VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Núi Ngũ Đài Sơn và Chùa Hiển Thông, Sơn Tây

Wutai Shan, 五台山, 五臺山, Thanh Lương Sơn, 清涼山, Xiantong Si, 显通寺, 顯通寺, Mount Wutai and Xiantong Temple

Ngọn thánh sơn đứng đầu Tứ đại danh sơn Phật giáo Trung Hoa với năm đỉnh núi bằng phẳng vây quanh thung lũng Đài Hoài và ngôi tổ tự Chùa Hiển Thông, nơi Phật giáo Hán truyền và Tạng truyền giao hòa suốt nhiều thế kỷ.

Khởi nguyên
Thế kỷ 1 và thế kỷ 5
tương truyền từ năm 68 SCN, sử liệu khảo cổ xác nhận quy mô lớn thời Bắc Ngụy
Độ cao và kiến trúc
Đỉnh Bắc Đài 3.061,1 mét
nóc nhà Hoa Bắc, Chùa Hiển Thông có Đồng Điện năm 1606 và Vô Lượng Điện
Xếp hạng
Di sản Thế giới UNESCO
ghi danh Cảnh quan Văn hóa năm 2009 (hồ sơ số 1279)

Vượt qua những con đèo uốn lượn trên vùng núi cao đông bắc tỉnh Sơn Tây để tiến vào lòng chảo trấn Đài Hoài ở cao độ gần một nghìn bảy trăm mét, quý vị sẽ thấy mây trắng trôi là là ngang năm sườn núi trọc cỏ xanh phẳng phiu như năm chiếc đài khổng lồ vây tròn bốn phía. Dưới đáy thung lũng bên bờ sông Thanh Thủy, bóng tòa Đại Bạch Tháp trắng muốt vươn cao cạnh bảy lớp điện cổ lợp ngói xám của Chùa Hiển Thông, nơi tiếng chuông đồng U Minh ngân trầm hòa cùng tiếng kèn đồng trầm hùng của các lạt ma áo đỏ vàng vọng xuống từ Bồ Tát Đỉnh trên đồi Linh Thứu.

Đó là Núi Ngũ Đài Sơn và Chùa Hiển Thông (Ngũ Đài Sơn, 五臺山, kinh điển gọi là Thanh Lương Sơn, 清涼山) thuộc huyện Ngũ Đài, thành phố Hãn Châu, tỉnh Sơn Tây. Trong truyền thống Kim Ngũ Đài, Ngân Phổ Đà, Đồng Nga Mi, Thiết Cửu Hoa, Ngũ Đài Sơn đứng vị trí đầu tiên trong Tứ đại danh sơn Phật giáo Trung Hoa, đạo tràng ứng hóa của Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và là vùng thánh địa duy nhất bảo tồn song hành cả Thanh Miếu Hán truyền, Hoàng Miếu Tạng truyền lẫn những tòa kiến trúc gỗ đời Đường cổ nhất còn tồn tại ở Đông Á.

Núi Ngũ Đài Sơn và Chùa Hiển Thông, Sơn Tây
Núi Ngũ Đài Sơn và Chùa Hiển Thông, Sơn Tây. Ảnh: G41rn8, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IĐạo Tràng Đại Trí Văn Thù Bồ Tát, Thanh Lương Sơn Và Sự Hợp Lưu Thanh Hoàng Nhị Miếu

Khác với ba danh sơn còn lại trong Tứ đại danh sơn vốn chỉ thuộc hệ thống Phật giáo Hán truyền, Ngũ Đài Sơn là đạo tràng hội tụ song hành của hai truyền thống lớn: Phật giáo Bắc truyền chữ Hán (gọi là Thanh Miếu hay Hòa thượng miếu, chư tăng mặc hải thanh màu xám xanh hoặc nâu trầm, lấy Chùa Hiển Thông làm tổ đình đứng đầu) và Phật giáo Tây Tạng phái Cách Lỗ (gọi là Hoàng Miếu hay Lạt ma miếu, chư tăng khoác y đỏ vàng và đội mũ vàng, lấy Bồ Tát Đỉnh làm trung tâm). Dù khác biệt về ngôn ngữ tụng niệm và pháp khí nghi quỹ, cả Thanh Miếu lẫn Hoàng Miếu trên toàn dãy núi đều nhất tâm quy ngưỡng một vị giáo chủ tối cao của sơn môn là Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Mañjuśrī), vị Bồ Tát biểu trưng cho trí tuệ Bát nhã sắc bén đoạn trừ vô minh.

