Từ chân cầu Chương Dương phía bờ bắc sông Hồng rẽ xuống con dốc Phú Viên thuộc đất cổ Ái Mộ và Bồ Đề, quý vị sẽ bắt gặp một cổng tam quan cổ kính nép dưới bóng đa già, mở mặt nhìn thẳng ra khúc sông Cái mênh mông phù sa. Thuở xưa, ngay trước mặt đền là một ghềnh nước lớn nơi dòng Nhị Hà đập vào bờ đất tạo thành những xoáy nước cuộn trào ngày đêm, thuyền bè xuôi ngược qua cửa ngõ kinh thành Thăng Long đều phải dừng chèo ngả nón cầu xin thần sông che chở. Từ địa thế sát ghềnh nước hiểm yếu ấy, người dân Kẻ Chợ và xứ Kinh Bắc gọi ngôi đền bên sông bằng cái tên mộc mạc là Đền Ghềnh.
Bước qua bức bình phong đắp nổi hình rồng cuốn thủy vào lòng Thiên Quang Linh Từ (天光靈祠), khách thập phương sẽ chạm vào một không gian tâm linh đa tầng hiếm có của Hà Nội. Nơi đây vừa là chốn hiển linh của Thánh Mẫu Thoải Phủ cùng hệ thống Tam Tứ Phủ công đồng, vừa gắn với lòng tôn kính Đức Nguyên phi Hoàng thái hậu Ỷ Lan của cư dân vùng đất cổ Gia Lâm, lại vừa là nơi nhân dân thôn Ái Mộ suốt gần hai thế kỷ đã âm thầm mượn bóng oai linh của Mẫu Thoải và Ba vị công chúa để che chở, phụng thờ Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân cùng hai con nhỏ trước sự truy bức nghiệt ngã của triều đại cũ.
IHai Lớp Tín Ngưỡng Giao Thoa: Mẫu Thoải, Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan Và Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân
Đền Ghềnh thuộc truyền thống Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Tứ Phủ (Đạo Mẫu) kết hợp thờ phụng các bậc nữ nhân kiệt xuất trong lịch sử dân tộc. Điểm đặc biệt bậc nhất khi khảo cứu hệ thống thần điện tại Đền Ghềnh là sự tồn tại song song và hòa quyện của hai lớp tín ngưỡng lịch sử trải dài từ thời Lý, Trần sang thời Lê Trung hưng, Tây Sơn và Nguyễn: lớp thứ nhất là tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Thoải Phủ (Mẫu Đệ Tam), Đức Hoàng thái hậu Ỷ Lan cùng Ba vị công chúa con vua cai quản miền sông nước Nhị Hà, lớp thứ hai là sự tích bi tráng ẩn giấu phụng thờ Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân (1770 - 1799) dưới danh nghĩa Chúa Tiên và Thánh Mẫu.
Ở lớp tín ngưỡng nền tảng hình thành từ thời Lý và thời Trần, ngôi đền khởi thủy vốn là một ngôi miếu cổ bên ghềnh nước sông Hồng có tên chữ là Thiên Tiên Cổ Điện (天仙古殿). Vùng đất bờ bắc sông Hồng từ Bồ Đề, Ái Mộ kéo sang Thổ Lỗi (Dương Xá) và Ngọc Quỳnh (Như Quỳnh) vốn là quê hương và vùng đất gắn liền với cuộc đời của Nguyên phi Hoàng thái hậu Ỷ Lan (nhũ danh Lê Thị Yến hay Lê Thị Khiết, 1044 - 1117, bậc mẫu nghi thiên hạ đời vua Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông, hai lần buông rèm nhiếp chính giúp dân giàu nước mạnh và được nhân dân suy tôn là Phật Bà Quan Âm hay Thánh Mẫu Ỷ Lan). Trong tâm thức dân gian vùng Gia Lâm xưa, hình tượng Hoàng thái hậu Ỷ Lan cùng Ba vị công chúa con vua và Đức Mẫu Thoải (vị Thánh Mẫu mặc áo trắng cai quản Thoải Phủ miền sông nước) đã hòa quyện làm một, che chở cho cư dân chài lưới và đê điều dọc tả ngạn sông Hồng.
