VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Hang đá Long Môn, Lạc Dương

Longmen Shiku, 龙门石窟, 龍門石窟, Y Khuyết Thạch Khố, 伊阙, Longmen Grottoes, Longmen Caves Luoyang

Hơn mười vạn pho tượng Phật chạm khắc suốt bốn thế kỷ vào hai vách núi đá vôi kẹp đôi bờ dòng Y Thủy phía nam cố đô Lạc Dương, kết tinh đỉnh cao điêu khắc hoàng gia thời Bắc Ngụy và nhà Đường.

Khởi đục
Năm 493 SCN
khi Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế dời kinh đô từ Bình Thành về Lạc Dương
Quy mô bảo tồn
2.345 hang, 100.000 tượng
kèm hơn 2.800 bia khắc đá, cao nhất là Phật Lư Xá Na 17,14 mét
Xếp hạng
Di sản Thế giới UNESCO
ghi danh năm 2000 theo các tiêu chí văn hóa (i), (ii) và (iii)

Từ trung tâm cố đô Lạc Dương xuôi về phía nam mười hai cây số, quý vị sẽ thấy hai ngọn núi đá vôi sẫm màu vươn ra đối diện nhau như đôi trụ cổng khổng lồ kẹp lấy dòng sông Y Thủy xanh biếc đang lặng lẽ chảy ngược từ nam lên bắc. Men theo lối đá dọc bờ tây rồi bước hết chín mươi chín bậc thang rộng mở lên lưng chừng vách núi, người hành hương sững người trước ánh nhìn từ hòa trầm tĩnh của pho đại tượng Phật Lư Xá Na cao hơn mười bảy mét tạc thẳng vào thớ đá núi lộ thiên, hai bên là chư Bồ Tát, Thiên Vương và Lực sĩ đứng uy nghiêm suốt hơn mười ba thế kỷ.

Đó là Hang đá Long Môn (Long Môn Thạch Khố, 龍門石窟, thời cổ gọi là Y Khuyết, 伊闕) tại quận Lạc Long, thành phố Lạc Dương, tỉnh Hà Nam. Cùng với Hang đá Mạc Cao ở Đôn Hoàng và Hang đá Vân Cương ở Đại Đồng, Long Môn hợp thành Tam đại thạch khố trứ danh nhất của Phật giáo Trung Hoa, nơi chất đá vôi xám xanh mịn màng của vùng Trung Nguyên đã lưu giữ trọn vẹn bước chuyển mình của điêu khắc và thư pháp chữ Hán từ thời Bắc Ngụy tới thời Thịnh Đường.

Hang đá Long Môn, Lạc Dương
Hang đá Long Môn, Lạc Dương. Ảnh: xiquinhosilva, giấy phép CC BY 2.0, nguồn Wikimedia Commons.

IĐức Pháp Thân Lư Xá Na, Lý Tưởng Hoa Nghiêm Và Rừng Bia Phát Nguyện Trên Vách Đá Vôi

Hang đá Long Môn thuộc truyền thống Phật giáo Bắc truyền, phản ánh rõ nét sự dịch chuyển trọng tâm tín ngưỡng Phật giáo Trung Hoa qua bốn trăm năm lịch sử. Ở các hang thời Bắc Ngụy cuối thế kỷ 5 đầu thế kỷ 6 (như Cổ Dương Động và Tân Dương Trung Động), đối tượng tôn thờ chủ đạo là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Đa Bảo (theo tư tưởng Kinh Pháp Hoa) và Bồ Tát Di Lặc giao chân chờ ngày hạ sinh. Bước sang thời nhà Đường thế kỷ 7 và thế kỷ 8, tín ngưỡng Tịnh Độ tông (do đại sư Thiện Đạo hoằng truyền mạnh mẽ tại Trường An và Lạc Dương) khiến số lượng tượng Đức Phật A Di Đà và Bồ Tát Quán Thế Âm tăng vọt gấp nhiều lần, song hành cùng hệ thống giáo lý Hoa Nghiêm tông đặt Đức Phật Lư Xá Na (Tỳ Lô Giá Na, Vairocana) ở vị trí trung tâm pháp giới.

