VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đình Bình Thủy

Long Tuyền Cổ Miếu (龍泉古廟)

Ngôi đình thần tiêu biểu nhất của cư dân mở cõi miền Tây Nam Bộ bên ngã ba sông Bình Thủy và sông Hậu, nơi giữ trọn kiến trúc thượng lầu hạ hiên cùng lễ thức Kỳ Yên cổ truyền.

Khởi dựng
1844
năm Giáp Thìn tại vàm Bình Hưng
Sắc phong
1852
vua Tự Đức ban ngày 29/11 Nhâm Tý
Xếp hạng
Di tích quốc gia
kiến trúc nghệ thuật năm 1989

Đứng trên đường Lê Hồng Phong thuộc phường Bình Thủy, phóng tầm mắt qua hàng rào trang trí hoa văn truyền thống rợp bóng cây cổ thụ trăm năm, quý vị sẽ thấy một quần thể mái ngói vảy cá uốn lượn tầng tầng lớp lớp bên ngã ba sông Bình Thủy giao hòa cùng dòng sông Hậu. Trên cổng tam quan lợp ngói xanh lục hiện rõ bốn chữ Hán Long Tuyền Cổ Miếu, tên chữ của ngôi đình đã đi cùng lịch sử khẩn hoang vùng đất lục tỉnh Nam Kỳ từ giữa thế kỷ 19.

Khác với đình làng Bắc Bộ thường dựng trên một trục nhà ngang lấy đại bái và hậu cung làm trọng tâm khép kín, Đình Bình Thủy phô diễn trọn vẹn lối kết cấu nhà vuông nối tiếp nhau đặc trưng của miền sông nước Cửu Long. Từng hàng cột gỗ lim, gỗ căm xe kê trên chân tảng đá xanh chống lún, từng mảng tiểu sành gắn trên bờ nóc cho đến các ban thờ phối tự những bậc hiền thần mở đất đều làm nên một bảo tàng sống động về tín ngưỡng thờ Thành Hoàng ở Tây Đô.

Đình Bình Thủy
Đình Bình Thủy. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, giấy phép Phạm vi công cộng, nguồn Wikimedia Commons.

IBổn Cảnh Thành Hoàng Và Các Bậc Hiền Thần Được Phối Thờ

Trung tâm tín ngưỡng của Đình Bình Thủy là vị Bổn Cảnh Thành Hoàng, đấng thần linh tối cao bảo hộ cương vực, sông rạch, mùa màng và sự bình an cho cộng đồng cư dân làng Bình Hưng, sau đổi là làng Bình Thủy rồi làng Long Tuyền. Sắc phong do vua Tự Đức ban ngày 29 tháng 11 năm Nhâm Tý (1852) chuẩn cho thôn Bình Thủy, huyện Vĩnh Định phụng sự vị thần giữ đất với mỹ tự Bảo An Chính Trực Hữu Thiện Đôn Ngưng.

Theo giáo nghĩa

Trong tâm thức cư dân người Việt đi mở đất phương Nam thuộc hệ thống tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thần Thành Hoàng, vị thần chủ ngôi đình Nam Bộ mang dung mạo vừa thiêng liêng vừa gần gũi. Khi các lưu dân từ miền Trung và miền Bắc xuôi thuyền vào vùng châu thổ sông Cửu Long đối mặt với rừng rậm, sấu dữ và thủy triều thất thường, họ không mang theo một vị thần có lý lịch cố định từ cố hương mà cầu nguyện một đấng phúc thần chung che chở cả vùng đất mới. Đạo sắc của triều đình nhà Nguyễn ban xuống đã hợp thức hóa niềm tin dân gian ấy vào điển lễ quốc gia, biến ngôi đình thành điểm tựa tinh thần gắn kết các dòng họ tứ xứ thành một cộng đồng làng xã bền chặt.

Theo sử liệu

Điểm đặc sắc bậc nhất trong không gian thờ tự của Đình Bình Thủy là hệ thống phối thờ dung hợp giữa thần linh tự nhiên, bậc khai cơ lập ấp và các danh nhân kiệt xuất của lịch sử dân tộc. Ngay trong khuôn viên ngoài đình có miếu thờ Thần Nông, Thần Hổ (Sơn Quân chi thần), Thần Rừng và Thần Khai kênh dẫn nước, phản ánh chân thực buổi đầu con người khẩn đất lập vườn giữa thiên nhiên hoang sơ. Bên trong chính điện, bên cạnh hương án chính thờ Bổn Cảnh Thành Hoàng cùng Tiền hiền và Hậu hiền, nhân dân địa phương lập các ban thờ trang trọng tôn vinh Hậu thần Đinh Công Chánh cùng các bậc anh hùng, danh sĩ như Nguyễn Trãi, Nguyễn Trung Trực, Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa và Võ Huy Tập.

