Khi con thuyền rời bến xuôi ra khoảng mặt nước mênh mông của hồ Ba Bể, giữa bốn bề núi đá vôi dựng đứng và rừng nguyên sinh trùng điệp, quý vị sẽ thấy một hòn đảo nhỏ nhô cao chừng ba mươi mét ngay giữa lòng hồ, phủ kín bóng cây cổ thụ xanh thẫm. Cập thuyền vào bến đá dưới chân đảo rồi bước chậm theo những bậc thang đá rêu phong xuyên qua tán rừng già, một ngôi đền mái cong lợp ngói vảy rồng hiện ra tĩnh mặc giữa tiếng sóng vỗ rì rào và hương trầm quyện trong sương núi.
Đó là Đền An Mã, mà đồng bào Tày quanh vùng hồ vẫn trìu mến gọi là Đền An Mạ. Không chỉ là điểm tựa tâm linh nằm ở vị trí trung tâm của Di tích quốc gia đặc biệt Danh lam thắng cảnh Hồ Ba Bể, ngôi đền trên đảo đá này còn lưu giữ một trang sử bi tráng của thế kỷ 17: nơi nhân dân vùng hồ lập đền tưởng niệm các vị trung thần nhà Mạc đã tuẫn tiết tại động Puông, khéo léo đổi chữ họ Mạc sang họ Ma để giữ trọn đạo nghĩa với người đã khuất qua hàng trăm năm biến thiên triều đại.
IBi Sử Trung Thần Nhà Mạc, Dòng Họ Ma Và Hệ Thống Phối Thờ Giữa Hồ Ba Bể
Giữa không gian sơn thủy kỳ vĩ của hồ Ba Bể (tiếng Tày gọi là Slam Pé, tức ba hồ nước Pé Lầm, Pé Lù và Pé Lèng thông nhau), Đền An Mã là nơi hội tụ hai lớp ký ức sâu đậm của cư dân bản địa: lớp huyền thoại khai thiên lập địa về sự hình thành hồ Ba Bể và lớp lịch sử trung nghĩa thời phân tranh Lê - Mạc cuối thế kỷ 16 sang thế kỷ 17.
Theo truyền thuyết dân gian người Tày về Sự tích Hồ Ba Bể, thuở xưa vùng đất Nam Mẫu vốn là một thung lũng phẳng lặng. Trong một kỳ lễ hội Vô Giá của làng, có một bà lão ăn xin rách rưới tới xin ăn nhưng bị dân làng xua đuổi, duy chỉ có hai mẹ con Bà Góa nghèo khổ mở lòng đón bà lão vào nhà cho ăn nghỉ. Đêm ấy bà lão hiện nguyên hình là Giao Long báo trước sắp có trận đại hồng thủy nhấn chìm thung lũng, đồng thời trao cho hai mẹ con một gói tro bếp để rắc quanh nhà và hai mảnh vỏ trấu. Khi nước lũ đột ngột dâng lên làm sụt lún cả vùng thành biển nước mênh mông, nền nhà của hai mẹ con Bà Góa nổi cao dần thành hòn đảo giữa hồ, còn hai mảnh vỏ trấu thả xuống nước hóa thành hai chiếc thuyền độc mộc để hai mẹ con chèo đi cứu giúp dân làng thoát nạn. Hòn đảo nổi lên giữa lòng hồ Pé Lù, Pé Lầm ấy chính là đảo An Mã, nơi người dân lập miếu thờ đầu tiên để tri ân thần linh và lòng nhân từ cứu nhân độ thế.
Trên nền không gian linh thiêng của hòn đảo cổ, lớp lịch sử chính thống làm nên tên tuổi và cốt cách của Đền An Mã lại gắn liền với vương triều nhà Mạc vào cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17. Năm 1592, sau khi rút khỏi kinh thành Thăng Long, lực lượng nhà Mạc di chuyển lên trấn giữ vùng núi Đông Bắc, lấy Cao Bằng và Bắc Kạn làm căn cứ địa lâu dài. Trong cuộc giao tranh quyết liệt với quân Lê - Trịnh dọc theo tuyến thủy đạo sông Năng chảy xuyên qua động Puông để vào hồ Ba Bể, các vị tướng lĩnh và trung thần nhà Mạc bị vây hãm trong thế cùng lực kiệt. Quyết không đầu hàng để giữ trọn khí tiết trung quân, các vị tướng sĩ nhà Mạc đã chọn cách tuẫn tiết ngay tại động Puông.