Khác hoàn toàn với chất đá cuội thô ở Đôn Hoàng hay đá sa thạch hạt trung ở Vân Cương, hai ngọn núi Tây Sơn và Đông Sơn ở Long Môn cấu tạo từ đá vôi kết tinh hạt cực mịn có sắc xám xanh tự nhiên và độ cứng cao. Chất liệu đá ưu việt này cho phép những người thợ đá Lạc Dương mài nhẵn bề mặt tượng sáng bóng như ngọc, chạm lộng được từng chuỗi anh lạc mỏng manh, từng đường gân nổi trên cánh tay hộ pháp Kim Cương và đồng thời khắc sâu hàng nghìn bài văn bia sắc nét tới từng nét phẩy nét mác mà không bị phong hóa bong tróc như sa thạch.

Theo giáo nghĩa

Tâm điểm triết học và mỹ học của toàn quần thể Long Môn hội tụ tại đại tượng Phật Lư Xá Na trong khám lớn Phụng Tiên Tự. Trong Kinh Hoa Nghiêm và Kinh Phạm Võng, danh hiệu Lư Xá Na (Rocana hay Vairocana) mang nghĩa là Quang Minh Biến Chiếu hay Tịnh Mãn, tức trí tuệ Pháp thân Phật như ánh mặt trời chiếu khắp mười phương thế giới không chướng ngại, mỗi cánh sen trên đài tòa nâng đỡ một cõi Ta Bà, trong mỗi cõi lại có hóa thân Phật Thích Ca thuyết pháp. Việc tạc đại tượng Lư Xá Na lộ thiên hướng thẳng về phía mặt trời mọc phương đông trên vách Tây Sơn vừa thể hiện giáo nghĩa Phật quang phổ chiếu muôn loài, vừa gửi gắm khát vọng trị quốc thái bình thịnh trị của vương triều nhà Đường tại Đông Đô Lạc Dương.

Theo sử liệu

Lịch sử đổi tên từ Y Khuyết sang Long Môn gắn liền với quy hoạch kinh đô cổ đại. Thời Tiên Tần và Hán Ngụy, hẻm núi nơi sông Y chảy qua giữa hai ngọn núi được gọi là Y Khuyết (Cổng khuyết trên sông Y). Tới năm Đại Nghiệp nguyên niên nhà Tùy (605 SCN), Tùy Dưỡng Đế Dương Quảng cho xây dựng Đông Đô Lạc Dương mới, lấy cổng Đoan Môn của Tử Vi Thành và cầu Thiên Tân gióng trên một trục thẳng tắp nhìn về hẻm núi phía nam. Nhìn từ lầu thành hoàng cung thấy hai ngọn núi sừng sững như cổng rồng chầu về đế khuyết nên đặt tên là Long Môn. Tấm văn bia Hà Nam Phủ Long Môn Sơn Đại Lư Xá Na Tượng Khám Ký khắc năm Khai Nguyên thứ 10 (722 SCN) ngay bên trái bệ tượng Phụng Tiên Tự xác nhận rõ: ngày mùng một tháng Tư năm Hàm Hanh thứ ba (672), Hoàng hậu Võ Tắc Thiên đã xuất hai vạn quan tiền chi phấn riêng để trợ tạo đại khám công đức của Đường Cao Tông, cử hai cao tăng Thiện Đạo và Pháp Lâm chủ trì giám sát và hoàn mãn vào ngày 30 tháng Chạp năm Thượng Nguyên thứ hai (675 SCN).

Chỗ hay hiểu lầm

Du khách chiêm bái Phụng Tiên Tự thường truyền tai nhau giai thoại rằng gương mặt của Đại Phật Lư Xá Na chính là chân dung trực tiếp của Võ Tắc Thiên. Xét nghiêm cẩn về sử liệu, không có văn bia nhà Đường nào ghi rằng thợ đá tạc mặt hoàng hậu làm mặt Phật, bởi vào năm 672 tới 675 bà vẫn đang ở ngôi Hoàng hậu của Đường Cao Tông (mười lăm năm trước khi xưng đế lập nhà Võ Chu năm 690). Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu mỹ thuật chỉ ra sự giao thoa rất thực tế: việc bà trực tiếp bỏ hai vạn quan tiền riêng bảo trợ công trình trong thời điểm nắm quyền đồng nhiếp chính khiến các nghệ nhân hoàng gia tự nhiên dung hợp chuẩn mực thẩm mỹ phong mãn đoan trang (khuôn mặt đầy đặn, mày ngài cong thanh, ánh mắt nhìn xuống bao dung mà uy quyền) của bậc mẫu nghi thời Thịnh Đường vào diện mạo Đức Pháp Thân Phật.

