Diếp Ma Đằng (viên tịch năm 73 SCN), phía tây là mộ ngài Trúc Pháp Lan, trước mộ có bia khắc đời Khang Hy năm 1664. Quanh sân còn lưu giữ tấm bia Đứt Văn (Đoạn Văn Bi) của danh thư pháp gia Triệu Mạnh Phủ thời Nguyên và bia trùng tu thời Tống, Kim, Minh.

Bảng tổng hợp các bảo vật và công trình tiêu biểu tại Chùa Bạch Mã. Nguồn: Encyclopædia Britannica, China Culture, Travel China Guide, Wikidata..
Hạng mụcThông số và niên đạiNguồn đối chiếu
Năm khởi dựng chùaNăm 68 SCN (Vĩnh Bình thứ 11 thời Đông Hán)Hậu Hán Thư, Lạc Dương Già Lam Ký, Britannica
Bộ tượng Đại Hùng Điện23 pho tượng sơn mài khô (giáp trữ) thời Nguyên (gồm 18 vị La Hán)Travel China Guide, China Culture
Thanh Lương ĐàiDài 43 m, rộng 33 m, cao 6 m (nơi dịch kinh năm 68 SCN)Hồ sơ di tích chùa Bạch Mã, Travel China Guide
Tháp gạch Tề Vân13 tầng gạch vuông (cạnh đáy 7,8 m), cao 25 m (hoặc 35 m), dựng năm 1175China Culture, Travel China Guide
Chuông đồng Đại Phật ĐiệnĐúc năm Minh Gia Tĩnh thứ 34 (1555), nặng khoảng 2,5 tấnVăn bia chùa Bạch Mã, China Daily
Tọa độ vệ tinh34,7239 độ vĩ Bắc, 112,5997 độ kinh ĐôngWikidata (Q803883), OpenStreetMap

IVThế Đất Và Hướng

Giáo lý Phật giáo nguyên thủy lấy tâm tịnh làm cõi Phật tịnh (Tùy kỳ tâm tịnh tắc Phật độ tịnh), không đặt nặng việc chọn long mạch cát hung theo phong thủy thế tục. Tuy nhiên, khi Hán Minh Đế chọn đất lập chùa Bạch Mã vào năm 68 SCN và các triều đại Đường, Tống, Minh, Thanh quy hoạch lại già lam, công trình đã được đặt vào đúng thế đất vàng bắc tựa Mang Sơn, nam hướng Lạc Thủy của vùng đất đế đô Lạc Dương. Phần dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép hình thế cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét trên đại cuộc sơn hà vùng Hà Lạc (nơi phát xuất Hà Đồ và Lạc Thư trong cổ học Đông phương), thung lũng Lạc Dương là một bồn địa tụ khí tiêu biểu được bao bọc bởi núi và sông. Phía bắc chùa Bạch Mã là dãy Mang Sơn (Bắc Mang Sơn) chạy dài như một bức trường thành đất hoàng thổ, giữ vai trò làm hậu chẩm vững chãi ngăn chặn gió lạnh từ phương bắc và giữ cho mạch khí không bị thoát tán. Phía trước mặt chùa ở hướng nam là dòng Lạc Thủy (sông Lạc) uốn lượn chảy từ tây sang đông trước khi hợp lưu vào sông Hoàng Hà, tạo thành dải ngọc đới thủy (đai ngọc ôm vòng) gom tụ thủy khí cho toàn bộ minh đường bằng phẳng phía nam sơn môn. Thế đất bối sơn diện thủy, tàng phong tụ khí này là nguyên mẫu chuẩn mực nhất cho quy hoạch chùa chiền và kinh đô vùng đồng bằng Hoa Bắc.

