VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Kỳ Sầm

Đền Khau Sầm, Đền thờ Khâu Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao, Kỳ Sầm linh từ

Ngôi đền cổ nép dưới tán ba cây đại thụ di sản trên sườn đồi Khau Sầm nhìn ra cánh đồng Vĩnh Quang và lưu vực sông Bằng Giang, nơi phụng thờ danh tướng Nùng Trí Cao của thế kỷ 11.

Khởi dựng
Thế kỷ 11
dựng từ thời Lý sau khi Nùng Trí Cao hóa, đại trùng tu năm Tự Đức thứ 35 (1882)
Phối thờ
Nùng Trí Cao
Khâu Sầm Đại Vương cùng thân mẫu A Nùng và ba vị phu nhân trong hậu cung
Xếp hạng
Di tích quốc gia
Quyết định số 43-VH/QĐ tháng 1 năm 1993, có cụm 3 Cây di sản Việt Nam

Rời trung tâm đô thị Cao Bằng chừng năm cây số về phía tây bắc theo tuyến đường tỉnh 203 hướng đi Hòa An và Pác Bó, quý vị sẽ thấy một quả đồi thấp phủ cây xanh thẫm nổi lên bên rìa cánh đồng Vĩnh Quang bằng phẳng. Ngay trước cổng đền, ba gốc cổ thụ khổng lồ gồm cây đa tía, cây muỗm và cây gạo vươn tán che rợp cả một khoảng trời, dẫn lối vào hai tòa nhà cổ lợp ngói âm dương nằm song song dưới chân đồi.

Đó là Đền Kỳ Sầm (dân gian bản địa gọi là Đền Khau Sầm), một trong những ngôi đền linh thiêng và có quy mô kiến trúc cổ kính bậc nhất xứ Non nước Cao Bằng. Ngôi đền là nơi nhân dân các dân tộc Tày, Nùng và Kinh suốt gần một thiên niên kỷ qua khói hương phụng thờ Thái bảo Khâu Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao, nhân vật lịch sử kiệt xuất của vùng biên cương Đông Bắc ở thế kỷ 11 dưới triều đại nhà Lý.

IKhâu Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao Và Truyền Thống Thờ Danh Tướng Biên Cương

Đền thuộc mạch tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và nhân thần hộ quốc (Thờ cúng tổ tiên), phụng thờ vị thần chủ là Nùng Trí Cao (1025 - 1055), thủ lĩnh người Tày châu Quảng Nguyên thời nhà Lý. Tên gọi chữ Hán Kỳ Sầm Từ (奇岑祠) là cách phiên âm nhã hóa của các nho sĩ thời phong kiến từ địa danh bản địa Khau Sầm trong tiếng Tày Nùng, trong đó khau (hoặc khâu) nghĩa là ngọn đồi hay quả núi thấp. Sau khi Nùng Trí Cao qua đời, triều đình nhà Lý và các triều đại kế tiếp đã ban sắc phong tôn ông làm Khâu Sầm Đại Vương, lấy chính tên ngọn đồi nơi ông từng đóng đại bản doanh để đặt hiệu thần.

Theo giáo nghĩa

Cách bài trí phối thờ trong hậu cung Đền Kỳ Sầm phản ánh rõ nét đạo lý uống nước nhớ nguồn và trọng mẫu hệ của cư dân Tày Nùng vùng Đông Bắc. Không gian thờ tự không chỉ tôn vinh một mình vị võ tướng mà đặt ông trong mối gắn kết gia tộc vẹn toàn: gian chính giữa thờ tượng Khâu Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao, gian bên tả (trái) thờ thân mẫu của ông là bà A Nùng, còn gian bên hữu (phải) thờ ba vị phu nhân của ông là Vương Lan Anh, Đoàn Hồng Ngọc và Trần Thị Cầm.

Đặc biệt, hình tượng bà A Nùng trong tâm thức dân gian Cao Bằng không chỉ là người mẹ sinh thành mà còn là một bậc nữ kiệt thông tuệ, am hiểu binh thư, giỏi nghề dệt vải chàm và trực tiếp phò tá con trai gây dựng cơ nghiệp. Việc đặt ban thờ thân mẫu ở vị trí tả ban tôn quý ngay cạnh chính vị cho thấy tín ngưỡng thờ nhân thần ở miền núi phía Bắc luôn hòa quyện chặt chẽ với lòng hiếu đạo và sự tôn sùng người mẹ bản xứ.