IIBốn Trăm Năm Tạo Tác Từ Cuộc Dời Đô Bắc Ngụy Tới Hoàng Kim Thời Đường

Nếu Chùa Bạch Mã ở phía đông Lạc Dương đánh dấu buổi bình minh đạo Phật đặt chân tới Trung Hoa năm 68 SCN, thì Hang đá Long Môn ở phía nam Lạc Dương lại ghi dấu chặng đường trưởng thành rực rỡ nhất của điêu khắc Phật giáo bản địa: khoảng 30 phần trăm số hang tạo tác thời Bắc Ngụy và khoảng 60 phần trăm tạo tác thời nhà Đường.

  • 493 tới 494 SCNBắc Ngụy Hiếu Văn Đế dời đô về Lạc Dương và mở Cổ Dương Động
    Tháng 9 năm Thái Hòa thứ 17 (493), Hiếu Văn Đế quyết định dời kinh đô từ Bình Thành (Đại Đồng) về Lạc Dương. Hoàng gia, quý tộc Tiên Ti và chư tăng bắt đầu đục khám tạc tượng tại Cổ Dương Động trên vách Tây Sơn.
  • 500 tới 523Huy động 80 vạn công thợ tạc Tân Dương Trung Động
    Bắc Ngụy Tuyên Vũ Đế hạ chiếu đục ba hang hoàng gia (Tân Dương Tam Động) cầu phúc cho Hiếu Văn Đế và Văn Chiêu Hoàng hậu. Riêng hang giữa hoàn thành sau 24 năm với hơn 802.300 ngày công, định hình phong cách tú cốt thanh tượng.
  • 575Khắc các bài thuốc cổ đầu tiên tại Dược Phương Động
    Từ năm Vũ Bình thứ 6 thời Bắc Tề (575) kéo sang đầu thời Đường, chư tăng y học khắc khoảng 140 phương thuốc trị bệnh cứu người lên hai vách cửa Dược Phương Động để bá tánh sao chép.
  • 672 tới 675Đường Cao Tông và Võ Tắc Thiên kiến tạo đại khám Phụng Tiên Tự
    Quần thể chín pho đại tượng đá vôi tại Phụng Tiên Tự do cao tăng Thiện Đạo và Pháp Lâm trông coi hoàn tất vào cuối năm Thượng Nguyên thứ 2 (675), đưa nghệ thuật chạm khắc đá vôi nhà Đường lên đỉnh cao bất hủ.
  • 680 tới 712Hoàn thành Vạn Phật Động và Khán Kinh Tự bên Đông Sơn
    Năm Vĩnh Long nguyên niên (680), tỳ kheo ni Trí Vận hoàn thành Vạn Phật Động với 15.000 tượng Phật nhỏ. Cuối thời Võ Chu sang thời Đường Huyền Tông, Khán Kinh Tự bên bờ Đông Sơn được đục chạm 29 bức phù điêu Tổ sư Thiền tông.
  • 832 tới 846Thi hào Bạch Cư Dị trùng tu chùa Hương Sơn và an nghỉ tại Long Môn
    Đại thi hào Bạch Cư Dị đem toàn bộ tiền nhuận bút viết văn bia tặng bạn để trùng tu Hương Sơn Tự bên Đông Sơn, tự xưng Hương Sơn Cư Sĩ và sau khi tạ thế năm 846 được an táng trên đỉnh Tỳ Bà Phong.
  • 1961 và 2000Văn vật Trọng điểm đợt 1 và Di sản Thế giới UNESCO
    Năm 1961, Hang đá Long Môn được xếp vào đợt đầu tiên Đơn vị Bảo hộ Văn vật Trọng điểm Toàn quốc. Tháng 11 năm 2000, UNESCO chính thức ghi danh Long Môn là Di sản Thế giới (hồ sơ số 1003).
Theo sử liệu