Theo tư liệu địa phương và hồ sơ di tích của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, ông Đinh Công Chánh là vị quan võ có công lớn giữ gìn an ninh, dẹp trừ nạn trộm cướp và giúp dân làng an cư lạc nghiệp nên sau khi mất được dân làng suy tôn làm Hậu thần. Một số nguồn báo chí đôi khi chép nhầm tên ông thành Đinh Công Tráng (lãnh tụ khởi nghĩa Ba Đình ở Thanh Hóa), song văn tự thờ phụng tại đình xác nhận rõ danh hiệu Đinh Công Chánh. Bên cạnh đó, việc lập bàn thờ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa (1807 đến 1872), một trong bốn rồng vàng của đất Gia Định xưa có mộ phần đặt tại chính đất Bình Thủy, cùng Nguyễn Trung Trực (1838 đến 1868) và Võ Huy Tập cho thấy tấm lòng trọng nghĩa khí của sỹ phu và nông dân miền Hậu Giang.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều khách thập phương nhìn thấy bốn chữ Long Tuyền Cổ Miếu trên cổng tam quan thường nghĩ ngôi đình có gốc là miếu thờ rồng hoặc chùa Phật. Thực ra Long Tuyền (suối rồng) là tên làng hành chính được sáp nhập từ sáu ấp vùng Bình Thủy vào đầu thế kỷ 20, vì địa thế con sông Bình Thủy uốn khúc mềm mại như thân rồng nằm vươn ra sông Hậu. Chữ cổ miếu dùng theo điển lệ Hán văn thời Nguyễn để chỉ ngôi đền thờ thần Thành Hoàng có từ lâu đời của làng Long Tuyền.

IIHơn Một Thế Kỷ Rưỡi Từ Vàm Bình Hưng Đến Long Tuyền Cổ Miếu

Lịch sử Đình Bình Thủy phản ánh trọn vẹn quá trình định cư và phát triển của vùng đất Cần Thơ từ một thôn ấp ven sông thuộc tổng Định Thới, huyện Vĩnh Định, phủ Tân Thành (sau thuộc phủ Ba Xuyên), tỉnh An Giang dưới triều Nguyễn cho đến đô thị sầm uất hôm nay. Trải qua thiên tai và biến thiên lịch sử, ngôi đình ba lần đổi danh xưng theo tên đất: từ đình Bình Hưng sang đình Bình Thủy, rồi khắc biển Long Tuyền Cổ Miếu.

Theo sử liệu

Dấu mốc chuyển mình quan trọng nhất của ngôi đình gắn liền với chuyến tuần thú đường thủy của Khâm sai đại thần, Tuần phủ Huỳnh Mẫn Đạt (1807 đến 1883) vào năm Tự Đức thứ 5 (1852). Khi thuyền quan đang đi trên dòng sông Hậu bất ngờ gặp trận cuồng phong sóng dữ, ông kịp thời cho đoàn thuyền rẽ vào ẩn nấp tại vàm rạch Bình Hưng. Thấy dòng rạch êm ả, xóm làng trù phú, cư dân hiền hòa mở tiệc chiêu đãi đoàn quân, Tuần phủ Huỳnh Mẫn Đạt cảm kích cho đổi tên đất và tên rạch từ Bình Hưng thành Bình Thủy (nghĩa là dòng nước bình yên, phẳng lặng). Khi trở về triều, ông dâng sớ tâu xin vua Tự Đức ban sắc phong Bổn Cảnh Thành Hoàng cho ngôi đình vào ngày 29 tháng 11 năm Nhâm Tý (1852).