Theo sử liệu

Theo Đại Việt sử ký toàn thư và các tư liệu lịch sử vùng biên giới, Nùng Trí Cao sinh năm Ất Sửu (1025) tại châu Quảng Nguyên (vùng đất thuộc tỉnh Cao Bằng ngày nay), là con trai của thủ lĩnh Nùng Tồn Phúc và bà A Nùng. Sau biến cố của gia tộc vào năm Kỷ Mão (1039), năm Tân Tỵ (1041) Nùng Trí Cao cùng mẹ tập hợp lực lượng dựng lại cơ nghiệp ở động Thảng Do và châu Quảng Nguyên. Cảm phục tài năng và uy tín của ông đối với cư dân miền biên viễn, vua Lý Thái Tông đã ban cho ông ấn tín, phong chức Thái bảo và giao trấn giữ châu Quảng Nguyên cùng các vùng phụ cận.

Trong các năm từ 1048 đến 1053, trước sức ép từ phương Bắc, Nùng Trí Cao đã chỉ huy lực lượng bản địa lập nên những cuộc hành quân vang dội khắp vùng Lưỡng Quảng, làm chấn động triều đình nhà Tống. Về năm mất của ông, các nguồn sử liệu và truyền thuyết địa phương có hai cách ghi khác nhau: sử sách phương Bắc và một số bài viết ghi ông mất vào khoảng năm Quý Tỵ (1053) tại vùng Đại Lý (Vân Nam), trong khi thần tích lưu truyền tại Cao Bằng và nhiều công trình nghiên cứu địa phương ghi ông hóa vào năm Ất Mùi (1055). Để tưởng nhớ công lao giữ đất và mở mang bờ cõi của ông, vua Lý đã sắc phong ông làm Thượng đẳng thần với mỹ hiệu Khâu Sầm Đại Vương và cho phép nhân dân châu Quảng Nguyên lập đền thờ tại quê nhà.

Chỗ hay hiểu lầm

Người chưa quen với lịch sử vùng Đông Bắc đôi khi nhầm lẫn giữa các ngôi đền thờ dòng họ Nùng tại Cao Bằng hoặc nghĩ rằng Đền Kỳ Sầm chỉ là một ngôi miếu bản địa nhỏ lẻ. Thực tế, trong hệ thống các di tích thờ Nùng Trí Cao ở Việt Nam (từ Quảng Hòa, Hạ Lang cho tới thành phố Cao Bằng), Đền Kỳ Sầm tại chân đồi Khau Sầm chính là trung tâm thờ tự lớn nhất, bởi ngọn đồi Khau Sầm gắn trực tiếp với nơi Nùng Trí Cao từng lập đồn lũy chỉ huy và cũng là gốc gác của danh hiệu sắc phong Khâu Sầm Đại Vương.

IIHơn Chín Thế Kỷ Khói Hương Dưới Chân Đồi Khau Sầm

Khởi nguồn từ một ngôi đền cổ dựng lên dưới triều đại nhà Lý vào nửa sau thế kỷ 11 ngay sau khi Nùng Trí Cao qua đời, Đền Kỳ Sầm đã trải qua hơn chín trăm năm tồn tại cùng những thăng trầm của vùng đất châu Thạch Lâm và trấn Cao Bằng. Qua các triều đại Trần, Lê, Mạc và đặc biệt là triều Nguyễn, ngôi đền luôn nằm trong danh mục quốc tế tự điển của địa phương, được các quan trấn thủ và nhân dân quanh vùng gìn giữ, tôn tạo.

Theo sử liệu

Theo văn bia và hồ sơ di tích tại tỉnh Cao Bằng, diện mạo kiến trúc gỗ gạch bề thế của Đền Kỳ Sầm mà quý vị chiêm ngưỡng hôm nay được định hình chủ yếu từ đợt đại trùng tu vào năm Tự Đức thứ 35 (1882) dưới triều Nguyễn, sau đó tiếp tục được tu sửa vào đầu thế kỷ 20. Trong giai đoạn trước năm 1945, nhờ vị trí kín đáo dưới tán rừng cổ thụ ven đồi Khau Sầm, khuôn viên đền còn là nơi hội họp của các tổ chức yêu nước tại địa phương.