Về sự chênh lệch con số thống kê hang và tượng giữa các thời kỳ khảo sát. Trong các tài liệu xuất bản giữa thế kỷ 20, số lượng di tích tại Long Môn thường được dẫn là 1.352 hang động, 785 khám thờ và khoảng 97.300 pho tượng. Tới cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, Viện Nghiên cứu Hang đá Long Môn tiến hành đo vẽ số hóa toàn diện từng vách đá cao trên cả Tây Sơn và Đông Sơn, công bố bộ số liệu chuẩn được UNESCO sử dụng trong hồ sơ số 1003 gồm: 2.345 hang và khám thờ, hơn 100.000 pho tượng Phật (có kích thước trải từ 2 xăng ti mét tới 17,14 mét), hơn 2.800 tấm bia và minh văn khắc đá cùng hơn 60 ngôi tháp đá Phật giáo.

Về những mất mát đầu thế kỷ 20 và sự hồi hương bảo vật. Vào các thập niên 1920 và 1930, nhiều phù điêu đầu Phật cùng hai bức đại phù điêu kiệt tác Hiếu Văn Đế lễ Phật đồ và Văn Chiêu Hoàng hậu lễ Phật đồ trong Tân Dương Trung Động từng bị đục trộm bán ra nước ngoài (hiện hai bức phù điêu rước lễ trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan và Bảo tàng Nghệ thuật Nelson-Atkins ở Hoa Kỳ). Những năm gần đây, thông qua hợp tác văn hóa và công nghệ quét 3D độ phân giải cao, nhiều cổ vật lẻ đã được trao trả về nước và các bức phù điêu thất lạc được phục dựng mô hình số chính xác để người xem hiểu rõ chỉnh thể ban đầu.

IIIĐại Khám Phụng Tiên Tự, Thư Pháp Ngụy Bi Và Rừng Khám Đá Đôi Bờ Y Thủy

Toàn bộ khu di tích Long Môn phân bố dọc hai sườn núi kẹp lấy khúc sông Y Thủy dài chừng một cây số: bờ tây là Tây Sơn (Long Môn Sơn, tập trung hơn 85 phần trăm số hang động trọng yếu cả thời Bắc Ngụy lẫn thời Đường) và bờ đông là Đông Sơn (Hương Sơn, gồm các hang thời Đường, chùa Hương Sơn và vườn mộ Bạch Cư Dị), nối liền với nhau qua hai cây cầu bắc ngang sông ở đầu nam và đầu bắc để tạo thành tuyến tham quan khép kín một chiều.

Về mặt cấu trúc không gian, khác với kiểu hang trụ tháp trung tâm phổ biến ở Đôn Hoàng và Vân Cương, các hang lớn tại Long Môn hầu hết được tạc theo mặt bằng hình móng ngựa hoặc hình vuông vòm cong (như lòng điện thờ mở rộng), hoặc phá bỏ hẳn vách chắn phía trước để tạo thành đại khám lộ thiên khổng lồ như Phụng Tiên Tự. Trên vách đá chung quanh các hang hoàng gia, hàng nghìn khám nhỏ do các hội Phật tử bình dân (ấp nghĩa), thương nhân, ni sư phát tâm thuê thợ đục nối tiếp nhau như tổ ong, kèm theo bia đá ghi rõ ngày tháng và lời cầu nguyện cụ thể.

Phụng Tiên Tự và Đại tượng Phật Lư Xá Na cao 17,14 mét

Đại khám lộ thiên lớn nhất Long Môn (rộng khoảng 36 mét, sâu 41 mét) trên sườn Tây Sơn, hoàn thành năm 675. Chính giữa là Đức Phật Lư Xá Na cao 17,14 mét (đầu cao 4 mét, tai dài 1,9 mét), hai bên phối trí đối xứng hoàn hảo tám pho đại tượng: nhị vị đệ tử Ca Diếp trầm mặc và A Nan hiền hậu, hai vị Bồ Tát đội bảo quan hoa lệ, Thiên Vương tay nâng bảo tháp giẫm lên dạ xoa và Lực sĩ Kim Cương cơ bắp cuồn cuộn.

Tân Dương Tam Động (Ba hang hoàng gia đầu thế kỷ 6)

Nằm ở phía bắc Tây Sơn, gồm Tân Dương Trung Động (hoàn thành năm 523 thời Bắc Ngụy) và hai hang Nam, Bắc hoàn thiện tiếp vào thời Tùy và sơ Đường. Tượng Phật Thích Ca ngồi chính giữa Tân Dương Trung Động mang gương mặt thanh tú, cổ thon, vai xuôi mềm mại trong tà áo Hán phục xếp nếp tầng tầng buông phủ xuống bệ đá (phong cách huyền thường tọa), tiêu biểu cho cuộc cải cách mỹ thuật Hán hóa thời Hiếu Văn Đế.