Do năm đỉnh núi cao trên dưới ba nghìn mét vây quanh thung lũng đều không có chóp nhọn hiểm trở mà đỉnh núi trải rộng bằng phẳng như mặt đài đất, cổ nhân đã tôn trí trên mỗi đỉnh một hóa thân riêng biệt hợp thành Ngũ Phương Văn Thù: Đông Đài Vọng Hải Phong thờ Thông Minh Văn Thù, Tây Đài Quải Nguyệt Phong thờ Sư Tử Hống Văn Thù, Nam Đài Cẩm Tú Phong thờ Trí Tuệ Văn Thù, Bắc Đài Diệp Đấu Phong thờ Vô Cấu Văn Thù và Trung Đài Thúy Nham Phong thờ Nhu Đồng Văn Thù. Tín đồ hành hương leo đủ năm đỉnh để lễ bái năm vị gọi là Đại Triều Đài, tương đương công đức năm trăm năm tu hành theo tín ngưỡng dân gian.

Theo giáo nghĩa

Uy thế độc tôn của Ngũ Đài Sơn trong thế giới Phật giáo châu Á bắt nguồn từ lời huyền ký trực tiếp trong bộ Kinh Hoa Nghiêm (Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, bản dịch 60 quyển thời Đông Tấn của Phật Đà Bạt Đà La và bản 80 quyển thời Võ Chu của Thực Xoa Nan Đà). Tại phẩm Chư Bồ Tát Trụ Xứ, kinh văn ghi rõ: ở phương Đông Bắc có ngọn núi tên là Thanh Lương Sơn, từ xưa chư Bồ Tát thường trụ tại đó, hiện nay có vị Bồ Tát hiệu là Văn Thù Sư Lợi cùng một vạn quyến thuộc Bồ Tát thường xuyên diễn thuyết diệu pháp. Sở dĩ gọi là Thanh Lương vì mùa hè trên núi vẫn mát lạnh không có nắng gắt như ngọn gió trí tuệ làm dịu tắt lửa phiền não tham sân. Cũng chính tại Chùa Hiển Thông (khi ấy mang tên Đại Hoa Nghiêm Tự) vào cuối thế kỷ 8, vị Tổ thứ tư của Hoa Nghiêm tông là Thanh Lương Quốc Sư Trừng Quán (738 tới 839) đã dành nhiều năm viết bộ Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao đồ sộ, đưa Ngũ Đài Sơn thành tổ đình học thuật của tông Hoa Nghiêm.

Theo sử liệu

Theo bộ Cổ Thanh Lương Truyện của Huệ Tường đời Đường và Quảng Thanh Lương Truyện của Diên Nhất đời Tống, danh tiếng thánh địa Văn Thù tại Ngũ Đài Sơn vang xa khắp Ấn Độ, Tây Tạng, Tân La và Nhật Bản ngay từ thế kỷ 7 tới thế kỷ 9. Năm 676 SCN, cao tăng vùng Kế Tân (Kashmir, Bắc Ấn) là Phật Đà Ba Lợi (Buddhapāla) lặn lội vượt vạn dặm tới Ngũ Đài Sơn cầu chiêm bái chân dung Văn Thù, gặp một cụ già hóa thân dặn ngài quay về Ấn Độ thỉnh bản Phạn Kinh Phật Đỉnh Tối Thắng Đà La Ni đem sang dịch chữ Hán (nay tháp thờ ngài vẫn còn tại chùa Kim Các và văn kinh khắc khắp các kinh tràng đá Ngũ Đài). Tới năm 840, đại sư Nhật Bản Viên Nhân (Ennin, Từ Giác Đại Sư) cũng hành hương lên tận các đài và Chùa Hiển Thông, ghi lại chi tiết cảnh tượng hàng chục đại tự nguy nga trong nhật ký Nhập Đường Cầu Pháp Tuần Lễ Hành Ký.

Chỗ hay hiểu lầm

Người mới tìm hiểu địa lý văn hóa Trung Hoa đôi khi có hai sự nhầm lẫn quen thuộc về Ngũ Đài Sơn. Thứ nhất là nhầm Ngũ Đài Sơn với nhóm Ngũ Nhạc (năm ngọn núi thiêng của Nho giáo và Đạo giáo gồm Thái Sơn, Hoa Sơn, Hành Sơn, Hằng Sơn, Tung Sơn, trong đó Bắc Nhạc Hằng Sơn cũng nằm ở tỉnh Sơn Tây cách Ngũ Đài không xa). Thực tế Ngũ Đài Sơn hoàn toàn thuộc Tứ đại danh sơn Phật giáo chứ không nằm trong Ngũ Nhạc. Thứ hai, khi nhìn ảnh toàn cảnh trấn Đài Hoài thấy tòa Đại Bạch Tháp trắng muốt cao vút nằm sát vách Chùa Hiển Thông, nhiều du khách tưởng Bạch Tháp thuộc Chùa Hiển Thông. Thực ra tòa tháp trắng dựng năm 1301 thời Nguyên ấy nguyên thủy nằm trong viện tháp phía nam của Đại Hoa Nghiêm Tự (tức Chùa Hiển Thông cổ), nhưng từ năm Vĩnh Lạc thứ năm nhà Minh (1407) đã được xây tường tách riêng thành một ngôi chùa độc lập mang tên Tháp Viện Tự.

