VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Sinh, Đền Hóa

Đền Mẫu Sinh, Đền Thánh Hóa, Đền Phi Bồng Hiệu Thiên, Đền An Mô

Cụm di tích tâm linh song đôi dưới chân núi Phi Bồng và sườn núi Ngũ Nhạc, nơi lưu giữ khối đá Thạch Bàn tự nhiên gắn với huyền tích Đức Thánh Phi Bồng Hiệu Thiên giáng sinh rồi bay hóa về trời.

Khởi dựng
Thế kỷ 11 tới 13
thời Lý, Trần trên đất cổ trang An Mô
Linh vật
Đá Thạch Bàn
khối đá tự nhiên trong hậu cung Đền Sinh
Xếp hạng
Di tích quốc gia
quyết định số 295/QĐ-BT năm 1994

Từ chùa Côn Sơn đi ngược về phía bắc chừng một kilômét, men theo con đường rợp bóng thông già giữa hai dải núi Ngũ Nhạc và núi Phi Bồng thuộc thôn An Mô, quý vị sẽ bắt gặp hai ngôi đền cổ nằm cách nhau khoảng tám trăm mét, gắn kết với nhau như hai chương đầu và cuối của một thiên thần tích. Ngôi đền thứ nhất nép mình bên khe suối dưới chân núi, trong hậu cung không đặt pho tượng gỗ hay đồng ở vị trí trung tâm mà trùm lên một khối đá tự nhiên khổng lồ mang dáng hình người mẹ đang lâm bồn. Ngôi đền thứ hai nằm trên sườn đồi thoáng đãng nhìn ra thung lũng, nơi tương truyền vị thiên thần trẻ tuổi đã cất mình bay thẳng về chín tầng mây. Đó là cụm di tích Đền Sinh, Đền Hóa, chốn phụng thờ Đức Thánh Phi Bồng Hiệu Thiên và Đức Thánh Mẫu Thạch Bàn.

Trong bản đồ tâm linh vùng Đông Bắc, nếu Kiếp Bạc là nơi hội tụ hào khí võ công thời Trần và Côn Sơn là chốn tổ thiền môn Trúc Lâm, thì Đền Sinh, Đền Hóa ngay kế bên lại giữ một mạch nguồn cổ sơ hơn: tín ngưỡng thờ đá sinh nở (thạch linh) hòa quyện với truyền thuyết thiên thần hộ quốc qua các triều đại Tiền Lý, Lý và Trần.

IHuyền Tích Đức Thánh Phi Bồng Hiệu Thiên Và Thánh Mẫu Thạch Bàn

Cụm di tích Đền Sinh, Đền Hóa (dân gian còn gọi là Đền Mẫu Sinh, Đền Thánh Hóa hay Đền An Mô) là một chỉnh thể tín ngưỡng không thể tách rời: Đền Sinh thờ chính Đức Thánh Mẫu Thạch Bàn (tức Thạch Linh Quốc Mẫu), người mẹ đã hạ sinh ra vị thánh, còn Đền Hóa thờ chính Đức Thánh Phi Bồng Hiệu Thiên Đại Tướng Quân, vị thiên tướng đã bay hóa về trời và nhiều phen hiển linh giúp các triều đại phong kiến Việt Nam chống giặc ngoại xâm.

Hai lớp thần tích về sự giáng sinh và hiển thánh của Đức Phi Bồng

Theo sử liệu

Khi đối chiếu các nguồn thư tịch cổ như Đại Nam nhất thống chí, Lĩnh Nam chích quái (bản tục bổ) với bản thần tích, ngọc phả lưu giữ tại thôn An Mô, sự tích Đức Thánh Phi Bồng Hiệu Thiên được trao truyền qua hai lớp tự sự bổ sung cho nhau:

Theo lớp thần tích huyền thoại núi Phi Bồng, thuở xưa trên thượng giới có Thạch Bàn Công Chúa kết duyên cùng Thiên Bồng Đại Tướng Quân. Do phạm luật nhà trời, Công chúa bị đày xuống trần gian, hóa thân thành một phiến đá lớn nằm dưới gốc cây thông cổ thụ dưới chân núi Phi Bồng thuộc trang An Mô. Tới ngày mùng 8 tháng Tư âm lịch, giữa cơn mưa gió sấm chớp vang rền, phiến đá Thạch Bàn tự nhiên nứt ra, hạ sinh một người con trai khôi ngô tuấn tú có khí chất khác thường. Đứa trẻ lớn nhanh như thổi, thường cùng lũ trẻ chăn trâu trong vùng tập trận bằng cờ lau. Một hôm, trên sườn đồi cách nơi sinh khoảng tám trăm mét, trước sự chứng kiến của dân làng An Mô, chàng trai bỗng vươn vai bước lên tảng đá, gọi gió mây rồi bay thẳng lên bầu trời, lưu lại tiếng vọng xưng danh là Phi Bồng Hiệu Thiên.

Theo lớp ngọc phả lịch sử thời Tiền Lý, Lý, Trần, vị thiên tinh ấy từng đầu thai vào gia đình cụ Chu Thức và bà Hoàng Thị Ba (người hiền đức ở trang An Mô từng cầu tự bên phiến đá Thạch Bàn), đặt tên là Chu Phúc Uy (có bản chép là Chu Thiên Hưởng). Lớn lên vào thế kỷ thứ 6, Chu Phúc Uy trở thành bậc dũng tướng theo giúp Lý Nam Đế (Lý Bí) đánh đuổi quân đô hộ nhà Lương, dựng nên nhà nước Vạn Xuân, sau khi thắng trận trở về quê nhà thì hóa về trời. Sang thế kỷ 11 và thế kỷ 13, khi vua Lý Thánh Tông đi tuần thú phương đông và khi vua Trần Nhân Tông cùng Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn lập căn cứ chống quân Nguyên Mông ở vùng Vạn Kiếp, Chí Linh, Đức Thánh Phi Bồng nhiều lần hiển linh trong mây trắng trợ chiến, giúp quân Đại Việt đại phá ngoại bang. Để tạ ơn thần lực, các vua nhà Lý và nhà Trần đã sắc phong ngài là Phi Bồng Hiệu Thiên Thượng Đẳng Tối Linh Thần và ban tiền tu tạo hai ngôi đền tại nơi ngài sinh và nơi ngài hóa.

Theo giáo nghĩa

Xét dưới góc độ nhân học tôn giáo, Đền Sinh, Đền Hóa là một di sản quý hiếm bảo lưu tín ngưỡng thờ Đá Mẹ (Thạch Mẫu) từ thời tiền sử được lịch sử hóa vào đạo thờ cúng tổ tiên và anh hùng giữ nước, đồng thời tiếp biến mạnh mẽ với Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ. Phiến đá tự nhiên trong hậu cung Đền Sinh không bị đục đẽo thành tượng nhân hình mà được giữ nguyên trạng khối đá mẹ thô mộc, thể hiện niềm tin cổ sơ của cư dân nông nghiệp về sức sinh nở vô tận của lòng đất và đá núi. Từ niềm tin Mẹ Đá sinh Thánh ấy, Đền Sinh suốt nhiều thế kỷ đã trở thành chốn cầu tự (cầu con) linh thiêng bậc nhất miền Bắc.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người đi lễ thường chỉ ghé vào Đền Sinh để làm lễ cầu tự bên phiến đá Thạch Bàn rồi ra về, hoặc ngược lại chỉ vào Đền Hóa vì thấy cổng đền nằm ngay mặt đường lớn. Theo lệ cổ của người dân vùng An Mô, Chí Linh, Đền Sinh và Đền Hóa là hai nửa của một vòng lễ trọn vẹn: có Sinh mới có Hóa, có Mẹ mới có Con. Người hành hương đi đúng lệ xưa đều tới dâng hương kính bái Thánh Mẫu Thạch Bàn ở Đền Sinh trước để tưởng nhớ ơn sinh thành, sau đó đi bộ khoảng tám trăm mét sang Đền Hóa để bái yết Đức Thánh Phi Bồng Hiệu Thiên.

