VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Vua Lê (Thành Na Lữ)

Đền Vua Lê Thái Tổ, Đền Na Lữ, Thành Bản Phủ, Lầu Cửu Trùng

Ngôi đền thờ Vua Lê Thái Tổ dựng trên gò Long giữa lòng thành cổ Na Lữ bên dòng Dẻ Rào, nơi những bậc đá chạm rồng của vương triều nhà Mạc hòa vào khói hương tưởng niệm vị hoàng đế bình Ngô.

Khởi dựng
1682
chuyển từ cung điện thành Na Lữ sang đền thờ Vua Lê Thái Tổ năm Chính Hòa thứ 3
Không gian
Thành Na Lữ
trung tâm kinh đô nhà Mạc ở Cao Bằng suốt gần một thế kỷ (1594-1677)
Xếp hạng
Di tích quốc gia
xếp hạng năm 1995, điểm di sản Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng

Từ trung tâm đô thị Cao Bằng đi về phía tây bắc chừng mười một cây số theo hướng Hòa An, qua cây cầu bắc ngang dòng sông Dẻ Rào uốn lượn, quý vị sẽ bước vào một vùng thung lũng trù phú có bốn gò đất nổi lên giữa cánh đồng bằng phẳng. Trên gò đất cao nhất ở phía bắc mang tên gò Long, dưới bóng những tán cây cổ thụ rợp mát của làng Đền, một ngôi đền cổ xây bằng gạch vồ, mái lợp ngói âm dương hiện ra trầm mặc. Trước thềm đền, đôi rồng đá cổ và những tảng đá kê chân cột cỡ lớn nằm lặng lẽ như những chứng nhân đi qua nhiều triều đại.

Đó là Đền Vua Lê, ngôi đền thờ Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) nằm ngay giữa trung tâm Thành Na Lữ (còn gọi là Thành Nà Lữ hay Thành Bản Phủ). Ít có di tích nào ở miền biên viễn Đông Bắc lại mang trong mình sự chồng xếp lịch sử kỳ lạ đến thế: một ngôi đền tôn vinh vị hoàng đế sáng lập triều Hậu Lê lại được kiến tạo ngay trên nền chính điện của vương triều nhà Mạc từng đóng đô ở Cao Bằng suốt gần một thế kỷ.

IVua Lê Thái Tổ Và Lớp Ký Ức Chồng Xếp Giữa Lòng Thành Cổ

Đền thuộc hệ thống tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và anh hùng dân tộc (Thờ cúng tổ tiên), tôn phụng Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi, 1385 - 1433), vị lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã đánh đuổi quân Minh và khôi phục nền độc lập của quốc gia Đại Việt vào năm Mậu Thân (1428). Ba chữ Hán Lê Vương Từ (黎王祠) đặt ở đầu trang là danh xưng chữ Hán chỉ đền thờ Vua Lê trong các thư tịch cổ viết về trấn Cao Bằng.

Điều làm nên chiều sâu đặc biệt của ngôi đền này là mối liên kết giữa Lam Sơn xứ Thanh và Lam Sơn xứ Cao Bằng. Ngay phía sau lưng đền và thành Na Lữ là dãy núi được nhân dân địa phương gọi là núi Lam Sơn, phía trước có dòng sông Dẻ Rào chảy qua rồi hợp lưu vào sông Bằng Giang. Sự trùng hợp giữa tên núi và ký ức về cuộc thân chinh lên biên giới phía Bắc của Vua Lê Thái Tổ vào mùa xuân năm Tân Hợi (1431), khi nhà vua khắc bài thơ ngự chế trên vách đá núi Phja Tém bên dòng Dẻ Rào tại xã Hồng Việt, đã khiến cư dân bản địa gắn kết hình bóng vị hoàng đế khai sáng nhà Hậu Lê với chính non nước quê hương mình.