Cổ Dương Động và kho tàng thư pháp Long Môn Nhị Thập Phẩm

Hang động khai đục sớm nhất tại Long Môn (từ năm 493), cải tạo từ một hang karst đá vôi tự nhiên. Trên vách bắc, vách nam và cả trên trần hang phủ kín hàng trăm khám tượng nhỏ đục lộng tinh xảo, đặc biệt lưu giữ 19 trên 20 bài minh văn chọn lọc gọi là Long Môn Nhị Thập Phẩm, kiệt tác chuyển giao chữ Hán từ Lệ thư sang Khải thư với đường dao mạnh mẽ vuông vức.

Vạn Phật Động (năm 680) và Liên Hoa Động

Vạn Phật Động hoàn thành năm 680 dưới thời Đường Cao Tông, trên hai vách bắc nam chạm nổi chỉnh tề hơn 15.000 pho tượng Phật nhỏ li ti (pho nhỏ nhất chỉ cao 2 xăng ti mét), còn vách hậu chạm 54 cành sen mọc lên từ mặt nước đỡ 54 vị Bồ Tát. Cách đó không xa là Liên Hoa Động thời Bắc Ngụy với đóa sen đá chạm nổi đường kính hơn 3 mét nở bung trên đỉnh trần vòm.

Dược Phương Động (Hang đá khắc 140 phương thuốc cổ)

Thạch thất nhỏ nhưng mang giá trị nhân văn và khoa học độc nhất vô nhị. Ngay hai bên lối vào hang khắc khoảng 140 bài thuốc y học cổ truyền từ thế kỷ 6 tới thế kỷ 7 (tương đồng nhiều phương thuốc trong Trửu Hậu Bị Cấp Phương và Thiên Kim Phương), dùng thảo dược, khoáng vật thông thường để trị hơn 40 chứng bệnh cấp tính và mạn tính cho người hành hương.

Khán Kinh Tự, Chùa Hương Sơn và Bạch Viên bên Đông Sơn

Trên vách Đông Sơn, Khán Kinh Tự giữ nguyên 29 bức phù điêu chạm nổi các vị Tổ sư truyền đăng từ Ấn Độ với dáng đi sinh động khác hẳn vẻ tĩnh tại thường thấy. Phía bắc Đông Sơn là ngôi Hương Sơn Tự ẩn giữa rừng tùng bách nhìn thẳng sang Phụng Tiên Tự bên kia sông, nối liền khu Bạch Viên có mộ tròn của thi hào Bạch Cư Dị.

Bảng tổng hợp thông số quy mô và điêu khắc tiêu biểu của Quần thể Hang đá Long Môn, Lạc Dương. Nguồn: Hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO số 1003, Viện Nghiên cứu Hang đá Long Môn (lmsk.cn) và Smarthistory..
Hạng mụcThông số và dữ kiệnNguồn kiểm chứng
Chiều dài toàn khu vựcHơn 1.000 m dọc hai bờ Tây Sơn và Đông Sơn kẹp sông Y ThủyHồ sơ UNESCO số 1003, Viện Nghiên cứu Long Môn
Số lượng hang và tượng2.345 hang và khám thờ, hơn 100.000 pho tượng đá (cao từ 2 cm tới 17,14 m)UNESCO, Viện Nghiên cứu Hang đá Long Môn (lmsk.cn)
Văn bia và tháp đáHơn 2.800 bia khắc minh văn (tiêu biểu là Long Môn Nhị Thập Phẩm) và hơn 60 tháp PhậtUNESCO, Encyclopædia Britannica
Đại Phật Phụng Tiên TựTượng Lư Xá Na cao 17,14 m, đầu cao 4 m, tai dài 1,9 m (tạc năm 672 tới 675)Văn bia năm 722 tại Phụng Tiên Tự, Smarthistory
Chất liệu địa chấtĐá vôi kết tinh hạt mịn kỷ Cambri và Ordovic màu xám xanhHồ sơ UNESCO số 1003