Khi tra cứu văn bản pháp lý xếp hạng di tích quốc gia cho Đền Kỳ Sầm vào đầu năm 1993, thư viện ghi nhận sự khác biệt nhỏ về ngày ký giữa hai nhóm tài liệu: các báo cáo chuyên ngành của Ban Tuyên giáo và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cao Bằng đều thống nhất số hiệu văn bản là Quyết định số 43-VH/QĐ của Bộ Văn hóa và Thông tin, nhưng có tài liệu ghi ngày ký là 07 tháng 01 năm 1993, trong khi một số bài giới thiệu khác ghi ngày 16 tháng 01 năm 1993. Thư viện dẫn rõ cả hai mốc ngày này để đảm bảo tính xác thực tuyệt đối.

  • 1025 - 1055Cuộc đời và sự nghiệp của Thái bảo Nùng Trí Cao
    Nùng Trí Cao sinh năm 1025 tại châu Quảng Nguyên, được vua Lý Thái Tông phong chức Thái bảo trấn giữ biên cương phía Bắc, sau khi mất (năm 1053 hoặc 1055 tùy nguồn) được truy phong Khâu Sầm Đại Vương.
  • Nửa sau thế kỷ 11Khởi dựng đền thờ dưới triều Lý
    Nhân dân địa phương và triều đình nhà Lý lập đền thờ Nùng Trí Cao ngay dưới chân đồi Khau Sầm thuộc bản Ngần, nơi ông từng đóng quân và lập căn cứ.
  • 1882Đại trùng tu thời vua Tự Đức
    Năm Tự Đức thứ 35, ngôi đền được trùng tu lớn theo phong cách kiến trúc truyền thống thời Nguyễn với bố cục chữ Nhị gồm tòa bái đường và tòa hậu cung bề thế.
  • 1993Xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
    Bộ Văn hóa và Thông tin ban hành Quyết định số 43-VH/QĐ tháng 1 năm 1993 (nguồn ghi ngày 07/01/1993 hoặc 16/01/1993) xếp hạng Đền Kỳ Sầm là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
  • 2016 - 2018Vinh danh cụm Cây di sản Việt Nam và điểm đến Công viên địa chất
    Cụm 3 cây cổ thụ trước cửa đền (cây đa tía, cây muỗm, cây gạo) được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là Cây di sản Việt Nam. Đền đồng thời là điểm di sản quan trọng của Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng.
  • 2025Thành lập phường Nùng Trí Cao
    Theo Nghị quyết số 1657/NQ-UBTVQH15 năm 2025, xã Vĩnh Quang cùng phường Ngọc Xuân và phường Sông Bằng được hợp nhất thành phường mới mang chính tên danh tướng là phường Nùng Trí Cao thuộc tỉnh Cao Bằng.

IIIKiến Trúc Chữ Nhị Thời Nguyễn Và Cụm Ba Cây Di Sản Cổ Thụ

Nằm trên một mặt bằng cao ráo dưới chân đồi Khau Sầm với tổng diện tích khuôn viên rộng hơn 5.000 mét vuông, Đền Kỳ Sầm là một trong số ít những ngôi đền cổ tại tỉnh Cao Bằng còn bảo lưu khá nguyên vẹn quy mô kiến trúc gỗ truyền thống thời Nguyễn thế kỷ 19. Tổng thể công trình được thiết kế theo bố cục hình chữ Nhị (二) gồm hai tòa nhà lớn nằm song song với nhau là tòa bái đường ở phía trước và tòa hậu cung ở phía sau, ngăn cách bởi một khoảng sân thiên tỉnh thoáng đãng dùng làm nơi thông khí và đón ánh sáng tự nhiên.

Cả hai tòa nhà đều được xây tường gạch dày bao quanh theo kiểu kiến trúc vùng cao, mái lợp ngói máng (ngói âm dương) cổ kính, bờ nóc đắp nổi hình lưỡng long chầu nguyệt. Hệ khung gỗ bên trong tòa bái đường gồm 5 gian rộng rãi, liên kết bằng các bộ vì kèo gỗ tứ trụ và chồng rường giá chiêng. Trên các cấu kiện gỗ như đầu bẩy, câu đầu, ván gió và cửa võng đều được các nghệ nhân xưa chạm khắc công phu hình rồng mây, phượng múa, tùng cúc trúc mai và sơn son thếp vàng lộng lẫy.