IILịch Sử Hình Thành Và Dấu Ấn Qua Các Triều Đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn

Nằm trên vùng đất phên dậu phía đông bắc của kinh thành Thăng Long, ngay sát đại bản doanh Vạn Kiếp và chốn tổ Côn Sơn, cụm di tích Đền Sinh, Đền Hóa đã trải qua gần một thiên niên kỷ tồn tại và trùng tu liên tục qua các triều đại.

  • Thế kỷ 6Gốc tích danh tướng Chu Phúc Uy thời Tiền Lý
    Theo ngọc phả địa phương, danh tướng Chu Phúc Uy quê trang An Mô có công phò tá Lý Nam Đế đánh giặc Lương lập nước Vạn Xuân, sau khi hóa tại núi Phi Bồng được dân làng lập miếu thờ bên tảng đá Thạch Bàn.
  • Thế kỷ 11Khởi dựng quy mô đền thời Lý Thánh Tông
    Dưới triều vua Lý Thánh Tông (1054 tới 1072), sau khi nhà vua cầu đảo và được thần Phi Bồng hiển ứng giúp dẹp yên biên thùy, triều đình đã ban sắc phong Phi Bồng Hiệu Thiên và cho dựng Đền Sinh tại nơi đá nứt sinh thần cùng Đền Hóa tại nơi thần bay về trời.
  • 1285 tới 1288Hiển linh âm phù thời Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo
    Trong hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai và thứ ba, khi đại quân nhà Trần đóng tại Vạn Kiếp (Kiếp Bạc), vua Trần Nhân Tông và Hưng Đạo Đại Vương đã tới cầu đảo tại Đền Sinh, Đền Hóa. Sau ngày toàn thắng, nhà Trần gia phong mỹ tự Thượng đẳng thần và mở rộng hai ngôi đền.
  • Thế kỷ 17 tới 18Trùng tu thời Lê Trung Hưng và lưu giữ văn bia
    Dưới thời Lê Trung Hưng, hai ngôi đền được trùng tu lớn bằng gỗ tứ thiết, dựng thêm các tấm bia đá Hán Nôm ghi chép việc bầu hậu, cúng ruộng hương hỏa và quy định lệ tế tự của xã An Mô, huyện Chí Linh.
  • Thế kỷ 19 tới đầu thế kỷ 20Định hình kiến trúc thời Nguyễn
    Dưới các triều vua Nguyễn (Minh Mạng, Tự Đức, Khải Định), Đền Sinh và Đền Hóa được tu bổ theo bố cục chữ Tam truyền thống với hệ thống vì kèo gỗ lim, hoành phi, câu đối, đại tự và các đạo sắc phong còn truyền lại.
  • 1994Xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
    Ngày 12 tháng 12 năm 1994, Bộ Văn hóa và Thông tin ban hành Quyết định số 295/QĐ-BT chính thức xếp hạng cụm di tích Đền Sinh, Đền Hóa là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
  • Đầu thế kỷ 21Tôn tạo cảnh quan kết nối Côn Sơn, Kiếp Bạc
    Cụm di tích Đền Sinh, Đền Hóa được tu bổ chống xuống cấp, tôn tạo sân hội, nhà giải vũ, đường hành hương nối với chùa Côn Sơn và đền thờ Nguyễn Trãi, trở thành điểm nhấn quan trọng trong không gian văn hóa tâm linh Chí Linh.
Theo sử liệu

Về địa giới hành chính của cụm di tích Đền Sinh, Đền Hóa qua các thời kỳ lịch sử, người tra cứu cần lưu ý sự thay đổi tên gọi đơn vị hành chính để tránh bỡ ngỡ khi đọc văn bia và hồ sơ cũ. Trong văn bia thời Lê Nguyễn, di tích thuộc xã An Mô, tổng Chi Ngại, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương. Trong Quyết định xếp hạng số 295/QĐ-BT năm 1994 và các tài liệu trước năm 2025, di tích thuộc thôn An Mô, xã Lê Lợi, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội về việc hợp nhất tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng thành thành phố Hải Phòng mới, cùng Nghị quyết số 1669/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc hợp nhất xã Lê Lợi, xã Hưng Đạo và phần còn lại của phường Cộng Hòa thành phường Trần Hưng Đạo, cụm di tích Đền Sinh, Đền Hóa chính thức thuộc địa bàn thôn An Mô, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Phòng.