Theo giáo nghĩa

Trong tâm thức thờ nhân thần ở vùng biên viễn Đại Việt, việc lập đền thờ một vị hoàng đế triều đình trung ương tại trị sở miền biên ải mang hai tầng ý nghĩa rõ rệt. Tầng thứ nhất là khẳng định cương vực và chính thống quốc gia: nơi nào có sắc phong, có long ngai bài vị của bậc đế vương mở nước, nơi ấy nằm trong mạch khí chung của giang sơn Đại Việt. Tầng thứ hai là sự dung hòa mềm mại của văn hóa Tày và Nùng vùng Cao Bằng: vị vua phương xa không còn là hình ảnh uy nghiêm cách biệt chốn triều đường mà trở thành vị thần bảo hộ mùa màng, che chở cho các bản làng bên dòng Dẻ Rào được mưa thuận gió hòa, ấm no yên ổn.

Theo sử liệu

Sử liệu biên niên và truyền thuyết địa phương cho thấy sự chuyển hóa của không gian thờ tự tại Na Lữ gắn liền với biến thiên giữa hai triều Lê và Mạc. Sau khi rút khỏi kinh thành Thăng Long vào cuối thế kỷ 16, vương triều nhà Mạc đã chọn vùng đất Cao Bằng làm căn cứ trụ vững suốt hơn tám thập kỷ (từ năm 1594 đến năm 1677), lấy thành Na Lữ làm một trong những trung tâm quyền lực lớn nhất bên cạnh Cao Bình. Trong thời gian ấy, các vua nhà Mạc đã cho đắp lũy đất, dựng cung điện quy mô cùng lầu gạch Cửu Trùng và bậc thềm chạm rồng đá trên gò Long.

Đến năm Đinh Tỵ (1677), khi lực lượng nhà Mạc tại Cao Bằng chấm dứt vai trò lịch sử, triều đình Lê Trung hưng tiếp quản vùng đất này. Nhằm xóa đi dấu ấn ly khai và quy tụ lòng dân vùng biên cương về một mối, vào năm Chính Hòa thứ 3 (1682) đời vua Lê Hy Tông, quan trấn thủ Cao Bằng là Lê Văn Hải đã dâng biểu tâu xin triều đình cho phép cải tạo khu cung điện cũ của nhà Mạc trong thành Na Lữ thành ngôi đền thờ Vua Lê Thái Tổ, đồng thời rước các kỷ vật biểu trưng của nhà vua gồm hoàng bào và thanh kiếm thờ về phụng sự tại hậu cung.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người khi nghe tên Đền Vua Lê ở Hòa An thường nghĩ ngay rằng ngôi đền này do chính Vua Lê Thái Tổ cho dựng khi nhà vua cầm quân lên Cao Bằng dẹp loạn Đèo Cát Hãn và Bế Khắc Thiệu vào năm 1431. Thực tế lịch sử không diễn ra thẳng một mạch như vậy. Năm 1431 Vua Lê Thái Tổ có thân chinh tới lưu vực sông Dẻ Rào và để lại bia ma nhai ở Hòa An, nhưng bản thân kiến trúc trên gò Long tại thành Na Lữ trước năm 1682 vốn là cung điện của các triều đại bản địa và vương triều nhà Mạc. Phải tới năm 1682 dưới đời Lê Hy Tông, nền điện cũ mới chính thức được chuyển đổi công năng thành đền thờ Vua Lê Thái Tổ. Hiểu rõ điều này, quý vị sẽ giải thích được vì sao trong một ngôi đền thờ Vua Lê lại hiện diện những thành bậc rồng đá và chân tảng mang đậm phong cách điêu khắc thời Mạc thế kỷ 16 đến 17.

IITừ Thành Cổ Na Lữ Qua Các Triều Đại Đến Di Sản Quốc Gia

Lịch sử của Đền Vua Lê không thể tách rời lịch sử của Thành Na Lữ (Thành Bản Phủ), một trong những tòa thành cổ có bề dày lịch sử lâu đời nhất vùng Đông Bắc Việt Nam. Qua các lớp đất khảo cổ và thư tịch cổ, mảnh đất xã Hoàng Tung cũ (nay thuộc phường Thục Phán, tỉnh Cao Bằng) đã trải qua hơn một thiên niên kỷ làm trung tâm quân sự, chính trị và tín ngưỡng của cả vùng châu Thạch Lâm xưa.