Xét về sơn hướng và bố cục nội cục tại tọa độ 34,7239 độ vĩ Bắc, 112,5997 độ kinh Đông, toàn bộ trục thần đạo của chùa Bạch Mã được định vị tọa Bắc hướng Nam (tọa Khảm hướng Ly) thẳng tắp qua năm lớp điện. Địa hình bên trong khuôn viên được thiết kế thấp ở phía trước và nâng cao dần về phía sau: từ cổng tam quan đi qua Thiên Vương Điện, Đại Phật Điện, Đại Hùng Điện, Tiếp Dẫn Điện, mỗi lớp sân lại bước lên thêm vài bậc đá, cho tới điểm kết thúc ở cực bắc là nền Thanh Lương Đài đắp cao tới 6 mét đỡ tòa Tỳ Lô Các. Trong phép hình thế, nền đài cao ở cuối trục vừa đóng vai trò là thiếu tổ sơn (núi đỡ ngay sau lưng chính điện), vừa là tụ huyệt giữ cho mạch khí đi từ cổng nam vào không bị trôi tuột ra phía sau. Phía đông nam chùa có tòa tháp gạch Tề Vân cao vút đứng ở cung Tốn (Đông Nam, thuộc hành Mộc, cung Văn Xương trong lý khí), đóng vai trò như một cây bút văn xương (Văn Bút Phong) trấn giữ thủy khẩu phía hạ lưu sông Lạc, rất tương hợp với lịch sử dịch kinh và khai mở văn hiến Phật giáo của chốn tổ đình.

VCác Kỳ Pháp Hội Truyền Thống Và Tiếng Chuông Bạch Mã Đêm Giao Thừa

Là một ngôi chùa đang có chư tăng tu học và hành trì nghiêm mật, chùa Bạch Mã cử hành đầy đủ các thời khóa công phu sáng chiều và các kỳ đại lễ trong năm theo âm lịch cổ truyền (lịch Phật giáo Bắc truyền Hán ngữ). Nổi tiếng nhất trong đời sống văn hóa vùng Lạc Dương là lễ hội thỉnh chuông cầu an đêm Giao thừa Tết Nguyên Đán, nối tiếp truyền thống Mã Tự Chung Thanh (Tiếng chuông chùa Bạch Mã) đã đi vào thơ ca từ thời Tống, Minh.

Các kỳ lễ tiết chính trong năm tại tổ đình Bạch Mã Tự, Lạc Dương. Nguồn: Ban quản lý Chùa Bạch Mã Lạc Dương, China Culture, Travel China Guide..
Thời điểmTheo lịch nàoTên đại lễNội dung và nghi thức tại chùa
Đêm 30 tháng Chạp sang mùng 1 tháng GiêngÂm lịch (Tết Nguyên Đán)Pháp hội Thỉnh chuông Giao thừa (Mã Tự Chung Thanh)Chư tăng cử hành khóa lễ cầu quốc thái dân an và gióng 108 tiếng chuông đón năm mới nhằm tiêu trừ 108 phiền não của chúng sinh, thu hút hàng vạn Phật tử và người dân Lạc Dương.
Mùng 8 tháng TưÂm lịch (lịch Phật giáo Hán truyền)Đại lễ Phật Đản (Lễ Tắm Phật)Kỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đản sinh. Chư tăng và tín đồ cử hành nghi thức Mộc dục (dùng gáo gỗ múc nước thơm nấu từ các vị hương thảo tưới lên vai tượng thái tử Tất Đạt Đa) tại sân Đại Phật Điện.
Rằm tháng Bảy (15 tháng 7)Âm lịchĐại lễ Vu Lan Bồn (Pháp hội Báo hiếu)Cử hành lễ tụng kinh Vu Lan Bồn, cúng dường trai tăng vào ngày Tự tứ kết thúc mùa An cư kiết hạ và cầu siêu cho cửu huyền thất tổ.
Mùng 8 tháng Chạp (8 tháng 12)Âm lịchLễ Phật Thành Đạo (Lễ Lạp Bát)Kỷ niệm ngày Đức Phật thành đạo dưới cội Bồ Đề. Nhà chùa nấu hàng chục vạn bát cháo Lạp Bát (nấu từ gạo nếp, các loại đậu, hạt sen, táo đỏ, long nhãn) phát miễn phí cho người hành hương và dân cư quanh vùng.

Từ cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, ở khu đất phía tây ngoài tường cổ của Bạch Mã Tự còn có thêm các ngôi Phật điện mang kiến trúc truyền thống của Ấn Độ (mô phỏng đại tháp Sanchi), Thái Lan và Myanmar do chính phủ và tín đồ Phật giáo các nước hữu nghị hiến tặng, biến nơi đón hai vị cao tăng Thiên Trúc năm 68 SCN thành điểm hội tụ của cả các truyền thống Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 6 đường Baimasi (Quốc lộ 310), trấn Baimasi, quận Luolong (Lạc Long), thành phố Luoyang (Lạc Dương), tỉnh Hà Nam (河南省洛阳市洛龙区白马寺镇洛白路6号)
Đường tới
Nằm tại trấn Bạch Mã Tự (Baimasi), quận Lạc Long, cách trung tâm thành phố Lạc Dương khoảng 12 km về phía đông. Từ ga tàu Lạc Dương (Luoyang Railway Station) có thể đi xe buýt tuyến số 56 hoặc từ ga tàu cao tốc Lạc Dương Long Môn (Luoyang Longmen Station) đi xe buýt tuyến số 58 chạy thẳng tới cổng chùa.
Toạ độ
34.7239, 112.5997
Khi tới nơi