Khi tra cứu các nguồn tư liệu lịch sử và truyền thuyết địa phương về danh xưng Đền Ghềnh (Đền Mẫu Ỷ Lan) và nhân vật lịch sử được mật thờ trong Hậu cung, thư viện ghi nhận rõ cả hai mạch nguồn để quý vị nắm trọn vẹn bức tranh lịch sử mà không bị nhầm lẫn. Thứ nhất, trong vùng văn hóa cổ Gia Lâm và Văn Lâm (xưa cùng thuộc trấn Kinh Bắc), có hai ngôi đền cổ cùng mang tên Nôm là Đền Ghềnh: một ngôi nằm ở thôn Ngọc Quỳnh (thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm cũ, tỉnh Hưng Yên, cách Bồ Đề khoảng mười lăm cây số) là nơi thờ chính thức Nguyên phi Hoàng thái hậu Ỷ Lan trên nền hành cung cũ năm Ất Mùi (1115), còn ngôi Đền Ghềnh tại thôn Ái Mộ, phường Bồ Đề ven sông Hồng vừa mang mạch vọng thờ Đức Mẫu Ỷ Lan và Mẫu Thoải của cư dân tổng Gia Thụy, vừa là nơi gắn trực tiếp với bi kịch lịch sử của công chúa Lê Ngọc Hân.
Theo hồ sơ di tích của ngành văn hóa Hà Nội và sử liệu địa phương vùng Bắc Ninh, Gia Lâm: Lê Ngọc Hân (sinh năm 1770) là con gái thứ 21 của vua Lê Hiển Tông và bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền (người làng Phù Ninh, tục gọi là làng Nành, xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm cũ). Năm 16 tuổi (1786), bà kết duyên cùng Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ và được phong làm Hữu Cung Hoàng hậu rồi Bắc Cung Hoàng hậu khi vua Quang Trung lên ngôi năm 1788. Sau khi vua Quang Trung băng hà năm 1792, bà viết khúc ngâm Ai tư vãn nổi tiếng trong lịch sử văn học dân tộc, rồi qua đời tại Phú Xuân (Huế) ngày 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (1799) ở tuổi 29. Không lâu sau, hai người con nhỏ của bà với vua Quang Trung là hoàng tử Nguyễn Quang Đức và công chúa Nguyễn Thị Ngọc Bảo cũng lần lượt qua đời. Năm 1804, bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền đã bí mật thuê thuyền đưa hài cốt con gái và hai cháu ngoại từ Phú Xuân về quê mẹ làng Nành an táng và lập miếu thờ. Tuy nhiên, đến cuối triều Minh Mạng hoặc đầu triều Thiệu Trị (khoảng năm 1841 - 1843), do có kẻ hám lợi mật báo với triều đình Huế rằng làng Nành lập miếu thờ ngụy hậu Tây Sơn, triều đình nhà Nguyễn đã ra lệnh phá hủy miếu thờ, quật mộ ba mẹ con bà Lê Ngọc Hân và đem toàn bộ hài cốt đổ xuống dòng sông Hồng ngay tại khúc ghềnh nước xoáy thuộc địa phận làng Ái Mộ (Bồ Đề). Tương truyền khi thuyền quan quân ra giữa ghềnh Ái Mộ để đổ hài cốt thì trời đất tối sầm, sóng cuộn gió gào như thác đổ. Nhân dân làng Ái Mộ vô cùng thương xót người công chúa nhà Lê tài hoa bạc mệnh (vốn được dân gian tôn gọi là Chúa Tiên), đã vớt lập đàn tế tại ngôi miếu Thiên Tiên Cổ Điện ngay trên bờ ghềnh, tạc tượng bà cùng hai con nhỏ đưa vào phối thờ ẩn sâu sau hương án của Mẫu Thoải và Ba vị công chúa để qua mắt sự kiểm soát gắt gao của triều đình nhà Nguyễn suốt hơn một trăm năm.