Theo sử liệu

Khi đối chiếu các nguồn tài liệu về mốc thời gian hình thành đền và ngày tháng xếp hạng di tích, thư viện ghi nhận hai điểm vênh nhau giữa các nguồn để quý vị tiện tra cứu. Thứ nhất, về nguồn gốc ngôi đền trước năm 1682: một số tài liệu du lịch dân gian chép rằng đền thờ Vua Lê đã được nhân dân lập ngay từ đầu thế kỷ 15 sau khi Vua Lê Thái Tổ lên bình định vùng biên ải rồi sau đó bị nhà Mạc chiếm làm cung điện, trong khi các công trình nghiên cứu sử học và cổng thông tin tỉnh Cao Bằng khẳng định gò Long nguyên là nền cung điện trong thành Na Lữ của Nùng Tồn Phúc thời Lý và của vương triều nhà Mạc (1594 - 1677), đến năm Chính Hòa thứ 3 (1682) trấn thủ Lê Văn Hải mới tâu xin vua Lê Hy Tông sửa cung điện cũ thành đền thờ Vua Lê Thái Tổ.

Thứ hai, về ngày tháng năm xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong năm 1995: một số tài liệu giới thiệu tuyến điểm của Công viên địa chất Non nước Cao Bằng ghi ngày 20 tháng 7 năm 1995, trong khi hồ sơ pháp lý của ngành văn hóa tỉnh Cao Bằng ghi rõ di tích Đền Vua Lê được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng theo Quyết định số 1568/QĐ-BT ký ngày 20 tháng 4 năm 1995. Thư viện ghi nhận đầy đủ cả hai mốc ngày tháng nêu trên.

  • Thế kỷ 9 - 11Khởi dựng thành cổ Na Lữ
    Tương truyền thành Na Lữ khởi dựng từ thời Đường gắn với Cao Biền, đến nửa đầu thế kỷ 11 (khoảng năm 1038 - 1039) thủ lĩnh người Tày là Nùng Tồn Phúc (thân phụ của Nùng Trí Cao) cho đắp rộng thành đất tại Na Lữ làm trị sở.
  • 1431Dấu chân Vua Lê Thái Tổ bên sông Dẻ Rào
    Tháng Giêng năm Tân Hợi (niên hiệu Thuận Thiên thứ 4), Vua Lê Thái Tổ thân chinh cầm quân lên trấnphủ vùng biên viễn Cao Bằng và khắc thơ ngự chế trên vách đá bên dòng sông Dẻ Rào, để lại ký ức sâu đậm trong lòng dân bản địa.
  • 1594 - 1677Kinh đô Na Lữ của vương triều nhà Mạc
    Các vua nhà Mạc là Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan và Mạc Kính Vũ chọn thành Na Lữ và Cao Bình làm kinh đô ở Cao Bằng suốt 83 năm, xây dựng cung điện trên gò Long cùng lầu gạch Cửu Trùng và hệ thống thềm rồng đá.
  • 1682Cải tạo cung điện cũ thành Đền Vua Lê
    Năm Chính Hòa thứ 3 đời vua Lê Hy Tông, quan trấn thủ Cao Bằng là Lê Văn Hải tâu xin triều đình cho tu sửa lại cung điện cũ trong thành Na Lữ thành đền thờ Vua Lê Thái Tổ, lưu giữ hoàng bào và gươm thờ tưởng niệm nhà vua.
  • Thế kỷ 19Trùng tu dưới triều Nguyễn
    Đền được các quan lại trấn Cao Bằng và nhân dân địa phương nhiều lần tu bổ, định hình bố cục kiến trúc gạch ngói cổ kính và được ban cấp thêm nhiều sắc phong, hoành phi, câu đối.
  • 1995Xếp hạng Di tích quốc gia
    Đền Vua Lê được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 1568/QĐ-BT ngày 20 tháng 4 năm 1995 (một số tài liệu du lịch ghi ngày 20 tháng 7 năm 1995).
  • 2018Điểm di sản Công viên địa chất toàn cầu UNESCO
    Đền Vua Lê và thành cổ Na Lữ trở thành điểm dừng chân di sản tiêu biểu trên tuyến phía Tây của Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng.
  • 2025Điều chỉnh địa giới về phường Thục Phán
    Theo Nghị quyết số 1657/NQ-UBTVQH15 năm 2025, xã Hoàng Tung (huyện Hòa An cũ) được sáp nhập cùng các phường Sông Hiến, Đề Thám, Hợp Giang và xã Hưng Đạo để thành lập phường Thục Phán mới thuộc tỉnh Cao Bằng.