Cảm phục tấm lòng trung liệt của các bậc nghĩa sĩ, đồng bào Tày quanh hồ Ba Bể đã dựng ngôi đền trên hòn đảo giữa hồ để hương khói tưởng niệm. Tuy nhiên, dưới sự kiểm soát gắt gao của triều đình Lê - Trịnh sau khi bình định vùng thượng du, việc công khai lập đền thờ tướng sĩ nhà Mạc cũng như mang họ Mạc đều có nguy cơ bị khép vào tội phản nghịch và chịu họa tru di. Để bảo toàn tính mạng cho hậu duệ và giữ gìn ngôi đền khỏi bị triệt phá, người dân địa phương đã đổi họ Mạc sang họ Ma, nói với quan quân triều đình rằng ngôi đền trên đảo là nơi thờ cúng tổ tiên và các bậc tiền nhân họ Ma có công khai phá vùng hồ, đồng thời gọi tên đền là An Mạ.
Hai cách giải nghĩa danh xưng An Mã và An Mạ
Tên gọi của ngôi đền và hòn đảo giữa hồ Ba Bể mang hai tầng ngữ nghĩa song hành rất thú vị giữa tiếng Tày và chữ Hán. Theo tiếng đồng bào Tày bản địa, An Mạ có nghĩa là mồ yên mả đẹp, tức nơi an nghỉ thanh tịnh, vĩnh hằng giữa non xanh nước biếc dành cho hương hồn các vị trung thần họ Mạc (họ Ma) đã vị quốc vong thân tại động Puông. Cách giải thích này gắn chặt với đạo lý uống nước nhớ nguồn và lòng trắc ẩn của người dân miền núi đối với những bậc anh hùng lỡ vận.
Cách giải thích thứ hai đọc theo âm Hán Việt là An Mã (安馬, nghĩa là con ngựa đứng yên hay ngựa bình an). Nhìn từ trên cao hoặc từ thuyền lướt trên mặt hồ, toàn bộ khối đảo đá vôi cao khoảng 30 mét với phần đầu nhô cao và phần lưng thoai thoải giữa làn nước trong xanh trông hệt như một con tuấn mã đang dừng chân lội nước một cách thư thái, hoặc giống như chiếc mai rùa khum lại chở che cho ngôi đền cổ trên lưng. Cả hai cách gọi An Mạ và An Mã đều được sử liệu địa phương và nhân dân trân trọng lưu truyền như hai mặt của cùng một biểu tượng văn hóa.
Trải qua hơn ba thế kỷ, Đền An Mã phát triển thành một trung tâm tín ngưỡng tổng hợp theo mô hình tiền Phật, hậu Thánh, hậu Mẫu. Bên cạnh việc tưởng niệm các vị trung thần nhà Mạc (họ Ma), ngôi đền phối thờ Đức Phật, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Tam Tòa Thánh Mẫu, Mẫu Thượng Ngàn, Chúa Sơn Trang và Đức Thánh Trần Hưng Đạo. Sự hội tụ của chư Phật, chư Thánh, chư Mẫu cùng các vị trung thần lịch sử trên một hòn đảo giữa hồ phản ánh tâm thức bao dung của văn hóa tâm linh Việt Nam: nơi lòng từ bi của Phật giáo và quyền năng che chở của Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải ôm ấp, hóa giải mọi bi kịch phân tranh lịch sử thành sự bình an cho muôn dân.
Không ít du khách lần đầu nghe tên Đền An Mã thường lầm tưởng đây chỉ là một ngôi miếu nhỏ thờ thần sông nước hoặc thờ ngựa thần của người miền núi. Thực chất, giá trị lịch sử cốt lõi của Đền An Mã nằm ở câu chuyện hậu duệ và trung thần nhà Mạc đổi sang họ Ma tại vùng Bắc Kạn, Cao Bằng thế kỷ 17. Ngày nay, cộng đồng người Tày mang họ Ma (gốc họ Mạc) vẫn sinh sống đông đúc quanh vùng hồ Ba Bể và coi Đền An Mã là chốn tổ linh thiêng ghi dấu cội nguồn dòng tộc mình.