IIIKiến Trúc Chữ Tam Thời Nguyễn Và Khối Đá Thạch Bàn Thiên Tạo

Cụm di tích Đền Sinh, Đền Hóa gồm hai khu kiến trúc độc lập nằm cách nhau khoảng tám trăm mét dọc theo chân sườn phía tây dãy núi Ngũ Nhạc và núi Phi Bồng. Cả hai ngôi đền đều mang phong cách kiến trúc cổ truyền thời Nguyễn (thế kỷ 19 tới đầu thế kỷ 20), sử dụng vật liệu gỗ lim, gạch Bát Tràng, đá xanh và mái lợp ngói mũi hài rêu phong ẩn dưới tán rừng thông và cây cổ thụ.

Đền Sinh (Đền Mẫu Sinh) bố cục chữ Tam

Tọa lạc bên khe suối dưới chân núi Phi Bồng, Đền Sinh được xây dựng theo bố cục hình chữ Tam (三) gồm ba tòa nhà gỗ lim nối tiếp nhau là Tiền tế (năm gian), Trung từ (năm gian) và Hậu cung (ba gian), phía trước có cổng Nghi môn cổ kính và sân gạch rộng rãi dưới bóng đại thụ.

Khối đá Thạch Bàn (Mẹ Đá) trong Hậu cung Đền Sinh

Điểm độc đáo nhất của Đền Sinh nằm ở tòa Hậu cung: toàn bộ phần kiến trúc Hậu cung được dựng trùm lên một khối đá tự nhiên nguyên khối trồi ra từ mạch núi. Khối đá có màu xám đen bóng nhẵn, hình dáng tự nhiên giống hệt một người phụ nữ đang nằm nghiêng trong tư thế lâm bồn, chính giữa có vết nứt tự nhiên nơi tương truyền Đức Thánh Phi Bồng giáng sinh.

Đền Hóa (Đền Thánh Hóa) trên sườn đồi thoáng đãng

Nằm cách Đền Sinh khoảng 800 mét trên một sườn đồi bằng phẳng cao ráo, Đền Hóa cũng được kiến thiết theo bố cục chữ Tam gồm Tiền tế, Trung từ và Hậu cung với quy mô bề thế. Các bức cốn, kẻ hiên, đầu dư trong Đền Hóa được chạm nổi rồng mây, hổ phù và tứ linh mang đậm phong cách điêu khắc gỗ thế kỷ 19.

Tượng Đức Thánh Phi Bồng Hiệu Thiên và ban thờ Tam Tứ phủ

Trong Hậu cung Đền Hóa đặt khám thờ sơn son thếp vàng và pho tượng Đức Thánh Phi Bồng Hiệu Thiên trong tư thế võ tướng thiên đình uy dũng. Ở các gian bên và tòa Trung từ của cả hai đền còn phối thờ hệ thống tượng Tam Tứ phủ (Tam tòa Thánh Mẫu, Ngũ vị Tôn Ông, các Quan Hoàng, Chầu Bà, Cô Cậu) phục vụ sinh hoạt tín ngưỡng thờ Mẫu.

Hệ thống bia đá Hán Nôm, sắc phong và giếng cổ

Tại khuôn viên hai đền hiện còn lưu giữ nhiều tấm bia đá khắc chữ Hán niên đại thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn ghi lại thần tích, việc cúng ruộng bầu hậu và các đợt trùng tu của dân làng An Mô, cùng hệ thống câu đối, đại tự cổ và mạch nước suối ngầm trong vắt chảy qua chân Đền Sinh.