IIIKiến Trúc Chữ Tam, Nền Điện Rồng Đá Và Dấu Tích Lầu Cửu Trùng

Tọa lạc trên đỉnh gò Long bằng phẳng có diện tích hàng nghìn mét vuông, Đền Vua Lê mang dáng vẻ uy nghiêm của kiến trúc đền miếu cổ truyền vùng biên viễn kết hợp với những di vật kiến trúc cung đình còn sót lại từ thời Lê và thời Mạc. Tổng thể mặt bằng đền được bố cục theo hình chữ Tam (三) hoặc biến thể chữ Nhị nối liền gồm ba lớp không gian chạy dọc theo trục thần đạo từ cổng tam quan qua sân bái đường vào tới tiền tế, trung đường và hậu cung.

Khác với những ngôi đền miền xuôi thường mở toang các gian tiền tế bằng hệ cửa bức bàn gỗ cao rộng, Đền Vua Lê sử dụng tường bao xây bằng gạch vồ dày vững chãi để chống lại sương muối và gió bấc vùng núi cao Đông Bắc, phía trên lợp ngói máng (ngói âm dương) đã nhuốm màu rêu phong. Bộ khung chịu lực bên trong làm bằng các loại gỗ quý bản địa như gỗ nghiến, gỗ đinh thối với kết cấu vì kèo giá chiêng chồng rường, trên các đầu dư, bức cốn và câu đầu chạm khắc tinh xảo đề tài tứ linh (long, lân, quy, phượng) cùng hoa văn vân xoắn và hoa cúc cách điệu.

Thành bậc rồng đá và chân tảng cổ

Di vật quý giá nhất của nền cung điện xưa còn lưu lại tại đền là đôi thành bậc đá chạm rồng uốn khúc mềm mại và các chân tảng đá xanh kê cột cỡ lớn chạm cánh sen, mang đậm phong cách điêu khắc đá thời Mạc thế kỷ 16 đến 17.

Tòa bái đường và trung đường

Không gian hành lễ chính với tường gạch vồ, mái ngói âm dương thấp và trầm mặc. Bên trong treo các bức hoành phi sơn son thếp vàng và câu đối chữ Hán ca ngợi công đức bình Ngô mở nước của Vua Lê Thái Tổ.

Hậu cung (Cung cấm)

Nơi thâm nghiêm nhất ở lớp trong cùng, đặt long ngai, bài vị và tượng thờ Vua Lê Thái Tổ. Tương truyền xưa kia tại đây còn lưu giữ hoàng bào và thanh kiếm thờ do quan trấn thủ Lê Văn Hải cung tiến năm 1682.

Dấu tích Lầu gạch Cửu Trùng và tường thành Na Lữ

Quanh khu vực đền trên gò Long và cánh đồng Na Lữ vẫn còn vết tích các đoạn tường thành đắp đất, gạch vồ cỡ lớn và nền móng của Lầu gạch Cửu Trùng, công trình từng là đài cao chín tầng ngắm cảnh và quan sát quân sự của vương triều nhà Mạc.