IIHơn Mười Chín Thế Kỷ Từ Đại Phu Linh Thứu Tự Tới Di Sản Văn Hóa Thế Giới

Trải qua sự bảo trợ đặc biệt của chín vị hoàng đế từng trực tiếp ngự giá lên núi lễ Phật (từ Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế, Tùy Dưỡng Đế tới Khang Hy, Ung Chính, Càn Long, Gia Khánh nhà Thanh), Ngũ Đài Sơn thời cực thịnh đời Đường từng có hơn 300 ngôi chùa, hiện nay vẫn bảo tồn 47 ngôi tự viện cổ trong và ngoài thung lũng Đài Hoài, mở đầu bằng ngôi tổ tự Chùa Hiển Thông.

  • 68 SCN và cuối thế kỷ 5Truyền thuyết lập chùa thời Đông Hán và đại kiến thiết thời Bắc Ngụy
    Tương truyền năm Vĩnh Bình thứ 11 (68 SCN), Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan thấy thế núi giống Linh Thứu ở Ấn Độ nên xin Hán Minh Đế lập Đại Phu Linh Thứu Tự. Khảo cổ và chính sử xác nhận quy mô 12 viện lớn của chùa được Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế mở mang vào cuối thế kỷ 5.
  • 690 tới 705Võ Tắc Thiên đổi tên Đại Hoa Nghiêm Tự, trung tâm Hoa Nghiêm tông
    Do bản dịch mới Kinh Hoa Nghiêm xác nhận rõ Thanh Lương Sơn là trụ xứ Văn Thù, Võ Tắc Thiên ban tên Đại Hoa Nghiêm Tự cho chùa. Cuối thế kỷ 8, đại sư Trừng Quán trụ trì tại đây soạn Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao.
  • 782 và 857Dựng chính điện gỗ chùa Nam Thiền và chùa Phật Quang
    Năm 782 dựng Đại Phật Điện chùa Nam Thiền và năm 857 dựng Đông Đại Điện chùa Phật Quang ở sườn ngoại vi Ngũ Đài, hai tòa kiến trúc khung gỗ đời Đường cổ nhất còn đứng vững tại Trung Quốc đã sống sót qua pháp nạn Hội Xương năm 845.
  • 1271 tới 1301Phật giáo Tây Tạng truyền vào núi và nghệ nhân Nepal dựng Đại Bạch Tháp
    Dưới triều Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt, Quốc sư Bát Tư Ba (Phagpa) đến Ngũ Đài Sơn mở đầu dòng Hoàng Miếu. Năm Đại Đức thứ 5 (1301), kiến trúc sư thiên tài người Nepal A Ni Ca (Araniko) thiết kế tòa Đại Bạch Tháp cao 56,4 mét.
  • 1382 tới 1606Nhà Minh ban tên Đại Hiển Thông Tự, dựng Vô Lượng Điện và đúc Đồng Điện
    Minh Thái Tổ ban tên Đại Hiển Thông Tự. Năm Vạn Lịch thứ 34 (1606), thiền sư Diệu Phong Phúc Đăng chủ trì xây Vô Lượng Điện bằng gạch cuốn vòm không xà và đúc tòa Đồng Điện từ 10 vạn cân đồng cùng năm tháp đồng.
  • 1683 tới 1792Mười một chuyến ngự giá của Khang Hy và Càn Long, hưng thịnh Hoàng Miếu
    Hoàng đế Khang Hy 5 lần và Càn Long 6 lần đích thân lên Ngũ Đài Sơn lễ Văn Thù, cho lợp ngói lưu ly vàng hoàng gia trên Bồ Tát Đỉnh và thống nhất quy chế hòa hợp giữa 10 Hoàng Miếu và hàng chục Thanh Miếu.
  • 2009Ghi danh Cảnh quan Văn hóa Di sản Thế giới UNESCO
    Tháng 6 năm 2009, Núi Ngũ Đài Sơn (bao gồm cụm chùa Đài Hoài với Chùa Hiển Thông, Bồ Tát Đỉnh, Tháp Viện Tự cùng Phật Quang Tự ở ngoại vi) được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới (hồ sơ số 1279).
Theo sử liệu