Cách nhân dân làng Ái Mộ và Bồ Đề đưa Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân cùng hai con vào ẩn dưới bóng từ bi của Mẫu Thoải Phủ, Đức Mẫu Ỷ Lan và hệ thống Tam Tứ Phủ công đồng là một minh chứng sống động cho sức dung chứa và lòng nhân đạo sâu sắc của Đạo Mẫu Việt Nam. Trong giáo nghĩa Tam Tứ Phủ, các vị Thánh Mẫu, Chầu Bà, Cô và Cậu không chỉ là thần linh tự nhiên cai quản Trời (Thiên Phủ), Rừng núi (Nhạc Phủ), Sông nước (Thoải Phủ) và Đất đai (Địa Phủ), mà còn là hóa thân của những bậc anh hùng, liệt nữ, hoàng hậu và công chúa có công đức hoặc chịu nỗi oan khuất lớn lao trong lịch sử. Nước của Thoải Phủ tại ghềnh sông Ái Mộ vừa là nơi gột rửa oan khiên cho ba mẹ con vị hoàng hậu bạc mệnh, vừa chuyển hóa nỗi bi thương lịch sử thành năng lượng che chở lành mạnh cho muôn dân.
Nhiều người khi tới lễ tại Đền Ghềnh Bồ Đề thường chỉ biết đây là ngôi đền thờ Mẫu Thoải rất linh ứng về cầu tài lộc và bình an sông nước mà không nhận ra pho tượng nữ thần có gương mặt thanh tú, đượm nét ưu tư đặt trong khám thờ sâu nhất của Hậu cung cùng hai pho tượng nhỏ hai bên chính là chân dung tưởng niệm Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân cùng hoàng tử Nguyễn Quang Đức và công chúa Nguyễn Thị Ngọc Bảo. Nhờ tấm màn che chở của tín ngưỡng thờ Mẫu Thoải và Ba vị công chúa con vua, di cốt tinh thần và hương khói của vị hoàng hậu triều Tây Sơn đã được người dân ven sông Hồng gìn giữ nguyên vẹn qua mọi biến thiên thời cuộc.
IILịch Sử Từ Thiên Tiên Cổ Điện Qua Cuộc Đại Trùng Tu Năm 1858 Đến Nay
Nằm trên dải đất bãi bồi lịch sử Bồ Đề và Ái Mộ, nơi từng là đại bản doanh của Bình Định Vương Lê Lợi và Nguyễn Trãi vây thành Đông Quan năm 1427, Đền Ghềnh đã trải qua nhiều lần bồi lở của dòng sông Hồng và nhiều đợt trùng tu lớn của cộng đồng cư dân ven sông.
Theo văn bia và truyền thuyết lưu giữ tại phường Bồ Đề, ngôi miếu cổ Thiên Tiên Cổ Điện được dựng từ thời Lý, Trần ngay sát mép ghềnh nước làng Ái Mộ. Trải qua hàng trăm năm gió mưa và những trận lũ lớn của sông Hồng, ngôi miếu cổ sát mép nước có nguy cơ bị sạt lở cuốn trôi. Bước ngoặt quan trọng nhất định hình nên kiến trúc ngôi đền hiện nay diễn ra vào năm Mậu Ngọ niên hiệu Tự Đức thứ 11 (1858): một người phụ nữ giàu lòng nhân đức tại thôn Ái Mộ là cụ bà Đặng Thị Bản đã đứng ra hiến đất, xuất tiền của riêng và vận động nhân dân địa phương quyên góp công đức để dời ngôi đền lùi vào phía trong bờ đất vững chãi hơn, mở rộng quy mô gồm Tiền tế, Trung tế và Hậu cung, đồng thời đổi tên chữ thành Thiên Quang Linh Từ (天光靈祠, nghĩa là ngôi đền linh thiêng tỏa ánh sáng trời).
Về niên đại xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia của Đền Ghềnh, thư viện ghi nhận sự khác biệt nhỏ giữa các nguồn tư liệu công bố để quý vị tiện tra cứu: nhiều tài liệu nghiên cứu tín ngưỡng Đạo Mẫu và giới thiệu văn hóa vùng Long Biên ghi nhận Đền Ghềnh nằm trong đợt lập hồ sơ và công nhận Di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1991 (trong khi ngôi Đền Ghềnh thờ Nguyên phi Ỷ Lan tại Như Quỳnh, Văn Lâm được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng ngày 2 tháng 2 năm 1993), còn một số cổng thông tin du lịch và di sản Hà Nội ghi nhận mốc cấp bằng xếp hạng cấp quốc gia cho Đền Ghềnh Bồ Đề vào năm 1994. Trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010 hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Đền Ghềnh tiếp tục được chính quyền và nhân dân phường Bồ Đề tu bổ tôn tạo khang trang. Về mặt hành chính, trước năm 2003 đền thuộc thôn Ái Mộ (và phố Phú Viên), xã Bồ Đề, huyện Gia Lâm, từ tháng 11 năm 2003 thuộc phường Bồ Đề, quận Long Biên, và theo Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, khu vực phố Phú Viên và Đền Ghềnh tiếp tục thuộc phường Bồ Đề mới trực thuộc thành phố Hà Nội.