IIBốn Thế Kỷ Từ Ngôi Đền Cổ Thời Lê - Mạc Tới Di Tích Quốc Gia Đặc Biệt
Lịch sử Đền An Mã gắn liền với lịch sử vùng căn cứ địa của nhà Mạc ở trấn Thái Nguyên và trấn Cao Bằng xưa, cũng như quá trình bảo tồn danh lam thắng cảnh Hồ Ba Bể trong thời kỳ hiện đại. Khởi dựng từ thế kỷ 17 sau biến cố động Puông, ngôi đền ban đầu được cư dân bản địa dựng bằng gỗ rừng quý trên đỉnh đảo đá vôi, lợp ngói âm dương và ngói vảy rồng truyền thống để làm nơi hương khói bốn mùa.
Trải qua hàng trăm năm mưa nắng khắc nghiệt của khí hậu núi cao cùng những biến động lịch sử thế kỷ 20, kiến trúc gỗ nguyên thủy của ngôi đền cổ trên đảo An Mã dần bị hư hại và xuống cấp nặng nề, có thời điểm chỉ còn lại nền móng đá, bậc thang cổ và các bát hương thờ lộ thiên dưới gốc cây đại thụ. Trước nguyện vọng thiết tha của nhân dân vùng hồ Ba Bể và con cháu dòng họ Mạc (họ Ma) trên cả nước, vào các năm 2006 và 2007, tỉnh Bắc Kạn cũ đã triển khai dự án trùng tu, phục dựng toàn diện Đền An Mã ngay trên nền móng cổ xưa của đảo, khánh thành đúng vào dịp mở hội xuân năm Đinh Hợi 2007.
Về vị thế pháp lý di sản, Đền An Mã là hạt nhân văn hóa tâm linh nằm trọn trong vùng lõi của Vườn quốc gia Ba Bể. Ngày 27 tháng 9 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1419/QĐ-TTg xếp hạng Danh lam thắng cảnh Hồ Ba Bể là Di tích quốc gia đặc biệt (đợt 3). Tiếp đó, Lễ hội Lồng Tồng Ba Bể gắn liền với nghi thức rước lễ từ Đền An Mã cũng được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2014. Từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội về sáp nhập tỉnh Bắc Kạn với tỉnh Thái Nguyên và Nghị quyết số 1683/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xã Nam Mẫu cùng các xã Cao Thượng, Khang Ninh được hợp nhất thành xã Ba Bể thuộc tỉnh Thái Nguyên, đưa Đền An Mã trở thành di sản tiêu biểu ở cực bắc của tỉnh Thái Nguyên mới.
- Cuối thế kỷ 16 (1592)Nhà Mạc rút lên căn cứ địa Đông BắcSau khi rời kinh thành Thăng Long năm 1592, vương triều nhà Mạc rút lực lượng lên vùng núi Bắc Kạn, Cao Bằng để duy trì chính quyền và tổ chức phòng tuyến dọc sông Năng, hồ Ba Bể.
- Thế kỷ 17Biến cố động Puông và khởi dựng Đền An MãCác vị tướng sĩ, trung thần nhà Mạc tuẫn tiết tại động Puông trong cuộc giao tranh với quân Lê - Trịnh. Nhân dân địa phương lập đền thờ trên đảo giữa hồ Ba Bể, đổi họ Mạc sang họ Ma và gọi tên đền là An Mạ (An Mã).
- Thế kỷ 18 - 19Mở rộng phối thờ Phật, Thánh, MẫuNgôi đền gỗ lợp ngói vảy rồng trên đảo trở thành trung tâm tín ngưỡng của cư dân vùng hồ, phối thờ Phật, Ngọc Hoàng, Tam Tòa Thánh Mẫu, Chúa Sơn Trang, Đức Thánh Trần và các vị trung thần họ Mạc.
- 2006 - 2007Đại trùng tu Đền An Mã với diện tích biểu trưng 54 m²Phục dựng khang trang ngôi đền chính trên nền móng cổ với chiều dài 9 mét, chiều rộng 6 mét (diện tích 54 mét vuông tượng trưng cho 54 dân tộc Việt Nam), cổng tam quan và hệ thống bậc đá.