Về niên đại khởi lập Chùa Hiển Thông và độ cao đỉnh Bắc Đài. Trong quá trình đối chiếu tư liệu, thư viện ghi nhận hai điểm khác biệt giữa truyền thống sơn chí và khảo cổ hiện đại. Thứ nhất, các bộ sơn chí đời Minh Thanh và tấm bia trước chùa đều tôn xưng Hiển Thông Tự khởi dựng từ năm 68 SCN ngang tuổi với Chùa Bạch Mã ở Lạc Dương, trong khi hồ sơ thẩm định của UNESCO (số 1279) và giới sử học hiện đại xác định những bằng chứng vật chất và ghi chép lịch sử xác thực đầu tiên về việc xây dựng Đại Phu Linh Thứu Tự thuộc về triều Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế (trị vì 471 tới 499 SCN). Thứ hai, về độ cao của đỉnh cao nhất Bắc Đài Diệp Đấu Phong, nhiều sách địa lý cũ ghi là 3.058 mét, còn kết quả đo đạc trắc địa quốc gia chuẩn hóa năm 2007 của Cục Đo đạc Bản đồ Nhà nước Trung Quốc xác định chính xác là 3.061,1 mét so với mực nước biển.

IIIBảy Lớp Điện Cổ Chùa Hiển Thông, Vô Lượng Điện Gạch Vòm Và Đồng Điện Vạn Phật

Tọa lạc tại trung tâm trấn Đài Hoài trên diện tích khoảng 43.700 mét vuông (một số nguồn tính cả khu sườn đồi ngoại vi ghi gần 80.000 mét vuông) với hơn bốn trăm gian phòng, Chùa Hiển Thông mang một bố cục kiến trúc cực kỳ độc đáo ngay từ lối vào: thay vì mở cổng sơn môn ở chính nam như thông lệ, cổng Quan Âm Môn kiêm Chung Lầu của chùa lại mở lệch về hướng Đông nhìn ra bờ suối rồi mới dẫn người hành hương rẽ vuông góc nhập vào trục thần đạo Nam Bắc.

Dọc theo trục chính Nam Bắc leo dần lên sườn đồi Linh Thứu là bảy tòa đại điện nối tiếp nhau với bảy phong cách kết cấu hoàn toàn khác biệt, không một điện nào lặp lại điện nào: Quan Âm Điện, Đại Văn Thù Điện (thờ bảy pho tượng Văn Thù), Đại Hùng Bảo Điện (mái trùng diêm gỗ rộng lớn dùng làm nơi cử hành đại pháp hội toàn sơn), Vô Lượng Điện (xây hoàn toàn bằng gạch vòm trắng không gỗ), Thiên Bát Văn Thù Điện, Đồng Điện (đúc hoàn toàn bằng đồng thanh) và trên cùng là Tàng Kinh Các lưu giữ kinh điển cổ cùng bức huyết kinh viết bằng máu lưỡi của tăng nhân.

Vô Lượng Điện (Tòa đại điện gạch cuốn vòm không xà năm 1606)

Kiệt tác kỹ thuật xây gạch thời Minh Vạn Lịch tại lớp sân thứ tư của Chùa Hiển Thông. Nhìn từ bên ngoài, tòa điện có dáng mái gỗ hai tầng 7 gian rộng 28,2 mét, sâu 16,3 mét, cao 20,3 mét với các cụm đấu củng chạm trổ tinh vi, nhưng thực chất toàn bộ tường và mái đều được xây cuốn vòm liên hoàn bằng gạch xanh mài nhẵn, không dùng bất kỳ cây cột hay đòn dông gỗ nào mà lòng điện vẫn mênh mông tôn trí tượng Phật Lư Xá Na.

Đồng Điện và các tòa Đồng Tháp (Đúc từ 10 vạn cân đồng năm 1606)

Nằm trên nền đá cao ở lớp sân thứ sáu, do đại sư Diệu Phong Phúc Đăng vận động vạn gia quyên đồng đúc tại chỗ ở kinh Giang năm 1606 rồi chở về lắp dựng. Điện cao 8,3 mét, rộng 4,7 mét, sâu 4,5 mét từ khoảng 50 tấn đồng thanh, mô phỏng hoàn hảo hai tầng mái ngói, cửa chấn song chạm chim thú hoa cỏ và gắn 10.000 pho tượng Phật đồng nhỏ mạ vàng kín bốn vách trong lòng điện. Trước sân đặt hàng tháp đồng thanh mảnh cao 8 mét tượng trưng năm đài.