Hệ thống văn bia và cổ vật

Trong đền hiện còn lưu giữ các tấm bia đá ghi việc trùng tu đền qua các triều đại Lê Trung hưng và triều Nguyễn, cùng hệ thống bát bửu, lư hương và chuông đồng cổ.

Theo sử liệu

Theo ghi chép trong các bộ địa chí cổ như Đại Nam nhất thống chí và khảo cứu của các nhà khảo cổ học tại Cao Bằng, quy mô của Thành Bản Phủ (Thành Na Lữ) xưa kia rất rộng lớn, tận dụng thế núi đá vôi vòng cung ở phía sau kết hợp với các đoạn lũy đất đắp nối giữa các gò đồi. Hình ảnh lầu gạch Cửu Trùng ở Na Lữ đến nay vẫn còn lưu truyền trong câu ca dân gian Tày Nùng xứ Cao Bằng nhắc về thời kỳ phồn thịnh của vùng đất này dưới thời nhà Mạc. Dù trải qua hơn ba thế kỷ nắng mưa và những biến động lịch sử khiến lầu Cửu Trùng không còn đứng nguyên vẹn trên mặt đất, những viên gạch vồ khổ lớn, ngói mũi hài và đôi rồng đá trước thềm Đền Vua Lê vẫn là bằng chứng vật chất xác thực nhất về một kinh đô miền sơn cước từng tồn tại suốt gần một trăm năm.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền dựa trên địa hình thực tế của thung lũng Na Lữ và lưu vực sông Dẻ Rào, không phải điều được chép nguyên văn trong văn bia của đền. Thư viện nói rõ như vậy để quý vị phân biệt giữa sử liệu văn bản và kiến giải hình thế.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ địa hình ở tọa độ vĩ bắc 22,70528 độ và kinh đông 106,17639 độ, Thành Na Lữ và Đền Vua Lê chiếm giữ một cục đất tiêu biểu bậc nhất của phép tầm long điểm huyệt vùng thung lũng karst Đông Bắc. Điểm đặc sắc đầu tiên của cục đất này là cấu trúc tứ linh gò đất nổi giữa bình dương: giữa lòng thung lũng Hoàng Tung bằng phẳng có bốn gò đất tự nhiên nhô lên, được cổ nhân định danh theo đúng bốn linh vật gồm gò Long, gò Ly (Lân), gò Quy và gò Phượng. Trong phong thủy hình thế, một cánh đồng trũng giữa vòng vây núi đá nếu chỉ có đất phẳng thì khí dễ trôi tuột theo dòng nước, nhưng khi có bốn gò đất nổi lên làm trụ giữ ở bốn phương thì sinh khí của cả thung lũng lập tức được khóa lại. Việc người xưa từ thời Nùng Tồn Phúc, thời nhà Mạc cho đến thời Lê Trung hưng đều chọn gò Long (gò Con Rồng) ở phía bắc làm nơi đặt chính điện và đền thờ chính là cách điểm đúng vào chính huyệt cao ráo và tôn quý nhất trong tứ linh.

Nhìn rộng ra thế núi và thế nước bao quanh, ngôi đền tọa trên lưng gò Long, quay mặt nhìn về hướng Nam chếch Đông Nam đón gió lành và ánh dương. Phía sau lưng đền (hậu chẩm) là dãy núi Lam Sơn và các dải núi đá vôi của vòng cung Hòa An đứng làm bình phong che chắn luồng gió bấc lạnh giá. Phía trước mặt đền (minh đường) mở ra cánh đồng Nà Lữ rộng thoáng, nơi có dòng sông Dẻ Rào uốn lượn như một dải lụa ngọc ôm lấy chân thành theo thế thủy tụ minh đường (hay ngọc đái thủy) trước khi chảy về phía đông nam để hợp lưu vào dòng sông Bằng Giang. Hai bên tả hữu có các dải đồi thấp và các gò Quy, gò Phượng, gò Ly vây bọc làm tả Thanh Long và hữu Bạch Hổ chầu về gò Long ở trung tâm. Thế đất tựa núi Lam Sơn, đạp gò Long, ngoạn thủy Dẻ Rào ấy vừa có độ hiểm yếu để phòng thủ quân sự của một tòa thành cổ, vừa hội tụ đủ sự khoáng đạt, tàng phong tụ khí của một chốn đế đô và đền miếu linh thiêng.