IVThế Đất Và Hướng

Phật giáo Đại thừa quan niệm Pháp thân Phật hiện diện khắp hư không pháp giới chứ không bị giới hạn bởi phương hướng cát hung thế tục. Tuy nhiên, việc các triều đại Bắc Ngụy, Tùy và Đường chọn hẻm núi Y Khuyết cách kinh thành Lạc Dương mười hai cây số về phía nam để kiến tạo đại đạo tràng đá vôi lại gắn chặt với quy hoạch trục vũ trụ của đế đô Trung Nguyên. Phần dưới đây đối chiếu địa thế thực địa của Long Môn theo phép xem hình thế cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét trên đại cuộc sơn thủy tại tọa độ 34,5556 độ vĩ bắc, 112,4697 độ kinh đông, hai ngọn núi Long Môn Sơn (Tây Sơn, thuộc mạch nối từ dãy Hùng Nhĩ Sơn) và Hương Sơn (Đông Sơn, thuộc nhánh dãy Tung Sơn) vươn ra kẹp sát hai bờ sông tạo thành một thủy khẩu quan tỏa tự nhiên vô cùng chặt chẽ ở cửa ngõ phía nam bồn địa Lạc Dương. Điểm đặc biệt bậc nhất của thủy pháp nơi đây là dòng Y Thủy không chảy xuôi về nam hay đông nam như đa số sông ngòi Hoa Bắc, mà chảy thẳng từ Nam lên Bắc xuyên qua khe núi để tiến về phía kinh thành Lạc Dương rồi hợp lưu vào sông Lạc Thủy. Trong phép xem hình thế kinh đô thời Tùy Đường, dòng sông chảy ngược từ phương nam chầu thẳng về chính điện hoàng cung gọi là thế nghịch thủy triều đường, còn hai ngọn núi đá vôi đối xứng hai bên chính là đôi Thiên Khuyết (cổng trời tự nhiên) giữ không cho sinh khí bồn địa Lạc Dương thất tán về phương nam.

Xét về sơn hướng từng cụm hang, toàn bộ dải hang chủ lực bên bờ Tây Sơn (gồm Cổ Dương Động, Tân Dương Tam Động, Vạn Phật Động và đại khám Phụng Tiên Tự) đều được tạc vào sườn núi phía đông theo thế tọa Tây hướng Đông: lưng tựa vững chãi vào khối núi đá vôi Long Môn Sơn làm hậu chẩm, phía trước lấy mặt nước sông Y Thủy phẳng lặng rộng chừng hai trăm mét làm nội minh đường tụ thủy, và lấy ngọn Hương Sơn xanh rợp bóng tùng bên kia bờ đông làm tiền án kiêm triều sơn gần gũi. Ngược lại, cụm Khán Kinh Tự và chùa Hương Sơn trên bờ Đông Sơn lại đặt theo thế tọa Đông hướng Tây nhìn sang Phụng Tiên Tự. Hai vách núi một âm một dương đối diện nhau qua làn nước biếc, sáng sớm ánh bình minh vượt đỉnh Hương Sơn rọi thẳng vào gương mặt từ bi của Đại Phật Lư Xá Na, chiều buông bóng nắng lại phủ vàng vách đá Đông Sơn, tạo nên một chỉnh thể cảnh quan trang nghiêm hài hòa hiếm thấy.

VMùa Phật Đản Bên Sông Y, Mùa Hoa Mẫu Đơn Và Dấu Chân Cầu Pháp Xưa Nay

Ngày nay các hang đá ở Tây Sơn và Khán Kinh Tự được bảo vệ nghiêm ngặt như bảo tàng điêu khắc ngoài trời không đốt hương nến sát vách đá, trong khi sinh hoạt tụng niệm Phật sự truyền thống vẫn diễn ra tại ngôi cổ tự Hương Sơn Tự trên sườn Đông Sơn theo âm lịch, kết hợp cùng các lễ hội văn hóa mùa xuân truyền thống của cố đô Lạc Dương.