Quả chuông đồng U Minh nặng 9.999,5 cân và Thiên Bát Văn Thù

Treo tại Chung Lầu ngay lối vào phía đông chùa là quả chuông đồng lớn nhất Ngũ Đài Sơn đúc thời Minh Vạn Lịch, nặng đúng 9.999,5 cân (chủ ý kém nửa cân so với một vạn cân để giữ phép khiêm cung trước thiên tử), mặt ngoài đúc nổi hơn một vạn chữ Kinh Phật Mẫu Khổng Tước Minh Vương. Tại điện thứ năm tôn trí pho tượng đồng mạ vàng Thiên Bát Văn Thù năm đầu nghìn tay, mỗi bàn tay nâng một bình bát vàng và trong mỗi bát lại hiện một Đức Phật Thích Ca.

Tháp Viện Tự và tòa Đại Bạch Tháp cao 56,4 mét

Nằm sát vách nam Chùa Hiển Thông, trung tâm là ngôi Đại Bạch Tháp xá lợi hình quả chuông úp kiểu Tây Tạng và Nepal cao 56,4 mét (chu vi đáy 83,3 mét, treo 252 chiếc chuông gió bằng đồng ngân vang trong gió núi), do kiến trúc sư người Nepal A Ni Ca thiết kế hoàn thành năm 1301 thời Nguyên, bao quanh chân tháp là hành lang gỗ có hàng trăm kinh luân đồng cho người hành hương xoay cầu phúc.

Bồ Tát Đỉnh trên đỉnh Linh Thứu Phong (Hoàng Miếu cung đình)

Ngự trị trên chóp gò Linh Thứu ngay phía sau Chùa Hiển Thông, tiếp cận qua 108 bậc thang đá dốc đứng. Đây là ngôi Hoàng Miếu đứng đầu hệ Phật giáo Tây Tạng trên Ngũ Đài Sơn, lợp ngói lưu ly vàng óng ánh theo quy chế hoàng cung nhà Thanh, lưu giữ hai tấm bia đá phương bi khắc bốn thứ chữ Hán, Mãn, Mông, Tạng do vua Càn Long ngự bút.

Đông Đại Điện chùa Phật Quang (857) và Đại Điện chùa Nam Thiền (782)

Hai báu vật kiến trúc gỗ đời Đường nằm ở sườn nam khu di sản Ngũ Đài Sơn (huyện Ngũ Đài). Đông Đại Điện chùa Phật Quang dựng năm 857 có hệ đấu củng bảy tầng vươn xa tới hai mét, bên trong bảo tồn nguyên vẹn 35 pho tượng đất tô màu, bích họa và chữ đề tên nữ thí chủ Ninh Công Ngộ từ thời Đường, được vợ chồng học giả Lương Tư Thành khảo sát công bố năm 1937.

Bảng tổng hợp thông số địa lý và kiến trúc tiêu biểu của Núi Ngũ Đài Sơn và Chùa Hiển Thông. Nguồn: Hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO số 1279, Encyclopædia Britannica, China Culture và Ban Quản lý Ngũ Đài Sơn..
Hạng mụcThông số và dữ kiệnNguồn kiểm chứng
Đỉnh cao nhất (Bắc Đài)Diệp Đấu Phong cao 3.061,1 m (số đo cũ 3.058 m), đỉnh cao nhất vùng Hoa BắcCục Đo đạc Bản đồ Trung Quốc, UNESCO Dossier 1279
Quy mô tự viện bảo tồn47 ngôi chùa cổ (gồm cả Thanh Miếu Hán truyền và Hoàng Miếu Tạng truyền)Hồ sơ UNESCO số 1279, Encyclopædia Britannica
Vô Lượng Điện (Chùa Hiển Thông)Xây gạch cuốn vòm không gỗ năm 1606, rộng 28,2 m, sâu 16,3 m, cao 20,3 mHồ sơ di tích Chùa Hiển Thông, Travel China Guide
Đồng Điện (Chùa Hiển Thông)Đúc năm 1606 từ 100.000 cân đồng (~50 tấn), cao 8,3 m, thờ 10.000 tượng Phật nhỏUNESCO Dossier No. 1279, China Culture
Kiến trúc gỗ đời Đường cổ nhấtChính điện Nam Thiền Tự (năm 782) và Đông Đại Điện Phật Quang Tự (năm 857)Hồ sơ UNESCO số 1279