- 2012Xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt Danh thắng Hồ Ba BểNgày 27 tháng 9 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1419/QĐ-TTg xếp hạng Danh lam thắng cảnh Hồ Ba Bể (bao gồm đảo và Đền An Mã) là Di tích quốc gia đặc biệt.
- 2014Lễ hội Lồng Tồng Ba Bể thành Di sản phi vật thể quốc giaBộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận Lễ hội Lồng Tồng Ba Bể, trong đó nghi thức rước lễ từ Đền An Mã là phần cốt lõi, vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
IIIKiến Trúc Ngôi Đền 54 Mét Vuông Giữa Rừng Nguyên Sinh Đảo Đá
Khác với những ngôi đền lớn nằm giữa đồng bằng hay đô thị, kiến trúc của Đền An Mã lấy sự hài hòa tuyệt đối với thiên nhiên hoang sơ của đảo đá vôi giữa hồ Ba Bể làm nguyên tắc tối thượng. Hòn đảo An Mã là một khối núi đá vôi karst nhô lên cao khoảng 30 mét so với mặt nước hồ, toàn bộ sườn đảo được bao phủ bởi hệ thực vật rừng nguyên sinh nhiệt đới với những cây nghiến, cây trai, cây đa cổ thụ hàng trăm năm tuổi bám rễ chặt vào vách đá.
Từ bến thuyền dưới chân đảo phía nam, du khách bước qua cổng trụ biểu rồi men theo hệ thống bậc đá uốn lượn dưới vòm lá rừng mát rượi để lên tới đỉnh đảo. Quần thể kiến trúc trên đảo được bố trí gọn gàng trên khoảng đất phẳng cao nhất của sống lưng ngựa đá, bao gồm cổng Tam quan, sân bái, nhà bia và tòa Đền chính.
Con số biểu tượng 54 mét vuông và không gian thờ tự bên trong
Điểm độc đáo nhất trong thiết kế phục dựng Đền An Mã giai đoạn 2006 tới 2007 là kích thước mặt bằng của tòa đền chính. Ngôi đền được dựng với chiều dài đúng 9 mét và chiều rộng đúng 6 mét, tạo thành diện tích mặt sàn chính xác là 54 mét vuông. Trong kiến trúc truyền thống phương Đông, số 9 (Cửu) là con số cực Dương biểu trưng cho trời và sự trường cửu, số 6 (Lục) là con số Âm biểu trưng cho đất và tài lộc, còn tích số 54 mét vuông mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc cho sự đoàn kết của 54 dân tộc anh em trên dải đất Việt Nam cùng hội tụ về chốn non nước Ba Bể.
Về kết cấu và vật liệu, đền mang phong cách kiến trúc cổ truyền Bắc Bộ kết hợp sắc thái vùng cao với hệ thống cột cái, cột quân, xà kèo bằng gỗ tứ thiết vững chãi, mái đền uốn cong mềm mại lợp ngói vảy rồng (ngói mũi hài) đỏ thẫm, trên bờ nóc đắp lưỡng long chầu nguyệt, các đầu đao vút cong hình đuôi phượng và đầu rồng. Phía trước cửa đền treo các bức hoành phi, câu đối chữ Hán ca ngợi cảnh đẹp thần tiên của đảo ngọc Ba Bể và khí tiết trung nghĩa của các bậc tiền nhân.
Bên trong không gian 54 mét vuông của đền chính, hệ thống ban thờ được bài trí trang nghiêm theo từng lớp: chính giữa cao nhất là ban thờ Phật và Ngọc Hoàng Thượng Đế, tiếp đến là ban thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, Mẫu Thượng Ngàn và Chúa Sơn Trang cai quản miền rừng núi, hồ nước Ba Bể. Hai bên phối thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo cùng ban thờ các vị trung thần, tướng sĩ nhà Mạc (họ Ma). Ngoài ra, trong khuôn viên đền còn có nhà bia ghi lại lịch sử khởi dựng và trùng tu ngôi đền để du khách thập phương tường lãm.