VLễ Hội Mở Xuân Mùng Sáu Tháng Giêng

Trong chuỗi lễ hội mùa xuân của xứ Non nước Cao Bằng, Lễ hội Đền Vua Lê tổ chức vào ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch hằng năm giữ một vị trí rất riêng: đây là lễ hội truyền thống mở màn sớm nhất cho mùa trẩy hội đầu năm của cả vùng Hòa An và đô thị Cao Bằng, mở đầu cho hành trình tâm linh nối từ Đền Vua Lê (mùng 6) sang Chùa Đà Quận (mùng 9) rồi đến Đền Kỳ Sầm (mùng 10 tháng Giêng).

Trình tự các kỳ lễ và hoạt động hội truyền thống tại Đền Vua Lê (Thành Na Lữ). Nguồn: Tổng hợp từ Cổng thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng và hồ sơ lễ hội truyền thống địa phương..
Thời gian âm lịchNghi thức và hoạt độngNội dung chi tiết
Chiều mùng 5 tháng GiêngLễ cáo yết và chỉnh trangBan quản lý di tích cùng các cụ cao niên làng Đền làm lễ bao sái đồ thờ, bày biện hương hoa lễ vật tại hậu cung và tiền tế, cáo yết Đức Vua Lê Thái Tổ trước ngày chính hội.
Sáng mùng 6 tháng GiêngLễ rước và đại tế khai xuânĐoàn rước lễ vật của nhân dân các xóm bản tiến vào sân đền trong tiếng nhạc bát âm và trống chiêng. Tiếp đó là nghi thức dâng hương, tuyên đọc chúc văn ôn lại công đức Vua Lê Thái Tổ và lịch sử thành cổ Na Lữ, cầu cho quốc thái dân an, mùa màng tươi tốt.
Cả ngày mùng 6 tháng GiêngPhần hội văn hóa dân gian Tày NùngKhông gian quanh gò Long và cánh đồng Na Lữ rộn ràng với các làn điệu hát Then, đàn Tính, hát Sli, hát Lượn giao duyên cùng các trò chơi thượng võ như cờ tướng, kéo co, đẩy gậy, tung còn, lày cỏ.
Ngày rằm, mùng một và tháng Tám âm lịchLễ sóc vọng và lễ tưởng niệm ngày Vua Lê băng hàNhân dân địa phương duy trì lệ dâng hương vào ngày mùng một, ngày rằm hằng tháng và làm lễ tưởng niệm vào dịp ngày 22 tháng Tám âm lịch (ngày giỗ Đức Thái Tổ Cao Hoàng Đế).

Sức sống của Lễ hội Đền Vua Lê nằm ở sự giao thoa văn hóa giữa nghi lễ cung đình người Việt và bản sắc văn hóa dân gian của đồng bào Tày, Nùng bản địa. Trong khói trầm hương đầu xuân trên gò Long, những mâm xôi ngũ sắc, bánh khảo, bánh chưng và vịt quay của các bản làng quanh dòng Dẻ Rào được dâng lên vị hoàng đế Lam Sơn bằng tất cả tấm lòng thành kính. Tiếng đàn Tính êm đềm hòa cùng tiếng chuông trống cổ tự tạo nên một không gian lễ hội vừa trang nghiêm cổ kính, vừa ấm áp tình đoàn kết giữa các dân tộc vùng biên cương.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Làng Đền, phường Thục Phán (xã Hoàng Tung cũ, huyện Hòa An cũ), tỉnh Cao Bằng
Đường tới
Từ trung tâm tỉnh Cao Bằng (khu vực phố đi bộ Kim Đồng), quý vị đi theo tuyến đường tỉnh 203 hướng đi Hòa An và Pác Bó khoảng 11 km về phía tây bắc, qua cầu Dẻ Rào rẽ vào làng Đền thuộc phường Thục Phán (xã Hoàng Tung cũ) là tới khu di tích.
Toạ độ
22.70528, 106.17639
Khi tới nơi