Chùa Bạch Mã là chốn tổ đình thanh tịnh có chư tăng đang tu tập. Khi tới chiêm bái, quý vị xin mặc trang phục kín đáo, bước qua ngưỡng cửa gỗ của các điện cổ bằng chân bên cạnh chứ không giẫm thẳng lên bậu cửa. Trong Đại Hùng Điện, bộ tượng Thập Bát La Hán sơn mài khô thời Nguyên là quốc bảo bảy trăm năm tuổi rất nhạy cảm với ánh sáng mạnh và độ ẩm, quý vị tuyệt đối không chạm tay vào tượng và không dùng đèn flash chụp ảnh trong lòng điện.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Bạch Mã, Lạc Dương

Contribute photos, information or video for White Horse Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Vì sao chùa Bạch Mã ở Lạc Dương được gọi là Thích Nguyên và Tổ Đình

Chùa Bạch Mã khởi dựng năm 68 SCN dưới triều Hán Minh Đế, là ngôi chùa Phật giáo đầu tiên do triều đình chính thức lập tại Trung Quốc và là nơi dịch bộ kinh chữ Hán đầu tiên (Kinh Tứ Thập Nhị Chương). Vì đạo Phật từ đây mới lan tỏa khắp Trung Hoa và vùng Đông Á nên chùa được tôn là Thích Nguyên (nguồn cội họ Thích) và Tổ Đình (sân tổ của muôn chùa).

Tên gọi chùa Bạch Mã (Bạch Mã Tự) bắt nguồn từ đâu

Tên chùa được đặt để ghi nhớ công lao của đôi ngựa trắng đã thồ kinh văn chữ Phạn, xá lợi và tranh tượng Phật cùng hai vị cao tăng Thiên Trúc là Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan vượt đường xa vạn dặm từ vùng Đại Nguyệt Thị (Tây Vực) về tới kinh đô Lạc Dương vào năm 67 SCN.

Bộ tượng 18 vị La Hán trong Đại Hùng Điện của chùa có gì đặc biệt

Bộ tượng Thập Bát La Hán cùng Tam Thế Phật và hai vị thiên tướng (tổng cộng 23 pho) trong Đại Hùng Điện được chế tác từ thời nhà Nguyên (thế kỷ 13 tới 14) bằng kỹ thuật giáp trữ (sơn mài khô bồi nhiều lớp vải gai trên cốt đất rồi cậy bỏ cốt đất bên trong). Nhờ kỹ thuật này, mỗi pho tượng cao hơn 1,5 mét chỉ nặng từ 3 tới 5 kg nhưng bền bỉ suốt 700 năm và là bộ tượng La Hán sơn mài khô thời Nguyên duy nhất còn nguyên vẹn tại Trung Quốc.

Công trình cổ nhất còn đứng vững tại chùa Bạch Mã hiện nay là công trình nào

Đó là tháp gạch Tề Vân (Qiyun Pagoda) nằm cách cổng chùa khoảng 200 mét về phía đông nam. Ngôi tháp hiện hữu được dựng lại vào năm Đại Định thứ 15 thời nhà Kim (1175), có 13 tầng mái gạch mật diêm cao 25 mét (hoặc 35 mét tính cả chóp), là công trình kiến trúc cổ trên mặt đất xưa nhất còn tồn tại ở vùng Lạc Dương.

Mộ của hai vị cao tăng Ấn Độ đầu tiên đến Trung Quốc nằm ở đâu

Mộ của hai tôn giả Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan nằm ngay bên trong cổng sơn môn của chùa Bạch Mã: mộ ngài Ca Diếp Ma Đằng nằm ở sân phía đông và mộ ngài Trúc Pháp Lan nằm ở sân phía tây, được kè đá xanh hình tròn dưới bóng cây cổ thụ cùng bia đá khắc từ thời Khang Hy nhà Thanh.

›Đọc Tiếp