- Thời Lý - TrầnKhởi dựng miếu cổ Thiên Tiên Cổ Điện bên ghềnh nướcCư dân ven bờ bắc sông Hồng dựng ngôi miếu cổ Thiên Tiên Cổ Điện ngay trên ghềnh nước xoáy Ái Mộ để thờ Thủy thần (Mẫu Thoải), vọng tưởng Đức Hoàng thái hậu Ỷ Lan và các vị công chúa thủy cung.
- 1427Dấu ấn vùng đất dinh Bồ Đề thời khởi nghĩa Lam SơnVùng đất Bồ Đề và Ái Mộ quanh ngôi đền trở thành đại bản doanh của vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) và danh nhân Nguyễn Trãi chỉ huy vây thành Đông Quan, buộc quân Minh đầu hàng.
- 1799 - 1804Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân qua đời và được đưa về làng NànhHoàng hậu Lê Ngọc Hân qua đời năm 1799 tại Phú Xuân ở tuổi 29 cùng hai con nhỏ. Năm 1804, thân mẫu bà là Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền bí mật đưa hài cốt ba mẹ con về an táng tại quê ngoại làng Nành (Gia Lâm).
- 1841 - 1843Biến cố quật mộ và nhân dân Ái Mộ lập bài vị mật thờ tại Đền GhềnhTriều đình nhà Nguyễn phát giác miếu thờ ở làng Nành, ra lệnh quật mộ và đổ hài cốt ba mẹ con bà Lê Ngọc Hân xuống ghềnh sông Hồng tại Ái Mộ. Dân làng Ái Mộ thương xót đã rước linh vị bà vào thờ ẩn dưới bóng Mẫu Thoải tại Đền Ghềnh.
- 1858Cụ bà Đặng Thị Bản hưng công đại trùng tu Thiên Quang Linh TừNăm Mậu Ngọ niên hiệu Tự Đức thứ 11 (1858), trước nguy cơ sạt lở bờ sông, cụ bà Đặng Thị Bản phát tâm quyên góp cùng dân làng dời đền vào vị trí kiên cố và đại trùng tu với tên chữ Thiên Quang Linh Từ.
- 1991 - 1994Xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc giaĐền Ghềnh được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia (các nguồn tư liệu ghi nhận mốc lập hồ sơ và xếp hạng năm 1991 hoặc năm 1994).
- 2025Thuộc phường Bồ Đề mới theo Nghị quyết 1656/NQ-UBTVQH15Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Hà Nội năm 2025, khu vực phố Phú Viên và Đền Ghềnh thuộc địa bàn phường Bồ Đề trực thuộc thành phố Hà Nội.
IIIKiến Trúc Thiên Quang Linh Từ, Hệ Thống Phối Thờ Tứ Phủ Và Hậu Cung
Mặc dù nằm trong khu dân cư ven đê phố Phú Viên ngày nay, Đền Ghềnh (Thiên Quang Linh Từ) vẫn giữ được trọn vẹn cấu trúc truyền thống của một ngôi đền thờ Mẫu kết hợp thờ nhân thần ven sông vùng châu thổ Bắc Bộ. Mở đầu quần thể kiến trúc là Nghi môn (Cổng đền) xây kiểu trụ biểu bốn cột kết hợp vòm cuốn cổ kính, trên đỉnh trụ đắp nghê chầu và tứ phượng, mặt cổng mở hướng nhìn thẳng ra phía dòng sông Hồng nơi xưa kia có ghềnh nước lớn. Ngay sau cổng tam quan là bức bình phong đắp nổi hình rồng cuốn thủy và hổ phù nhằm trấn yểm thủy tà từ mặt sông thổi vào, mở ra khoảng sân đền lát gạch đỏ rợp bóng cây cổ thụ. Hai bên sân đền bố trí nhà khách, nhà mẫu cùng lầu Cô, lầu Cậu và động Sơn Trang đắp đá tai mèo xanh biếc.