IVThế Đất Và Hướng

Trong kinh điển Đại thừa, Ngũ Đài Sơn được tôn sùng trước hết nhờ lời huyền ký về cõi Thanh Lương của Bồ Tát Văn Thù trong Kinh Hoa Nghiêm chứ không dựa trên lý thuyết phong thủy thế tục. Tuy nhiên, cấu trúc địa mạo tự nhiên của năm đỉnh núi vây quanh thung lũng Đài Hoài và cách mở cổng Chùa Hiển Thông lại thể hiện nghệ thuật quy hoạch sơn thủy sâu sắc của các bậc cao tăng và kiến trúc sư cổ đại. Phần dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép hình thế cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét trên đại cuộc sơn mạch vùng Hoa Bắc tại tọa độ 39,0095 độ vĩ bắc, 113,5891 độ kinh đông, dãy Ngũ Đài Sơn thuộc phần bắc mạch Thái Hàng Sơn nhô cao đột ngột với năm khối núi cổ đại có niên đại địa chất hơn hai tỷ năm. Năm ngọn đài cao từ 2.485 mét tới 3.061,1 mét (Đông Đài, Tây Đài, Nam Đài, Bắc Đài và Trung Đài) xếp thành một vòng cung khép kín ôm lấy thung lũng trấn Đài Hoài ở chính giữa, tạo thành cục thế Ngũ Phong Triều Bão hay Ngũ Liên Phủng Tâm (năm cánh sen đá khổng lồ khum lại che chở cho nhụy sen ở trung tâm). Nhờ vòng tường núi cao ba nghìn mét bao bọc bốn mặt, lòng chảo Đài Hoài trở thành vùng tàng phong tụ khí kín đáo giữa vùng cao nguyên lạnh giá, nơi trăm khe suối tuyết tan từ năm đài hội tụ thành dòng sông Thanh Thủy uốn lượn chảy từ bắc xuống nam tưới mát cho quần thể hàng chục ngôi đại tự.

Xét riêng huyệt điểm của Chùa Hiển Thông ở trung tâm nhụy sen Đài Hoài, từ mạch Bắc Đài và Trung Đài phóng xuống một nhánh đồi hình chim đại bàng xòe cánh gọi là Linh Thứu Phong (trên chóp đặt Bồ Tát Đỉnh). Chùa Hiển Thông nằm ngay dưới chân nam của ngọn Linh Thứu Phong ấy theo trục chính tọa Bắc hướng Nam: sau lưng có đồi Linh Thứu và đỉnh Trung Đài làm thiếu tổ sơn và hậu chẩm cao vút, bên tả (phía đông) có suối Thanh Thủy và dải Đông Đài làm Thanh Long dẫn thủy, bên hữu (phía tây) có sườn Tây Đài làm Bạch Hổ ôm vòng, phía trước mặt nhìn thẳng qua tòa Đại Bạch Tháp trắng muốt đứng như ngọn tháp trấn thủy khẩu hướng về Nam Đài Cẩm Tú Phong làm tiền án xa. Đáng chú ý, việc Chùa Hiển Thông không trổ cổng thẳng ra phía nam (vốn bị vướng nền tháp cổ của Tháp Viện Tự ngay phía trước) mà mở cổng Quan Âm Môn quay sang hướng Đông đón dòng nước sông Thanh Thủy và đường cổ đạo ven suối, trong phép hình thế gọi là phép khai môn nạp thủy, vừa tránh xung trực với bảo tháp phía nam vừa đón trọn sinh khí mặt trời mọc phương đông.

VLễ Vía Văn Thù Tháng Tư, Hội Tháng Sáu Và Hành Trình Đại Triều Đài Của Phật Tử Việt Nam

Vì mùa đông trên Ngũ Đài Sơn kéo dài và tuyết phủ dày khắc nghiệt ở độ cao ba nghìn mét, nhịp sống hành hương và các kỳ đại pháp hội của cả Thanh Miếu lẫn Hoàng Miếu sôi động nhất từ cuối mùa xuân sang mùa thu, tính theo âm lịch cổ truyền. Tại Đại Hùng Bảo Điện của Chùa Hiển Thông, mỗi khi có đại lễ thiên tăng trai hay hội phổ Phật đều quy tụ hàng trăm chư tăng từ khắp các chùa trong thung lũng về đồng tụng.