Các kỳ lễ tiết Phật giáo và truyền thống văn hóa thường niên tại khu di tích Hang đá Long Môn, Lạc Dương. Nguồn: Viện Nghiên cứu Hang đá Long Môn (lmsk.cn), UNESCO và chính quyền văn hóa thành phố Lạc Dương..
Thời điểmTheo lịch nàoTên lễ tiết và sự kiệnÝ nghĩa và sinh hoạt tại khu vực Long Môn
Mùng 8 tháng TưÂm lịch (lịch Phật giáo Bắc truyền)Đại lễ Phật Đản (Lễ Tắm Phật)Chư tăng và tín đồ tại Hương Sơn Tự cử hành khóa lễ Mộc dục Tắm Phật cầu quốc thái dân an, trong khi hàng vạn Phật tử hành hương chiêm bái đại tượng Lư Xá Na bên bờ Tây Sơn.
Suốt tháng Tư hàng nămDương lịch (tiết Thanh Minh và Cốc Vũ)Mùa hội Hoa Mẫu Đơn Lạc Dương và du xuân Long MônTruyền thống thưởng ngoạn hoa mẫu đơn và vãn cảnh Long Môn hình thành từ thời Đường, Bắc Tống (được Âu Dương Tu và Tư Mã Quang ghi trong thơ văn), là mùa hành hương đông đảo nhất trong năm tại đôi bờ Y Thủy.
Rằm tháng Bảy (15 tháng 7)Âm lịchLễ Vu Lan Bồn báo hiếuTưởng nhớ truyền thống hàng nghìn bài tượng ký khắc đá của người xưa tại Cổ Dương Động và Tân Dương Động nhằm hồi hướng công đức báo ân cha mẹ nhiều đời.
Tiết Trùng Dương (mùng 9 tháng Chín)Âm lịchLễ tưởng niệm thi hào Bạch Cư Dị và đăng cao Hương SơnGiới văn nhân, nhà thư pháp tưởng niệm Hương Sơn Cư Sĩ Bạch Cư Dị tại Bạch Viên và chiêm ngưỡng nghệ thuật thư pháp Ngụy bi Long Môn.

Dấu ấn giao lưu lịch sử với tăng sĩ Giao Châu và người hành hương Việt Nam. Dưới triều Đường và Võ Chu, khi đại khám Phụng Tiên Tự vừa hoàn thành, Đông Đô Lạc Dương là trung tâm Phật học sầm uất bậc nhất thế giới, nơi đại sư Nghĩa Tịnh biên soạn bộ Đại Đường Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng Truyện ghi lại hành trạng của sáu vị cao tăng người Giao Châu (Việt Nam cổ đại) là các ngài Vận Kỳ, Giải Thoát Thiên, Khuy Xung, Huệ Diễm, Trí Hành và Đại Thừa Đăng trên mạng lưới cầu pháp nối liền Đại Đường, Giao Châu và Thiên Trúc (trong đó ngài Đại Thừa Đăng từng theo sứ bộ nhà Đường từ Giao Châu sang Trường An thụ giáo đại sư Huyền Trang trước khi sang Ấn Độ). Về mặt mỹ thuật chữ viết, phong cách thư pháp Ngụy bi cứng cỏi của Long Môn Nhị Thập Phẩm cũng truyền sang Việt Nam qua các bản rập mực chữ Hán, góp phần định hình lối viết hoành phi, câu đối và bia đá tại nhiều đình chùa miền Bắc và miền Trung thời Nguyễn. Ngày nay, các đoàn hành hương Phật giáo Việt Nam khi tới Hà Nam luôn kết hợp chiêm bái tổ đình Chùa Bạch Mã buổi sáng và Hang đá Long Môn buổi chiều trong cùng một hành trình về nguồn.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 13 đường Longmen Zhongjie, hai bờ sông Yi (Y Thủy), quận Luolong (Lạc Long), thành phố Luoyang (Lạc Dương), tỉnh Hà Nam (河南省洛阳市洛龙区龙门中街13号)
Đường tới
Hang đá Long Môn nằm ở phía nam quận Lạc Long, cách trung tâm thành phố Lạc Dương khoảng 12 km và chỉ cách ga tàu cao tốc Lạc Dương Long Môn (Luoyang Longmen Railway Station) khoảng 4 km. Từ ga tàu cao tốc Lạc Dương Long Môn, quý vị có thể đi xe buýt tuyến 71, 67 hoặc taxi chỉ mất khoảng 10 tới 15 phút là tới Trung tâm Dịch vụ Du khách phía tây bắc khu di tích.
Toạ độ
34.5556, 112.4697
Khi tới nơi