Khu kiến trúc chính của đền được bố cục theo hình chữ Tam (三) gồm ba nếp nhà ngang nối tiếp nhau từ ngoài vào trong là Tiền tế, Trung tế (Đệ nhị cung) và Hậu cung (Cấm cung). Bộ khung chịu lực của đền làm bằng gỗ lim và gỗ tứ thiết, các vì kèo liên kết theo lối chồng rường giá chiêng và vì kèo quá giang, trên các bức cốn, đầu bẩy và cửa võng đều chạm lộng hoa văn tứ linh (long, lân, quy, phượng), song long chầu nguyệt, cá chép hóa rồng và hoa sen, sóng nước, những mô típ nghệ thuật đặc trưng của các ngôi đền thờ Thủy thần và Mẫu Thoải Phủ.
Bài trí thần điện Tam Tứ Phủ và khám thờ trong Hậu cung
Bước vào không gian nội điện rực rỡ ánh vàng son của các lớp cửa võng chạm thủng và hương án thế kỷ 19, quý vị sẽ thấy cách bài trí phối thờ vô cùng chặt chẽ. Tại tòa Tiền tế và Trung tế là hệ thống ban thờ Tam Tứ Phủ công đồng: ban chính giữa tôn thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Tam Tòa Thánh Mẫu (Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên áo đỏ, Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn áo xanh, và đặc biệt tôn kính Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ áo trắng cai quản miền sông nước), tiếp đến là hàng Ngũ Vị Tôn Ông, các ban Tứ Phủ Chầu Bà, Tứ Phủ Ông Hoàng (tiêu biểu là Ông Hoàng Bơ Thoải, Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Mười), ban thờ Đức Thánh Trần (Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn) và ban Ngũ Hổ, Bạch Xà, Thanh Xà ở hạ ban.
Đi sâu vào Hậu cung (Cấm cung), nơi thâm nghiêm nhất nằm sau nhiều lớp cửa võng chạm rồng phượng sơn son thếp vàng, là nơi đặt khám thờ Thánh Mẫu, Đức Mẫu Ỷ Lan / Ba vị công chúa và pho tượng Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Pho tượng tạc dáng một người phụ nữ quý phái ngồi trên ngai, gương mặt trái xoan thanh tú, đôi mắt hiền từ mà phảng phất nỗi buồn nhân thế, hai bên có hai pho tượng nhỏ biểu trưng cho hoàng tử Nguyễn Quang Đức và công chúa Nguyễn Thị Ngọc Bảo cùng các thị nữ hầu cận. Trong đền hiện còn lưu giữ nhiều di vật quý giá từ thời Nguyễn thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20: tấm hoành phi chữ Hán Thiên Quang Linh Từ (天光靈祠), các bức đại tự ca ngợi đức độ của Thánh Mẫu và Chúa Tiên, hệ thống câu đối lòng máng sơn son thếp vàng nhắc lại tích ghềnh nước Ái Mộ, cùng chuông đồng, khánh đồng, ngai thờ, bài vị và các đạo sắc phong triều Nguyễn.
Cổng tam quan trụ biểu cổ kính mở thẳng ra bờ bắc sông Hồng nơi xưa kia có ghềnh nước xoáy dữ dội, kết hợp bức bình phong cuốn thư đắp nổi rồng cuốn thủy che chắn tiền đường.
Không gian hành lễ chính với hệ thống cửa võng chạm thủng tứ linh, sóng nước sơn son thếp vàng lộng lẫy, nơi tôn thờ Tam Tòa Thánh Mẫu (trọng tâm là Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ), Ngũ Vị Tôn Ông, các hàng Chầu, Ông Hoàng và Đức Thánh Trần.
Cấm cung thâm nghiêm nhất của đền, nơi nhân dân thôn Ái Mộ đặt khám thờ Thánh Mẫu, Ba vị công chúa và bí mật phụng thờ pho tượng Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân cùng hai con nhỏ suốt thời Nguyễn.