Bến cập thuyền dưới chân đảo đá vôi nối liền với lối bậc thang đá uốn lượn qua những gốc cây cổ thụ trăm năm tuổi dẫn lên đỉnh đảo An Mã.
Cổng đền thiết kế theo lối truyền thống với mái đao cong lợp ngói vảy rồng, mở ra khoảng sân gạch nhỏ thanh tịnh nhìn xuống mặt nước hồ Ba Bể bốn phía.
Công trình trung tâm có chiều dài 9 mét, chiều rộng 6 mét (diện tích 54 mét vuông tượng trưng cho 54 dân tộc anh em), dựng bằng khung gỗ tứ thiết, mái lợp ngói vảy rồng uốn cong.
Không gian nội điện tôn trí ban thờ Phật, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Tam Tòa Thánh Mẫu, Chúa Sơn Trang, Đức Thánh Trần và bài vị tưởng niệm các vị trung thần họ Mạc (họ Ma).
Nơi đặt tấm bia đá khắc ghi sự tích đảo An Mã, câu chuyện bi tráng của các tướng sĩ nhà Mạc tại động Puông và công đức trùng tu ngôi đền năm 2006 tới 2007.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện Vạn Đạo Đường theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền dựa trên địa hình thực tế của hồ Ba Bể, không phải nội dung chép trong văn bia của đền. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt giữa tư liệu lịch sử và kiến giải hình thế.
Xét tại tọa độ 22,4053 độ vĩ Bắc và 105,6153 độ kinh Đông, Đền An Mã tọa lạc trên một cục đất thuộc hàng kỳ hiếm nhất của địa lý phong thủy Việt Nam: thế thủy trung kết huyệt (kết huyệt ngay giữa lòng nước lớn) kết hợp hình tượng thiên mã ẩm thủy (ngựa trời lội nước) hay kim quy phù thủy (rùa vàng nổi giữa mặt hồ). Hồ Ba Bể vốn là một hồ kiến tạo karst tự nhiên khổng lồ nằm ở độ cao khoảng 145 mét so với mực nước biển, được bao bọc bốn phía bởi những dãy núi đá vôi trùng điệp cao từ 500 đến hơn 1.000 mét. Trong phép xem sơn thủy, toàn bộ lòng hồ Ba Bể rộng hàng trăm héc-ta chính là một đại minh đường tụ thủy khổng lồ không bao giờ cạn, còn bốn bề núi đá vôi vây quanh là bức trường thành tự nhiên giữ cho gió không thổi tán khí (tàng phong tụ khí).
Giữa đại minh đường mênh mông ấy, khối đảo đá vôi An Mã đột ngột trồi lên ở vị trí trung tâm khu vực hồ Pé Lù và Pé Lầm như một viên ngọc quý nằm giữa lòng chảo nước. Ngôi đền đặt trên sống lưng đảo, đón trọn thủy khí trong lành từ bốn phương tám hướng hội tụ về, trong khi những tán rừng nguyên sinh dày đặc trên đảo lại đóng vai trò che chắn giúp âm dương trên đảo luôn cân bằng. Hướng chính của đền nhìn ra khoảng mặt nước rộng mở phía nam và đông nam, lấy các dãy núi đá vôi bên bờ hồ làm tiền án và triều sơn trùng điệp. Đặt một ngôi đền tưởng niệm các vị tướng sĩ tuẫn tiết vì nước ngay trên lưng ngựa đá giữa lòng hồ tĩnh lặng là cách cổ nhân mượn sự vĩnh hằng, thanh lương của nước hồ Ba Bể để làm dịu đi nỗi bi thương lịch sử, biến nơi thác oanh liệt ở động Puông thành chốn An Mạ (mồ yên mả đẹp) ngàn thu.
VLễ Rước Thần Đền An Mã Trong Hội Xuân Lồng Tồng Ba Bể Và Lễ Chính Mùng 6 Tháng Hai
Trong đời sống văn hóa tâm linh của đồng bào Tày, Nùng, Dao, Mông vùng hồ Ba Bể, Đền An Mã giữ vai trò là trung tâm khởi phát của các nghi lễ mùa xuân. Sự kiện trọng đại nhất trong năm gắn liền với ngôi đền là Lễ hội Lồng Tồng Ba Bể (hội xuống đồng), một Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia diễn ra từ ngày mùng 9 đến ngày 11 tháng Giêng âm lịch (trọng tâm là hai ngày mùng 9 và mùng 10 tháng Giêng) tại cánh đồng bản Bó Lù ven hồ.