Cổng đền và bức bình phong cổ

Cổng đền xây gạch vồ cổ kính có trụ biểu vươn cao, ngay sau cổng là bức bình phong đắp nổi họa tiết long mã và cuốn thư giữ vai trò cản luồng tạp khí đi thẳng vào trục chính điện.

Tòa bái đường năm gian

Không gian hành lễ rộng lớn với hệ cột gỗ lim, gỗ nghiến vững chãi, nơi treo bức đại tự Kỳ Sầm Linh Từ cùng nhiều hoành phi, câu đối chữ Hán ca ngợi uy danh của Khâu Sầm Đại Vương.

Tòa hậu cung ba ban thờ

Không gian thâm nghiêm phía trong chia làm ba gian thờ: chính giữa đặt khám thờ và tượng Khâu Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao uy nghi trong trang phục võ tướng, bên trái thờ thân mẫu A Nùng, bên phải thờ ba vị phu nhân Vương Lan Anh, Đoàn Hồng Ngọc và Trần Thị Cầm.

Cụm ba Cây di sản Việt Nam

Trước sân đền và bên sườn đồi là cụm ba cây cổ thụ gồm một cây đa tía, một cây muỗm và một cây gạo có tuổi đời từ vài trăm năm, thân cây to nhiều người ôm không xuể, đã được công nhận là Cây di sản Việt Nam.

Hệ thống chuông đồng, bia đá và sắc phong

Đền còn lưu giữ quả chuông đồng cổ, lư hương, chiêng đồng, các tấm bia đá ghi việc trùng tu đền thời Nguyễn cùng nội dung các đạo sắc phong của các triều đại phong kiến ban cho Khâu Sầm Đại Vương.

Theo sử liệu

Một giá trị đặc sắc khiến du khách và các nhà nghiên cứu luôn dừng chân thật lâu tại Đền Kỳ Sầm là sự hòa quyện giữa kiến trúc nhân tạo và cảnh quan sinh thái cổ thụ. Ba cây đại thụ trước cửa đền gồm cây đa tía, cây muỗm và cây gạo không chỉ tạo nên chiếc cổng vòm xanh mát tự nhiên mà còn gắn với truyền thuyết dân gian về ba ngọn cờ lệnh và khí phách của đạo quân Nùng Trí Cao năm xưa. Vào mùa xuân, khi lễ hội mở ra vào ngày mùng 10 tháng Giêng, hoa gạo bắt đầu hé nở đỏ rực trên nền mái ngói âm dương xám trầm và tán đa xanh thẫm, tạo nên bức tranh sơn thủy đặc trưng của vùng đất Vĩnh Quang.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền dựa trên địa hình thực tế của ngọn đồi Khau Sầm và lưu vực sông Bằng Giang, không phải điều được chép nguyên văn trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt giữa tư liệu lịch sử và kiến giải phong thủy.

Thế đất và hướng

Đặt trên bản đồ địa hình tại tọa độ vĩ bắc 22,69275 độ và kinh đông 106,22739 độ, Đền Kỳ Sầm hội tụ đầy đủ các yếu tố mẫu mực của phép chọn đất tựa sơn hướng thủy truyền thống phương Đông. Phía sau lưng đền là ngọn đồi Khau Sầm có dáng tròn đầy đặn như chiếc mũ quan (thổ tinh kết huyệt) nối liền với dải núi cao ở phía bắc và đông bắc, tạo thành hậu chẩm (huyền vũ) vững chãi che chở cho toàn bộ kiến trúc khỏi gió bấc mùa đông. Ngôi đền không dựng chênh vênh trên đỉnh cao đón gió gắt mà chọn đúng vị trí sơn yêu hạ mạch (chân sườn đồi nơi mạch núi vừa hạ thấp tiếp giáp với bình nguyên), là nơi sơn khí từ đỉnh Khau Sầm tụ lại dày và êm nhất.