Không gian thờ Chúa Thượng Ngàn cùng Thập Nhị Tiên Nương và các ban Cô Bơ Thoải, Cậu Bơ Thoải nằm bên cạnh chính điện, hoàn thiện cấu trúc thần điện của một ngôi đền Đạo Mẫu Bắc Bộ.
Các bức đại tự, câu đối Hán Nôm thế kỷ 19 ca ngợi linh khí ghềnh sông Nhị Hà, đức sáng của Mẫu và ghi nhận công đức đại trùng tu ngôi đền của cụ bà Đặng Thị Bản năm Tự Đức thứ 11 (1858).
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền trên thực địa bờ bắc sông Hồng tại Bồ Đề, không phải điều chép sẵn trong văn bia của đền. Chúng tôi nói rõ để quý vị phân biệt được giữa tư liệu lịch sử và kiến giải địa lý phong thủy.
Xét trên bản đồ thủy văn kinh thành Thăng Long ở tọa độ 21,03778 độ vĩ Bắc và 105,86556 độ kinh Đông, Đền Ghềnh tọa lạc ngay trên bờ tả ngạn (bờ bắc) của dòng sông Hồng (Nhị Hà), tại điểm uốn cong của lòng sông đoạn chảy qua đất cổ Ái Mộ và Phú Viên (ngay sát hạ lưu cầu Long Biên và cầu Chương Dương ngày nay). Trong phép xem thủy pháp của địa lý cổ truyền, sông Hồng từ phía tây bắc (Phú Thọ, Sơn Tây) đổ về kinh thành Thăng Long khi gặp khúc quanh Bồ Đề đã tạo nên thế thủy khẩu giao hội và ghềnh nước xoáy (Thủy tụ): bên bờ nam (Hoàn Kiếm) là thế đất bồi tụ của kinh đô, còn bên bờ bắc (Ái Mộ, Bồ Đề) là mũi đất chịu lực va đập trực tiếp của dòng nước xiết, tạo thành một ghềnh nước lớn. Theo nguyên lý phong thủy, nơi dòng thủy long lớn chuyển hướng và cuộn xoáy tạo ghềnh chính là nơi khí của hành Thủy phát tiết mạnh mẽ nhất, rất cần lập đền thờ Thủy thần và Thánh Mẫu Thoải Phủ để trấn thủy, thu sát hoàn sinh, biến sức nước hung dữ thành mạch khí phồn vinh bảo vệ đê điều và thuyền bè.
Về sơn hướng và bố cục Minh đường, cổng chính và trục thần đạo của Đền Ghềnh mở mặt về hướng Tây Nam nhìn thẳng ra dòng sông Hồng mênh mông (lưng đền tựa vào dải đất cao của thôn Ái Mộ, Phú Viên và vùng đồng bằng Gia Lâm ở phía đông bắc làm Hậu chẩm). Toàn bộ mặt sông Hồng rộng hàng trăm mét trước cửa đền đóng vai trò là Đại Minh đường tụ thủy, còn phố cổ Hà Nội và bờ nam sông Hồng bên kia sông chính là Tiền án (Triều sơn) đón giữ phía trước. Xét theo Ngũ hành và tín ngưỡng Đạo Mẫu, Thoải Phủ thuộc hành Thủy, việc đặt ngôi đền thờ Mẫu Thoải và nơi an ủi vong linh Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân (người có hài cốt hòa vào sóng nước Nhị Hà) ngay tại ghềnh nước lớn của sông Cái tạo nên thế đắc thủy đắc vị: mặt nước lớn vừa làm dịu mát trường khí, vừa kết nối trực tiếp mạch linh khí giữa đôi bờ Bồ Đề và kinh thành Thăng Long ngàn năm.
VLễ Hội Đền Ghềnh Tháng Tám Âm Lịch Và Nghi Thức Rước Nước Sông Hồng
Hằng năm, Lễ hội truyền thống Đền Ghềnh là một trong những kỳ lễ hội ven sông đặc sắc nhất của vùng đất Long Biên và Gia Lâm, kết hợp hài hòa giữa nghi thức rước nước sông Hồng của cư dân nông nghiệp ven sông, lễ tưởng niệm Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân và diễn xướng hầu đồng, hát chầu văn của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Tứ Phủ (Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO ghi danh năm 2016).