Nghi thức linh thiêng mở màn cho toàn bộ Lễ hội Lồng Tồng Ba Bể chính là Lễ rước thần và rước mâm cỗ từ Đền An Mã. Vào ngày mùng 9 và sáng mùng 10 tháng Giêng, các vị bô lão, thầy Tào và đại diện các thôn bản trong trang phục truyền thống sắc chàm đi thuyền ra đảo An Mã để cử hành lễ xin phép thần linh, dâng hương tưởng niệm các vị tiền nhân và thỉnh rước hương linh chư thần từ Đền An Mã xuống thuyền. Đoàn thuyền rước cờ hội rực rỡ lướt trên mặt nước xanh biếc của hồ Ba Bể đưa kiệu lễ về khu vực sân hội bản Bó Lù, nơi hàng chục mâm cỗ truyền thống (với xôi ngũ sắc, bánh giầy, bánh khẩu sli, cá nướng hồ Ba Bể, thịt lợn quay) được dâng cúng thần Nông, thần Núi, thần Sông và cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.
| Thời điểm âm lịch | Tên lễ hội / nghi thức | Không gian và nội dung hành lễ |
|---|---|---|
| Mùng 9 đến 10 tháng Giêng | Lễ rước thần Đền An Mã và Hội Lồng Tồng Ba Bể | Làm lễ dâng hương tại Đền An Mã trên đảo, rước lễ bằng thuyền qua mặt hồ Ba Bể về cánh đồng bản Bó Lù để khai hội xuống đồng, tung còn, đua thuyền độc mộc và hát Then. |
| Mùng 6 tháng 2 âm lịch | Lễ hội chính Đền An Mã (Lễ giỗ tướng sĩ nhà Mạc) | Ngày lễ riêng trọng đại nhất của đền nhằm tưởng niệm các vị trung thần, tướng sĩ nhà Mạc (họ Ma) đã tuẫn tiết tại động Puông, với sự tham dự của đông đảo con cháu dòng họ Mạc, họ Ma và nhân dân vùng hồ. |
| Rằm tháng Giêng và tháng Ba | Lễ cầu an đầu xuân và Tiệc Mẫu tháng Ba | Phật tử và du khách đi thuyền ra đảo dâng hương lễ Phật, lễ Tam Tòa Thánh Mẫu và Chúa Sơn Trang cầu bình an, tài lộc. |
| Rằm tháng Bảy âm lịch | Lễ Vu Lan và cầu siêu | Tụng kinh cầu siêu cho hương hồn các tướng sĩ tử nạn trên sông Năng, động Puông và cửu huyền thất tổ của cư dân vùng hồ. |
| Tháng Chạp âm lịch | Lễ tạ cuối năm trên đảo An Mã | Nhân dân xã Ba Bể (Nam Mẫu cũ) dâng lễ vật tạ ơn thần linh đã phù hộ cho một năm sóng yên gió lặng, bản làng ấm no. |
Bên cạnh hội Lồng Tồng tháng Giêng, Đền An Mã còn có ngày Lễ hội riêng vào ngày mùng 6 tháng 2 âm lịch hằng năm. Đây là ngày chính kỵ tưởng niệm các vị trung thần và tướng sĩ nhà Mạc đã tuẫn tiết vì nghĩa lớn. Vào ngày này, không chỉ đồng bào Tày quanh hồ mà cả đại diện Hội đồng Mạc tộc Việt Nam và con cháu dòng họ Mạc, họ Ma từ nhiều tỉnh thành cũng vượt đường xa về đảo An Mã dâng hương bái tổ, ôn lại trang sử bi tráng của cha ông giữa tiếng đàn Tính và làn điệu hát Then ngân vang trên sóng nước Ba Bể.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đảo An Mã giữa hồ Ba Bể, xã Ba Bể (trước đây thuộc xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn cũ), tỉnh Thái Nguyên
- Đường tới
- Đền tọa lạc trên đảo An Mã giữa lòng hồ Ba Bể thuộc xã Ba Bể (xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn cũ), tỉnh Thái Nguyên. Từ trung tâm đô thị Thái Nguyên, quý vị đi theo Quốc lộ 3 qua khu vực Bắc Kạn cũ rồi rẽ theo tỉnh lộ 254 (hoặc tuyến đường nối thẳng hồ Ba Bể) tổng cộng khoảng 140 km tới bến thuyền Vườn quốc gia Ba Bể, sau đó đi thuyền trên mặt hồ khoảng 20 tới 30 phút là cập bến đảo An Mã.