Sự khác biệt thú vị trong cảm thức không gian giữa hai ngôi đền nằm ở chỗ: khi bước vào Đền Sinh, không gian trầm mặc, ẩm mát hơi nước suối ngàn và vách đá Thạch Bàn tạo cảm giác trở về lòng mẹ ấm áp, thâm sâu như một thạch động tự nhiên. Ngược lại, khi sang tới Đền Hóa, địa thế mở rộng ra bầu trời và thung lũng phía trước, mái đền vươn cao đón gió ngàn thông, gợi đúng hình ảnh bước chuyển từ cõi Sinh trong lòng đất đá sang cõi Hóa thăng thiên giữa hư không.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền dựa trên địa hình thực tế của dãy núi Ngũ Nhạc, núi Phi Bồng và tọa độ vệ tinh của cụm di tích, không phải điều được chép trong văn bia hay ngọc phả. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải phong thủy.

Thế đất và hướng

Cụm di tích Đền Sinh, Đền Hóa tọa lạc quanh tọa độ 21.1512 độ vĩ Bắc, 106.3865 độ kinh Đông, nằm trên sườn phía tây của dải núi Ngũ Nhạc và núi Phi Bồng, thuộc mạch núi Huyền Đinh, Yên Tử chạy về đất Chí Linh. Trong địa lý phong thủy cổ truyền vùng Đông Bắc, dải núi Côn Sơn, Ngũ Nhạc, Phượng Hoàng và Kiếp Bạc là một đại tổ sơn hội tụ bốn linh vật (Tứ linh: Long, Ly, Quy, Phượng). Riêng núi Ngũ Nhạc gồm năm đỉnh núi nối tiếp nhau tượng trưng cho Ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) và năm phương trời, từ đó tách một chi mạch đá vươn ra tạo thành ngọn núi Phi Bồng làm hậu chẩm trực tiếp cho cả Đền Sinh và Đền Hóa.

Xét về kết cấu huyệt trường tại Đền Sinh, ngôi đền nằm ngay tại điểm lộ cốt long mạch (tức nơi xương sống bằng đá của long mạch núi Ngũ Nhạc phát lộ ra ngoài mặt đất thành khối đá Thạch Bàn). Theo phép xem đất, núi đất lấy đá làm xương (sơn dĩ thạch vi cốt), nơi mạch đá tự nhiên nhô ra bên khe suối chính là điểm thạch nhũ tụ khí mạnh mẽ nhất. Dòng suối nhỏ chảy từ khe núi Ngũ Nhạc vòng qua trước sân Đền Sinh đóng vai trò làm thủy tụ nội minh đường, âm dương giao hòa (đá núi thuộc Dương, khe nước và hang hốc thuộc Âm), giải thích vì sao cổ nhân lại cảm nhận nơi đây có sinh khí cầu tự mạnh mẽ đến vậy.

Xét về tọa hướng và sự liên kết song đền, cả Đền Sinh và Đền Hóa đều tọa Đông Bắc (tựa lưng vào sườn núi Ngũ Nhạc, Phi Bồng) và hướng về phía Tây Nam, nhìn ra thung lũng An Mô và dải núi Côn Sơn, hồ Côn Sơn ở phía trước làm minh đường và tiền án. Trong Bát quái, phương Đông Bắc là cung Cấn (tượng trưng cho Núi, cho Thiếu Nam tức người con trai trẻ tuổi), còn phương Tây Nam là cung Khôn (tượng trưng cho Đất, cho người Mẹ). Hai ngôi đền thờ Mẹ Đá Thạch Bàn và Con Trai Phi Bồng lại nằm đúng trên trục tọa Cấn (Thiếu Nam, Núi đá) hướng Khôn (Địa Mẫu): sự trùng khớp kỳ lạ giữa quẻ tượng Bát quái với thần tích hai mẹ con làm nên một thế đất hoàn chỉnh hiếm thấy.