Các kỳ đại lễ Phật giáo truyền thống trong năm tại Núi Ngũ Đài Sơn và tổ tự Chùa Hiển Thông. Nguồn: Hiệp hội Phật giáo Ngũ Đài Sơn (chinawts.com), Hồ sơ UNESCO số 1279 và China Culture..
Thời điểmTheo lịch nàoTên đại lễÝ nghĩa và nghi thức tại Ngũ Đài Sơn và Chùa Hiển Thông
Mùng 4 tháng TưÂm lịch (lịch Phật giáo Bắc truyền)Đại lễ vía Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi đản sinhNgày khánh đản trọng thể nhất của toàn sơn môn Ngũ Đài. Đêm trước và rạng sáng ngày vía, hàng vạn tín đồ thắp đèn hoa sen, tam bộ nhất bái từ chân đồi lên Chùa Hiển Thông, Tháp Viện Tự và năm đỉnh đài để cầu mở mang trí tuệ và học hành đỗ đạt.
Mùng 8 tháng TưÂm lịchĐại lễ Phật Đản (Lễ Tắm Phật)Liền ngay sau lễ vía Văn Thù bốn ngày, Chùa Hiển Thông cử hành nghi thức Mộc dục Tắm Phật và đại trai đàn cầu quốc thái dân an kéo dài suốt tuần lễ đầu tháng Tư.
Từ mùng 1 tới rằm tháng SáuÂm lịchĐại hội Văn hóa Phật giáo tháng Sáu và vũ điệu Kim Cương (Cham)Mùa cao điểm hành hương tránh nóng Thanh Lương trên núi. Bên cạnh các khóa lễ Hoa Nghiêm tại Chùa Hiển Thông, ngày 14 và 15 tháng Sáu tại Bồ Tát Đỉnh và chùa La Hầu diễn ra nghi thức múa mặt nạ hộ pháp trừ tà (nhảy thần Cham) cổ truyền của chư lạt ma Hoàng Miếu.
Ngày 20 tháng Mười và 22 tháng ChạpÂm lịchLễ vía Bồ Tát Văn Thù xuất gia và thành đạoCác tự viện cử hành khóa tụng Kinh Hoa Nghiêm và thắp vạn ngọn đèn bơ trong tiết đông tĩnh lặng giữa núi tuyết để kỷ niệm công hạnh xuất gia và viên thành chánh giác của Đức Văn Thù.

Sự gắn kết tâm linh sâu đậm với Phật giáo và người hành hương Việt Nam. Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, tư tưởng viên dung vô ngại của Kinh Hoa Nghiêm do Thanh Lương Quốc Sư Trừng Quán chú giải từ Chùa Hiển Thông Ngũ Đài Sơn đã thấm sâu vào nền tảng triết học của các dòng Thiền thời Lý, Trần và hậu Lê. Trên các tòa thượng điện chùa cổ miền Bắc Việt Nam như Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) hay Chùa Tây Phương (Hà Nội), hình tượng Bồ Tát Văn Thù cưỡi sư tử xanh tay cầm gươm trí tuệ hoặc cuốn kinh ngự bên tả Đức Phật (đối xứng với Phổ Hiền cưỡi voi trắng bên hữu) luôn là một trong những đề tài điêu khắc trang nghiêm nhất, nơi các sĩ tử Việt Nam xưa nay vẫn tới cầu trí sáng trước kỳ khoa cử. Vào các tháng mùa hạ từ tháng Tư tới tháng Tám âm lịch hàng năm, rất đông phái đoàn chư tôn đức tăng ni và cư sĩ Việt Nam bay sang Thái Nguyên (Sơn Tây) để lên Chùa Hiển Thông đảnh lễ Đồng Điện và thực hiện cuộc hành hương Triều Ngũ Đài qua năm đỉnh núi mây mù.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Trấn Taihuai (Đài Hoài), huyện Wutai (Ngũ Đài), thành phố Xinzhou (Hãn Châu), tỉnh Sơn Tây (山西省忻州市五台县台怀镇显通寺)
Đường tới
Khu tâm linh trung tâm nằm tại trấn Đài Hoài, huyện Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây. Quý vị có thể bay tới sân bay Ngũ Đài Sơn (Wutaishan Airport tại Định Tương) hoặc sân bay Quốc tế Vũ Túc Thái Nguyên (Taiyuan Wusu Airport, cách núi khoảng 200 km), hoặc đi tàu hỏa tới ga Ngũ Đài Sơn rồi đi xe buýt chuyên tuyến của bến xe du lịch vào thung lũng trấn Đài Hoài.
Toạ độ
39.0095, 113.5891
Khi tới nơi