- Toạ độ
- 22.4053, 105.6153
Vì Đền An Mã nằm biệt lập trên đảo đá giữa lòng hồ Ba Bể, để tới đền quý vị bắt buộc phải đi thuyền từ bến thuyền Ba Bể hoặc bến Pác Ngòi, Bó Lù. Khi đi trên thuyền, quý vị lưu ý mặc áo phao đúng quy định an toàn đường thủy và tuyệt đối không xả rác hay thả túi nilon xuống mặt hồ thuộc Vườn quốc gia Ba Bể. Khi lên đảo, lối đi gồm nhiều bậc đá tự nhiên dưới tán rừng rậm, quý vị nên đi giày thấp, giữ yên tĩnh nơi cửa đền, không bẻ cành cây rừng nguyên sinh và chỉ thắp hương vừa đủ tại khu vực lư hương quy định.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền An Mã
Contribute photos, information or video for An Mã TempleThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền An Mã thờ những ai
Đền An Mã là nơi tưởng niệm các vị trung thần, tướng sĩ vương triều nhà Mạc đã tuẫn tiết tại động Puông vào thế kỷ 17 để giữ trọn khí tiết trong cuộc chiến Lê - Mạc. Đồng thời, đền còn phối thờ Đức Phật, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Tam Tòa Thánh Mẫu, Mẫu Thượng Ngàn, Chúa Sơn Trang và Đức Thánh Trần Hưng Đạo.
Vì sao các vị trung thần nhà Mạc ở đây lại được thờ dưới tên họ Ma
Khi nhà Mạc thất thế trước quân Lê - Trịnh vào thế kỷ 17, nhân dân vùng hồ Ba Bể thương tiếc các tướng sĩ nhà Mạc tuẫn tiết ở động Puông nên đã lập đền thờ trên đảo. Để tránh sự truy bức và trả thù của triều đình Lê - Trịnh, người dân đã đổi họ Mạc sang họ Ma và nói rằng đền thờ tổ tiên họ Ma, nhờ đó ngôi đền được bảo toàn qua hàng trăm năm.
Tên gọi An Mã hay An Mạ có ý nghĩa là gì
Tên gọi này có hai cách giải thích bổ sung cho nhau: theo chữ Hán Việt, An Mã nghĩa là con ngựa đứng yên vì hòn đảo đá vôi cao 30 mét giữa hồ có hình dáng giống một con ngựa đang lội nước bình yên. Còn theo tiếng dân tộc Tày bản địa, An Mạ có nghĩa là mồ yên mả đẹp, chỉ nơi an nghỉ thanh tịnh của các vị trung thần nhà Mạc.
Vì sao tòa đền chính của Đền An Mã lại có diện tích đúng 54 mét vuông
Trong đợt đại trùng tu và phục dựng ngôi đền vào năm 2006 tới 2007 trên nền móng cổ, tòa đền chính được thiết kế với chiều dài 9 mét và chiều rộng 6 mét, tạo thành diện tích đúng 54 mét vuông. Con số 54 này được chọn làm biểu tượng cho sự đoàn kết của 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam.
Đi lễ Đền An Mã vào dịp nào là trang trọng và đông vui nhất
Đền có hai dịp lễ lớn nhất trong năm: dịp thứ nhất là ngày mùng 9 và mùng 10 tháng Giêng âm lịch khi diễn ra nghi thức rước lễ bằng thuyền từ Đền An Mã về bản Bó Lù để mở màn Lễ hội Lồng Tồng Ba Bể, và dịp thứ hai là ngày mùng 6 tháng 2 âm lịch, ngày lễ hội chính của riêng nhà đền tưởng niệm các vị tướng sĩ nhà Mạc.