VLễ Hội Đền Sinh, Đền Hóa Và Nghi Thức Rước Con Về Trình Mẹ

Sinh hoạt lễ hội tại cụm di tích Đền Sinh, Đền Hóa diễn ra sôi nổi quanh năm, gắn liền với cả các mốc kỷ niệm ngày giáng sinh, ngày hiển hóa của Đức Thánh Phi Bồng Hiệu Thiên lẫn mùa lễ hội lớn của vùng Côn Sơn, Kiếp Bạc.

Các kỳ lễ hội và sinh hoạt tín ngưỡng chính trong năm tại cụm di tích Đền Sinh, Đền Hóa, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Phòng. Nguồn: Tổng hợp từ Ban Quản lý di tích Côn Sơn, Kiếp Bạc và hồ sơ Di tích quốc gia Đền Sinh, Đền Hóa..
Thời gian âm lịchKỳ lễ hộiNội dung và nghi thức chính
Ngày mùng 8 tháng 4Lễ kỷ niệm ngày Đức Thánh Phi Bồng giáng sinhTheo thần tích cổ chép ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch là ngày phiến đá Thạch Bàn nứt ra sinh Đức Thánh dưới gốc thông chân núi Phi Bồng (trùng với ngày lễ Phật Đản đầu hạ). Nhân dân thôn An Mô và khách hành hương tổ chức lễ dâng hương, lễ Mộc dục tại khối đá Thạch Bàn ở Đền Sinh và tế lễ cầu bình an, cầu tự.
Từ ngày mùng 6 tới ngày mùng 8 tháng 5Lễ hội truyền thống mùa hạ (Rước con về trình mẹ)Kỳ lễ hội lớn do địa phương tổ chức trong ba ngày đầu tháng 5 âm lịch. Nghi thức đặc sắc nhất là lễ rước kiệu Đức Thánh Phi Bồng từ Đền Hóa sang Đền Sinh với ý nghĩa thiêng liêng rước con về thăm mẹ và trình Mẫu Thạch Bàn, sau đó tế lễ cổ truyền tại sân Đền Sinh rồi rước kiệu hoàn cung về Đền Hóa.
Từ ngày mùng 8 tới ngày mùng 10 tháng 8 (và suốt tháng 8)Kỳ hội mùa thu kết nối lễ hội Côn Sơn, Kiếp BạcDiễn ra ngay trước và trong dịp đại lễ hội mùa thu Côn Sơn, Kiếp Bạc (tưởng niệm Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và Nguyễn Trãi). Hàng vạn du khách và các bản hội thờ Mẫu về Đền Sinh, Đền Hóa dâng hương tưởng nhớ công lao âm phù nhà Trần đánh giặc Nguyên Mông của Đức Thánh Phi Bồng, kết hợp diễn xướng hát văn và hầu đồng.
Mùa xuân (tháng Giêng tới tháng Ba)Mùa hành hương đầu năm và lễ cầu tự, tạ lễCác cặp vợ chồng hiếm muộn từ khắp các tỉnh thành về Đền Sinh dâng lễ cầu tự bên phiến đá Thạch Bàn trong Hậu cung, và những gia đình đã sinh con khỏe mạnh trở lại đền làm lễ tạ ơn Thánh Mẫu.
Theo sử liệu

Khi tra cứu tài liệu về ngày lễ hội của Đền Sinh, Đền Hóa, người đọc sẽ thấy ba mốc thời gian khác nhau được nhắc tới trong các nguồn: thần tích cổ nhấn mạnh ngày mùng 8 tháng Tư âm lịch (ngày sinh của Thánh dưới gốc thông) và kỳ tế thu từ ngày mùng 8 tới mùng 10 tháng Tám âm lịch (gắn với mùa hội thu quân thời Trần), trong khi lịch tổ chức lễ hội hiện hành của địa phương lại mở hội chính từ ngày mùng 6 tới ngày mùng 8 tháng Năm âm lịch. Thực chất cả ba mốc này đều là các kỳ lễ có thật trong chu kỳ tín ngưỡng hàng năm của đền, tương ứng với lễ Đản sinh tháng Tư, lễ hội rước kiệu tháng Năm và lễ hội mùa thu tháng Tám.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn An Mô, phường Trần Hưng Đạo (xã Lê Lợi cũ, thành phố Chí Linh cũ, tỉnh Hải Dương cũ), thành phố Hải Phòng
Đường tới
Từ trung tâm thành phố Hải Phòng (hoặc từ phường Hải Dương), đi theo Quốc lộ 37 về phía bắc tới khu di tích quốc gia đặc biệt Côn Sơn, Kiếp Bạc thuộc phường Trần Hưng Đạo (thành phố Chí Linh cũ). Từ chùa Côn Sơn, đi tiếp theo tuyến đường nhựa ven sườn núi Ngũ Nhạc về phía bắc khoảng 1 km tới thôn An Mô là đến Đền Sinh và Đền Hóa.
Toạ độ
21.1512, 106.3865
Khi tới nơi