Về hướng nhìn và minh đường, mặt chính của Đền Kỳ Sầm mở về hướng Nam chếch Tây Nam, trông thẳng ra cánh đồng Vĩnh Quang bằng phẳng, rộng mở. Cánh đồng lúa trù phú này đóng vai trò là nội minh đường phẳng lặng, trong khi ở phía xa hơn về hướng nam và tây nam, dòng sông Bằng Giang (cùng nhánh sông Dẻ Rào vừa hợp lưu) uốn khúc chảy bao quanh thung lũng tạo thành ngoại minh đường thủy tụ. Trước cửa đền, cụm ba cây đại thụ di sản (đa tía, muỗm, gạo) cùng bức bình phong gạch cổ đứng chắn vừa vặn như một lớp tiền án tự nhiên, giúp giữ cho khí tại sân đền luôn ngưng tụ ấm áp mà không bị thoát tán ra khoảng không rộng trước mặt. Hai bên sườn đồi Khau Sầm vươn nhẹ ra hai phía tả hữu ôm lấy khuôn viên đền theo thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ. Thế đất lưng tựa Khau Sầm, mặt trông đồng rộng, xa ngoạn thủy Bằng Giang ấy vừa thể hiện tầm nhìn bao quát chiến lược của một vị danh tướng trấn biên, vừa tạo nên sự tĩnh tại, linh thiêng suốt gần một thiên niên kỷ.

VLễ Hội Lớn Ngày Mùng Mười Tháng Giêng

Hằng năm, cứ vào ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịch (bắt đầu từ đêm mùng 9 tháng Giêng), Lễ hội Đền Kỳ Sầm lại được tổ chức trọng thể tại bản Ngần, phường Nùng Trí Cao (xã Vĩnh Quang cũ). Cùng với lễ hội Đền Vua Lê (mùng 6 tháng Giêng) và lễ hội Chùa Đà Quận (mùng 9 tháng Giêng), hội Đền Kỳ Sầm là một trong những lễ hội mùa xuân quy mô và đông vui bậc nhất của tỉnh Cao Bằng, thu hút hàng vạn người dân và du khách thập phương về trẩy hội.

Các nghi thức chính và hoạt động văn hóa tại Lễ hội Đền Kỳ Sầm hằng năm. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng và Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam..
Thời gian âm lịchNghi thức và hoạt độngNội dung chi tiết
Đêm mùng 9 tháng GiêngLễ dâng hương khai hội đầu xuânNgay từ tối mùng 9 bước sang giờ Tý ngày mùng 10 tháng Giêng, ban quản lý đền và các bậc cao niên tiến hành lễ tế cáo yết, dâng hương tưởng niệm Khâu Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao, thân mẫu A Nùng và các vị phu nhân, sau đó mở cửa đền cho nhân dân vào lễ cầu lộc đầu năm.
Sáng mùng 10 tháng GiêngĐại lễ tế thần và dâng lễ vật bản làngDiễn ra nghi thức tế lễ cổ truyền trang trọng tại tòa bái đường, đọc chúc văn ca ngợi công đức giữ nước an dân của Thái bảo Nùng Trí Cao và dâng các mâm lễ vật truyền thống của các xóm bản.
Ngày mùng 10 tháng GiêngPhần hội văn hóa và trò chơi dân gianTrên cánh đồng Vĩnh Quang trước cửa đền diễn ra hội tung còn giao duyên, múa lân sư rồng, đánh cờ tướng, kéo co, đẩy gậy, bịt mắt bắt vịt, đi cà kheo cùng chương trình giao lưu hát Then, đàn Tính, hát Sli, hát Lượn.
Ngày rằm và mùng một hằng thángLễ sóc vọng thường kỳNhân dân địa phương và khách thập phương về dâng hương cầu bình an, sức khỏe và công danh học hành dưới bóng ba cây đại thụ di sản.

Điểm cuốn hút riêng của Lễ hội Đền Kỳ Sầm là không gian hội xuân trải rộng từ sân đền dưới bóng ba cây cổ thụ di sản ra khắp cánh đồng Vĩnh Quang phía trước. Cây cột tung còn cao vút được dựng giữa cánh đồng, nơi những quả còn ngũ sắc có tua rua rực rỡ bay vút qua vòng tròn dán giấy hồng điều trên đỉnh cột, gửi gắm ước vọng giao hòa âm dương và mùa màng bội thu của cư dân nông nghiệp thung lũng Bằng Giang. Việc tên của danh tướng Nùng Trí Cao được chính thức đặt cho đơn vị hành chính mới là phường Nùng Trí Cao từ năm 2025 càng làm cho lễ hội tại ngôi đền gốc dưới chân đồi Khau Sầm thêm phần ý nghĩa trong đời sống văn hóa đương đại.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Bản Ngần, phường Nùng Trí Cao (xã Vĩnh Quang cũ, thành phố Cao Bằng cũ, trước đó thuộc huyện Hòa An cũ), tỉnh Cao Bằng
Đường tới
Từ trung tâm đô thị Cao Bằng, quý vị đi theo đường tỉnh 203 (hướng đi Hòa An, Pác Bó) khoảng 5 km về phía tây bắc, tới địa phận bản Ngần, phường Nùng Trí Cao (xã Vĩnh Quang cũ) sẽ thấy cụm cây cổ thụ và cổng Đền Kỳ Sầm nằm ngay bên phải đường.
Toạ độ
22.69275, 106.22739
Khi tới nơi