Dù nằm giữa mùa hè tháng Bảy dương lịch, thời tiết trên năm đỉnh đài cao ba nghìn mét vẫn có thể giảm xuống gần không độ kèm gió mạnh và mưa đá bất chợt (đúng như tên gọi Thanh Lương Sơn), quý vị cần mang theo áo khoác giữ ấm dày và giày leo núi chống thấm. Chùa Hiển Thông, Tháp Viện Tự và Bồ Tát Đỉnh là những chốn tu hành trang nghiêm đang hoạt động: khi đi nhiễu quanh Đại Bạch Tháp và xoay kinh luân phải đi thuận chiều kim đồng hồ (từ trái sang phải), bước qua ngưỡng cửa gỗ của các điện cổ không giẫm lên bậu cửa, và không chụp ảnh trực diện vào tượng thờ hay chư tăng đang tụng kinh bên trong lòng điện.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Núi Ngũ Đài Sơn và Chùa Hiển Thông, Sơn Tây

Contribute photos, information or video for Mount Wutai and Xiantong Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Vì sao Núi Ngũ Đài Sơn đứng đầu trong Tứ đại danh sơn Phật giáo Trung Hoa?

Ngũ Đài Sơn đứng đầu Tứ đại danh sơn (Kim Ngũ Đài, Ngân Phổ Đà, Đồng Nga Mi, Thiết Cửu Hoa) vì được ghi chép trực tiếp trong Kinh Hoa Nghiêm dưới tên gọi Thanh Lương Sơn là đạo tràng trụ xứ của Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (vị Bồ Tát đứng đầu hàng Bồ Tát về trí tuệ), đồng thời có lịch sử kiến lập chùa chiền sớm nhất từ thời Hán và Bắc Ngụy.

Sự khác biệt giữa Thanh Miếu và Hoàng Miếu trên Ngũ Đài Sơn là gì?

Ngũ Đài Sơn là thánh sơn duy nhất hội tụ cả hai truyền thống Phật giáo lớn cùng thờ Bồ Tát Văn Thù: Thanh Miếu (như Chùa Hiển Thông, Tháp Viện Tự) thuộc Phật giáo Bắc truyền chữ Hán với chư tăng mặc áo tràng màu xám xanh hoặc nâu, còn Hoàng Miếu (như Bồ Tát Đỉnh, chùa Thập Phương Đường) thuộc Phật giáo Tây Tạng phái Cách Lỗ với các lạt ma mặc y đỏ vàng và đội mũ vàng.

Chùa Hiển Thông có những bảo vật kiến trúc nào nổi bật nhất?

Là ngôi khai sơn tổ tự lớn nhất và cổ nhất ở trung tâm Đài Hoài, Chùa Hiển Thông nổi tiếng với bảy lớp điện nối tiếp không trùng lặp kiến trúc, tiêu biểu nhất là Vô Lượng Điện xây hoàn toàn bằng gạch cuốn vòm không dùng cột xà gỗ năm 1606, tòa Đồng Điện đúc từ 10 vạn cân đồng (~50 tấn) gắn vạn tượng Phật nhỏ và quả chuông đồng U Minh nặng 9.999,5 cân.

Năm đỉnh đài của Ngũ Đài Sơn có độ cao bao nhiêu và thờ những hóa thân nào?

Năm đỉnh núi có chóp bằng phẳng như mặt đài vây quanh thung lũng Đài Hoài lần lượt thờ Ngũ Phương Văn Thù: Bắc Đài Diệp Đấu Phong cao 3.061,1 mét (đỉnh cao nhất miền Bắc Trung Quốc, thờ Vô Cấu Văn Thù), Trung Đài cao 2.894 mét (Nhu Đồng Văn Thù), Đông Đài cao 2.795 mét (Thông Minh Văn Thù), Tây Đài cao 2.773 mét (Sư Tử Hống Văn Thù) và Nam Đài cao 2.485 mét (Trí Tuệ Văn Thù).

Vì sao quần thể Ngũ Đài Sơn lại sở hữu những tòa kiến trúc gỗ cổ nhất Trung Quốc?

Trong phạm vi khu Di sản Thế giới UNESCO Ngũ Đài Sơn (công nhận năm 2009), nhờ địa thế núi sâu hẻo lánh ít bị ảnh hưởng bởi cuộc pháp nạn Hội Xương năm 845 và chiến tranh các đời sau, hai ngôi chùa ngoại vi là Nam Thiền Tự (chính điện dựng năm 782 SCN) và Phật Quang Tự (Đông Đại Điện dựng năm 857 SCN) đã bảo tồn nguyên vẹn hai tòa điện khung gỗ đời Đường cổ nhất còn đứng vững tại Trung Quốc.

›Đọc Tiếp