Đền Vua Lê là nơi thờ tự tôn nghiêm nằm giữa khu dân cư cổ làng Đền, vì vậy khi tới chiêm bái, xin quý vị mặc trang phục lịch sự, bỏ mũ nón khi bước qua cửa đền và giữ trật tự tại khu vực trung đường cùng hậu cung. Đặc biệt, đôi rồng đá cổ trước thềm và các chân tảng đá thời Mạc là những di vật khảo cổ có tuổi đời hàng trăm năm, xin quý vị tuyệt đối không dẫm chân, không ngồi lên mình rồng đá và không dịch chuyển các hiện vật đá trong khuôn viên đền.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Vua Lê (Thành Na Lữ)

Contribute photos, information or video for King Lê Temple (Na Lữ Citadel)

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Vua Lê ở Cao Bằng thờ vị vua nào?

Đền thờ Vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi, 1385 - 1433), vị lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã đánh đuổi quân Minh xâm lược và sáng lập vương triều Hậu Lê vào năm 1428. Năm 1431, nhà vua từng thân chinh cầm quân lên vùng biên viễn Cao Bằng bên dòng sông Dẻ Rào để giữ yên bờ cõi.

Vì sao Đền Vua Lê lại gắn liền với thành cổ Na Lữ và vương triều nhà Mạc?

Đền được xây dựng trên gò Long nằm ở trung tâm thành cổ Na Lữ (Thành Bản Phủ). Trong suốt giai đoạn 1594 - 1677, các vua nhà Mạc đã chọn thành Na Lữ làm nơi đóng đô, dựng cung điện và lầu gạch Cửu Trùng tại đây. Sau khi nhà Mạc rút đi, đến năm Chính Hòa thứ 3 (1682) đời vua Lê Hy Tông, quan trấn thủ Lê Văn Hải đã tâu xin triều đình cải tạo cung điện cũ thành đền thờ Vua Lê Thái Tổ.

Thế đất tứ linh tại thành cổ Na Lữ có điểm gì đặc biệt?

Giữa cánh đồng bằng phẳng của thung lũng Na Lữ có bốn gò đất tự nhiên nổi lên được người xưa đặt tên theo bộ tứ linh gồm gò Long, gò Ly (Lân), gò Quy và gò Phượng. Đền Vua Lê tọa lạc ngay trên đỉnh gò Long ở phía bắc, lưng tựa dãy núi Lam Sơn xứ Cao Bằng, mặt hướng ra dòng sông Dẻ Rào uốn khúc phía trước.

Đền Vua Lê thuộc đơn vị hành chính nào sau đợt sắp xếp năm 2025?

Trước ngày 1 tháng 7 năm 2025, đền thuộc làng Đền, xã Hoàng Tung, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Theo Nghị quyết số 1657/NQ-UBTVQH15 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xã Hoàng Tung được hợp nhất cùng xã Hưng Đạo và các phường Sông Hiến, Đề Thám, Hợp Giang để thành lập phường Thục Phán thuộc tỉnh Cao Bằng.

Lễ hội Đền Vua Lê diễn ra vào ngày nào hằng năm?

Lễ hội chính thức diễn ra vào ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch hằng năm. Đây là lễ hội mở xuân lớn và sớm nhất của tỉnh Cao Bằng, gồm nghi thức rước lễ, dâng hương tưởng niệm Vua Lê Thái Tổ và phần hội sôi nổi với hát Then, đàn Tính, hát Sli, tung còn, cờ tướng, kéo co của đồng bào các dân tộc địa phương.

›Đọc Tiếp