Khi về chiêm bái cụm di tích Đền Sinh, Đền Hóa, quý vị nên đi theo trình tự truyền thống là vào dâng lễ Đức Thánh Mẫu Thạch Bàn tại Đền Sinh trước rồi mới sang bái yết Đức Thánh Phi Bồng Hiệu Thiên tại Đền Hóa. Tại Hậu cung Đền Sinh nơi có khối đá Thạch Bàn thiên tạo, không gian khá hẹp và linh thiêng, xin quý vị giữ trật tự, thành tâm khấn nguyện, không cài nhét tiền lẻ vào khe nứt của phiến đá cổ và không đốt vàng mã hay thắp quá nhiều hương bên trong khu vực Hậu cung gỗ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Sinh, Đền Hóa

Contribute photos, information or video for Sinh and Hóa Temples

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Sinh và Đền Hóa thờ ai

Đền Sinh phụng thờ Đức Thánh Mẫu Thạch Bàn (Thạch Linh Quốc Mẫu) gắn với khối đá tự nhiên nơi hạ sinh vị thánh, còn Đền Hóa cách đó khoảng 800 mét phụng thờ Đức Thánh Phi Bồng Hiệu Thiên Đại Tướng Quân (vị thiên thần từng đầu thai làm danh tướng Chu Phúc Uy thời Tiền Lý và hiển linh giúp các vua Lý Thánh Tông, Trần Nhân Tông cùng Trần Hưng Đạo đánh giặc giữ nước).

Vì sao Đền Sinh nổi tiếng về tục cầu tự (xin con)

Trong Hậu cung Đền Sinh có một khối đá tự nhiên khổng lồ trồi lên từ mạch núi Phi Bồng mang hình dáng giống hệt một người phụ nữ đang nằm lâm bồn với vết nứt ở giữa nơi tương truyền sinh ra Đức Thánh Phi Bồng. Từ huyền tích Mẹ Đá sinh Thánh ấy, nhân dân tin rằng khối đá hội tụ linh khí sinh nở của trời đất nên thường về đây cầu tự.

Nghi thức rước kiệu trong lễ hội Đền Sinh, Đền Hóa có ý nghĩa gì

Trong kỳ lễ hội truyền thống đầu tháng 5 âm lịch, dân làng An Mô tổ chức rước kiệu Đức Thánh Phi Bồng từ Đền Hóa về Đền Sinh rồi mới rước ngược lại. Nghi thức này mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc là rước con về thăm mẹ và trình báo công đức với Thánh Mẫu Thạch Bàn.

Cụm di tích Đền Sinh, Đền Hóa thuộc tỉnh thành và phường xã nào từ năm 2025

Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 hợp nhất tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng thành thành phố Hải Phòng mới, cùng Nghị quyết số 1669/NQ-UBTVQH15 hợp nhất xã Lê Lợi, xã Hưng Đạo và phần còn lại của phường Cộng Hòa thành phường Trần Hưng Đạo, cụm di tích hiện thuộc thôn An Mô, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Phòng.

Đền Sinh, Đền Hóa được xếp hạng di tích quốc gia vào năm nào

Cụm di tích lịch sử văn hóa và danh thắng Đền Sinh, Đền Hóa được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 295/QĐ-BT ngày 12 tháng 12 năm 1994.

›Đọc Tiếp