Theo lệ cổ của thôn Ái Mộ và Phú Viên, kỳ lễ hội chính của Đền Ghềnh diễn ra vào mùa thu từ ngày mùng 3 đến ngày 12 tháng Tám âm lịch (trong đó chính hội kéo dài từ ngày mùng 6 đến ngày 12 tháng Tám âm lịch). Mở đầu lễ hội vào ngày mùng 3 tháng Tám là Lễ rước nước trên sông Hồng: đoàn thuyền rồng cờ quạt rực rỡ cùng đội tế nam quan, nữ quan và đội múa rồng từ bến Đền Ghềnh chèo ra giữa dòng sông Cái, nơi dòng nước trong sạch và sâu nhất (cũng là nơi xưa kia hài cốt ba mẹ con công chúa Lê Ngọc Hân hòa vào lòng sông), cử hành nghi lễ xin nước thiêng đựng vào chóe sứ rồi rước về đền làm lễ Mộc dục (bao sái bài vị, tượng thờ) và dâng cúng Thánh Mẫu. Trong những ngày chính hội từ mùng 6 đến 12 tháng Tám, các bản hội Đạo Mẫu khắp Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ tề tựu về Đền Ghềnh dâng hương, tổ chức các vấn hầu đồng và hát văn ca ngợi công đức Tam Tòa Thánh Mẫu, Mẫu Thoải, Đức Hoàng thái hậu Ỷ Lan và khúc văn tưởng niệm Chúa Tiên Lê Ngọc Hân trước khi trẩy hội thu đền Kiếp Bạc và đền Bảo Lộc theo lệ tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ.
| Thời gian âm lịch | Tên kỳ lễ | Nghi thức và hoạt động văn hóa tiêu biểu |
|---|---|---|
| Ngày mùng 3 tháng Tám âm lịch | Lễ rước nước sông Hồng và Lễ Mộc dục | Đoàn rước kiệu và thuyền rồng ra giữa dòng sông Hồng trước cửa Đền Ghềnh lấy nước thiêng về bao sái thần vị, cầu mưa thuận gió hòa, sóng yên biển lặng và tưởng niệm công chúa Lê Ngọc Hân. |
| Ngày mùng 6 đến 12 tháng Tám âm lịch | Chính hội truyền thống Đền Ghềnh | Tế lễ cổ truyền của các bô lão phường Bồ Đề, rước kiệu dọc phố Phú Viên - Ái Mộ, diễn xướng hát chầu văn dâng Thánh Mẫu và các trò chơi dân gian như múa rồng, bơi chải trên sông Hồng. |
| Tháng Ba âm lịch và Ngày 10 tháng Sáu âm lịch | Tiệc Mẫu tháng Ba và Tiệc Mẫu Thoải | Các bản hội và thanh đồng đạo quan tổ chức dâng hương, hầu đồng kỷ niệm ngày hội Mẫu Liễu Hạnh (mùng 3 tháng Ba) và ngày tiệc Đức Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ (mùng 10 tháng Sáu). |
| Ngày mùng 8 tháng Mười Một âm lịch | Lễ kỵ nhật Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân | Nhân dân phường Bồ Đề cùng nhân dân làng Nành (Ninh Hiệp) và khách thập phương dâng hương tưởng niệm ngày mất của Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân (8/11 năm Kỷ Mùi 1799). |
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Ngõ 22 phố Phú Viên (thôn Ái Mộ / Phú Viên xưa), tổ 2, phường Bồ Đề (quận Long Biên cũ, trước năm 2003 thuộc huyện Gia Lâm cũ), thành phố Hà Nội
- Đường tới
- Từ trung tâm thành phố Hà Nội (khu vực hồ Hoàn Kiếm), quý vị đi qua cầu Chương Dương sang bờ bắc sông Hồng (khoảng 3 cây số), vừa hết nhịp cầu chính rẽ phải ngay xuống đường đê Bồ Đề rồi đi xuống dốc Phú Viên (ngõ 22 phố Phú Viên) sát mép sông Hồng là tới Đền Ghềnh.