Lộ trình tham quan chuẩn tại Long Môn đi theo vòng tròn một chiều dài khoảng bốn cây số: vào từ cổng Tây Bắc đi dọc vách đá Tây Sơn tới Phụng Tiên Tự, qua cầu Mạn Thủy sang Đông Sơn thăm Khán Kinh Tự, Hương Sơn Tự, Bạch Viên rồi về lại quảng trường lễ tân. Khu vực Tây Sơn có nhiều bậc đá lên xuống khá dốc sát bờ sông, quý vị nên mang giày đế mềm chống trượt. Mọi hành vi sờ tay lên bề mặt đá vôi, rập mực trực tiếp lên bia cổ hay bước vào bên trong hàng rào chắn bảo vệ khám tượng đều bị nghiêm cấm để tránh mồ hôi tay làm ăn mòn thớ đá nghìn năm.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Hang đá Long Môn, Lạc Dương

Contribute photos, information or video for Longmen Grottoes, Luoyang

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Hang đá Long Môn bắt đầu được đục từ năm nào và trải qua những triều đại nào?

Hang đá Long Môn bắt đầu được khai đục vào khoảng năm 493 SCN khi Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế dời kinh đô từ Bình Thành (Đại Đồng) về Lạc Dương. Hoạt động tạc tượng kéo dài hơn 400 năm qua các triều đại Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề, Tùy, Đường, Ngũ Đại tới Bắc Tống, trong đó khoảng 30 phần trăm số hang thuộc thời Bắc Ngụy và khoảng 60 phần trăm thuộc thời nhà Đường.

Pho tượng lớn nhất tại Hang đá Long Môn cao bao nhiêu và thờ vị Phật nào?

Pho tượng lớn nhất là đại tượng Đức Pháp Thân Phật Lư Xá Na (Tỳ Lô Giá Na, Vairocana) ngự tại đại khám lộ thiên Phụng Tiên Tự trên sườn Tây Sơn, hoàn thành năm 675 SCN dưới triều Đường Cao Tông và Võ Tắc Thiên. Tượng cao 17,14 mét, riêng phần đầu cao 4 mét và đôi tai dài 1,9 mét, được tôn vinh là kiệt tác điêu khắc đá vôi tiêu biểu nhất thời Thịnh Đường.

Vì sao gương mặt Đại Phật Lư Xá Na thường được gắn với hình ảnh Võ Tắc Thiên?

Văn bia khắc năm 722 tại Phụng Tiên Tự ghi rõ vào năm 672, Hoàng hậu Võ Tắc Thiên đã hiến hai vạn quan tiền chi phấn riêng để trợ tạo công trình đại khám này. Dù bia không chép việc lấy mặt bà làm mẫu trực tiếp, giới nghiên cứu nhận định các nghệ nhân cung đình đã kết hợp nét đẹp đầy đặn, từ hòa nhưng uy nghi của bậc mẫu nghi thời Đường vào diện tướng của Đức Phật Lư Xá Na.

Long Môn Nhị Thập Phẩm và Dược Phương Động có giá trị đặc biệt gì?

Long Môn Nhị Thập Phẩm là 20 bài minh văn khắc đá chọn lọc thời Bắc Ngụy (19 bài nằm trong Cổ Dương Động), đại diện đỉnh cao cho thể chữ Ngụy bi khỏe khoắn chuyển tiếp từ Lệ thư sang Khải thư. Còn Dược Phương Động ngay kế bên lại khắc khoảng 140 phương thuốc y học cổ truyền thế kỷ 6 và 7 lên vách cửa hang để người dân tự chép về chữa bệnh.

Hiện nay Hang đá Long Môn còn giữ được bao nhiêu hang khám và pho tượng?

Theo số liệu kiểm kê số hóa chính thức của Viện Nghiên cứu Hang đá Long Môn và hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO số 1003 (năm 2000), toàn khu vực hai bờ Tây Sơn và Đông Sơn hiện bảo tồn 2.345 hang và khám thờ, hơn 100.000 pho tượng Phật lớn nhỏ (từ 2 xăng ti mét tới 17,14 mét), hơn 2.800 tấm bia minh văn và hơn 60 ngôi tháp đá.

›Đọc Tiếp