Khi tới chiêm bái Đền Kỳ Sầm, xin quý vị giữ trang phục kín đáo, đi nhẹ nói khẽ khi bước vào tòa bái đường và đặc biệt giữ sự tôn nghiêm tại tòa hậu cung nơi đặt tượng thờ Nùng Trí Cao, thân mẫu A Nùng và các vị phu nhân. Cụm ba cây cổ thụ trước đền (cây đa tía, cây muỗm, cây gạo) là Cây di sản Việt Nam đang được bảo vệ nghiêm ngặt, xin quý vị không khắc chữ lên thân cây, không bẻ cành và không đốt vàng mã gần gốc cây cổ thụ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Kỳ Sầm

Contribute photos, information or video for Kỳ Sầm Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Kỳ Sầm thờ những nhân vật lịch sử nào?

Đền thờ chính Thái bảo Khâu Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao (1025 - 1055), danh tướng và thủ lĩnh người Tày thời nhà Lý có công lớn trong việc trấn giữ vùng biên cương phía Bắc. Trong hậu cung của đền còn phối thờ thân mẫu của ông là bà A Nùng ở gian bên trái và ba vị phu nhân (Vương Lan Anh, Đoàn Hồng Ngọc, Trần Thị Cầm) ở gian bên phải.

Vì sao ngôi đền có tên là Đền Kỳ Sầm hay Đền Khau Sầm?

Đền được xây dựng ngay dưới chân ngọn đồi Khau Sầm (trong tiếng Tày Nùng, khau hoặc khâu có nghĩa là ngọn đồi, quả núi thấp), nơi Nùng Trí Cao từng đặt đại bản doanh. Khi ban sắc phong thần, các triều đại phong kiến đã tôn ông là Khâu Sầm Đại Vương và phiên âm chữ Hán tên đền thành Kỳ Sầm Từ (Đền Kỳ Sầm).

Kiến trúc Đền Kỳ Sầm và cụm cây cổ thụ trước đền có gì đặc sắc?

Đền mang phong cách kiến trúc gỗ cổ truyền thời Nguyễn (đại trùng tu năm Tự Đức thứ 35 tức 1882) theo bố cục hình chữ Nhị gồm tòa bái đường 5 gian và tòa hậu cung 3 gian lợp ngói âm dương. Ngay trước cửa đền là cụm 3 cây đại thụ hàng trăm năm tuổi gồm cây đa tía, cây muỗm và cây gạo đã được công nhận là Cây di sản Việt Nam.

Đền Kỳ Sầm được xếp hạng di tích quốc gia năm nào và nay thuộc phường nào?

Đền Kỳ Sầm được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 43-VH/QĐ vào tháng 1 năm 1993. Về hành chính, trước ngày 1 tháng 7 năm 2025 đền thuộc xã Vĩnh Quang, thành phố Cao Bằng. Theo Nghị quyết 1657/NQ-UBTVQH15 năm 2025, xã Vĩnh Quang hợp nhất với phường Ngọc Xuân và phường Sông Bằng thành phường Nùng Trí Cao, tỉnh Cao Bằng.

Lễ hội Đền Kỳ Sầm diễn ra vào thời gian nào?

Lễ hội Đền Kỳ Sầm diễn ra vào đêm mùng 9 và cả ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịch hằng năm. Đây là một trong những lễ hội mùa xuân lớn nhất tỉnh Cao Bằng, có lễ tế thần trang nghiêm từ đêm mùng 9 và phần hội sôi nổi vào ngày mùng 10 với tung còn, hát Then, đàn Tính, múa lân, cờ tướng và kéo co trên cánh đồng Vĩnh Quang.

›Đọc Tiếp