- Toạ độ
- 21.03778, 105.86556
Khi tới chiêm bái Đền Ghềnh bên bờ sông Hồng, quý vị lưu ý không gian trong Trung tế và Hậu cung có nhiều lớp cửa võng gỗ chạm cổ và khám thờ tôn nghiêm. Xin quý vị ăn mặc lịch sự, giữ trật tự khi có các khóa lễ tế hoặc các vấn hầu đồng truyền thống, hạn chế đốt nhiều vàng mã, không tự ý mở rèm khám thờ trong Cấm cung và giữ gìn vệ sinh môi trường dọc bờ sông Phú Viên.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Ghềnh (Đền Mẫu Ỷ Lan)
Contribute photos, information or video for Ghềnh Temple (Lady Ỷ Lan Temple)Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền Ghềnh ở phường Bồ Đề có tên chữ là gì và vì sao gọi là Đền Ghềnh?
Đền Ghềnh có tên chữ Hán là Thiên Quang Linh Từ (trước năm 1858 có tên là Thiên Tiên Cổ Điện). Sở dĩ nhân dân gọi là Đền Ghềnh vì xưa kia ngay trước cửa đền trên dòng sông Hồng có một ghềnh nước xoáy rất lớn, dòng chảy cuộn xiết đập vào bờ đất Ái Mộ khiến thuyền bè qua lại đều phải ghé đền cầu an.
Đền Ghềnh thờ những vị nào và vì sao có hai lớp tín ngưỡng tại đây?
Đền Ghềnh là nơi giao thoa của hai lớp tín ngưỡng: lớp thứ nhất thuộc hệ thống Đạo Mẫu Tam Tứ Phủ tôn thờ Thánh Mẫu Thoải Phủ (Mẫu Đệ Tam cai quản sông nước), Đức Nguyên phi Hoàng thái hậu Ỷ Lan và Ba vị công chúa con vua. Lớp thứ hai là nơi nhân dân thôn Ái Mộ bí mật lập bài vị và tạc tượng thờ Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân cùng hai con nhỏ ẩn dưới danh nghĩa thờ Mẫu Thoải và Chúa Tiên để tránh sự truy bức của triều Nguyễn.
Sự tích Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân gắn với Đền Ghềnh như thế nào?
Sau khi Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân (vợ vua Quang Trung Nguyễn Huệ) và hai con nhỏ qua đời tại Phú Xuân, thân mẫu bà đã bí mật đưa hài cốt ba mẹ con về an táng tại quê mẹ làng Nành (Ninh Hiệp, Gia Lâm). Đến đời vua Minh Mạng - Thiệu Trị, triều đình nhà Nguyễn phát giác, ra lệnh quật mộ và đem hài cốt ba mẹ con đổ xuống ghềnh sông Hồng tại làng Ái Mộ, nên dân làng thương xót rước linh vị bà vào thờ trong Hậu cung Đền Ghềnh.
Ai là người có công lớn đại trùng tu Đền Ghềnh vào năm 1858?
Vào năm Mậu Ngọ niên hiệu Tự Đức thứ 11 (1858), khi bờ sông Hồng sạt lở đe dọa ngôi miếu cổ Thiên Tiên Cổ Điện sát mép nước, cụ bà Đặng Thị Bản (một người dân giàu lòng nhân đức ở thôn Ái Mộ) đã đứng ra phát tâm công đức và vận động dân làng dời đền vào vị trí kiên cố hơn, đại trùng tu thành ngôi đền Thiên Quang Linh Từ như ngày nay.
Lễ hội Đền Ghềnh diễn ra vào thời gian nào trong năm?
Lễ hội chính của Đền Ghềnh diễn ra từ ngày mùng 3 đến ngày 12 tháng Tám âm lịch hằng năm (chính hội từ mùng 6 đến 12 tháng Tám), mở đầu bằng nghi lễ rước nước bằng thuyền rồng ra giữa dòng sông Hồng vào ngày mùng 3 tháng Tám. Ngoài ra đền còn tổ chức tiệc Mẫu vào tháng Ba, tháng Sáu âm lịch và lễ giỗ Hoàng hậu Lê Ngọc Hân vào ngày mùng 8 tháng Mười Một âm lịch.