  • 1844Khởi dựng đình làng Bình Hưng
    Năm Giáp Thìn (niên hiệu Thiệu Trị thứ 4), sau một trận bão lụt lớn làm hư hại mùa màng, cư dân làng Bình Hưng chung sức dựng ngôi đình đầu tiên bằng gỗ lợp lá tại ngã ba vàm rạch Bình Hưng giao với sông Hậu để cầu thần linh che chở.
  • 1852Đổi tên Bình Thủy và nhận sắc phong vua Tự Đức
    Tuần phủ Huỳnh Mẫn Đạt tránh bão an toàn tại vàm rạch, đổi tên vùng đất thành Bình Thủy và tâu xin vua Tự Đức ban sắc phong Bổn Cảnh Thành Hoàng vào ngày 29 tháng 11 năm Nhâm Tý (1852).
  • 1853Tôn tạo đình ngói và dựng nhà võ ca
    Nhân dịp đón nhận sắc thần từ triều đình Huế, dân làng quyên góp tiền của sửa sang ngôi đình lợp ngói âm dương và dựng thêm nhà võ ca ở phía trước để tổ chức hát bội mừng lễ Kỳ Yên.
  • 1904Khởi sự tái thiết trên nền đất mới
    Nhận thấy ngôi đình gỗ cũ đã xuống cấp nghiêm trọng sau sáu mươi năm, Tri phủ Nguyễn Đức Nhuận vận động nhân dân chọn khu đất rộng gần 3 héc-ta cách vị trí cũ khoảng 200 mét để cất lại đình lớn, song ông đột ngột qua đời nên công việc tạm ngưng.
  • 1909 - 1910Đại trùng tu định hình Long Tuyền Cổ Miếu
    Ông Cả Nguyễn Doãn Cung cùng hương chức và điền chủ làng Long Tuyền tiếp tục khởi công xây dựng lại toàn bộ ngôi đình từ giữa năm 1909 và hoàn thành vào đầu năm 1910, tạo nên kiến trúc thượng lầu hạ hiên bề thế hiện còn.
  • 1989Xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia
    Ngày 05 tháng 9 năm 1989, Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quyết định số 1570-VH/QĐ công nhận Đình Bình Thủy là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
  • 2018Lễ hội Kỳ Yên thành Di sản phi vật thể quốc gia
    Ngày 30 tháng 01 năm 2018, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký Quyết định số 266/QĐ-BVHTTDL đưa Lễ hội Kỳ Yên Đình Bình Thủy vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

IIIKết Cấu Sáu Hàng Cột Và Nghệ Thuật Chạm Khắc Thượng Lầu Hạ Hiên

Nằm trên khuôn viên rộng hơn 4.000 mét vuông hiện nay, Đình Bình Thủy là chuẩn mực của nghệ thuật kiến trúc đình thần Nam Bộ đầu thế kỷ 20, nơi kỹ thuật mộc truyền thống giao thoa hài hòa với phong cách trang trí phương Đông và những đường nét tân thời. Tổng thể công trình chia làm hai khu vực: khu chính gồm năm ngôi nhà liên kết chặt chẽ từ tiền đình, chính điện đến hậu sảnh cùng hai dãy tả vu, hữu vu chạy dọc hai bên, khu phụ bên ngoài có nhà võ ca, nhà võ quy, nhà chuẩn tế và các miếu thờ thần Hổ, thần Nông.

Mặt bằng vuông sáu hàng cột và chân tảng đá xanh chống lún

Điểm khác biệt lớn nhất về kết cấu chịu lực của Đình Bình Thủy so với đình làng miền Bắc và miền Trung nằm ở mặt bằng hình vuông của cả tòa tiền đình lẫn tòa chính điện. Thay vì phát triển theo chiều ngang với hệ vì kèo giá chiêng chồng rường, các nghệ nhân miền Tây đã dựng bộ khung gỗ theo lối nhà rường tứ trụ mở rộng: mỗi tòa đều có 6 hàng cột theo chiều dọc và 6 hàng cột theo chiều ngang, tạo thành mạng lưới 36 cột gỗ lớn phân bố đều lực nâng đỡ bộ mái đồ sộ. Toàn bộ chân cột đều được kê trên hệ thống chân tảng đá xanh đẽo gọt chuẩn xác, vừa cách ẩm chống mối mọt vừa giúp công trình nặng hàng trăm tấn đứng vững trên nền đất phù sa ven sông suốt hơn một thế kỷ mà không hề bị sụt lún hay nghiêng lệch.

Phần mái của tiền đình và chính điện được thiết kế theo thức thượng lầu hạ hiên (trên là tầng mái chồng diêm tạo độ cao thoáng đãng như lầu, dưới là hàng hiên đua rộng che nắng mưa). Trên bờ nóc và các đầu đao, nghệ nhân khéo léo gắn quần thể tượng gốm men nhiều màu từ các lò gốm cổ Nam Bộ: ở giữa nóc tiền đình là cụm lưỡng long tranh châu, ở nóc chính điện là tích kỳ lân hí cầu, điểm xuyết xung quanh là tượng ngư hóa long, phượng hoàng, ông Nhật bà Nguyệt và các bình hoa lam tinh xảo. Mặt đứng phía trước tiền đình gây ấn tượng mạnh với hàng cột xi-măng đắp nổi hoa văn lá cúc, mẫu đơn mang hơi hướng kiến trúc Pháp giao thời, tạo nên sự chuyển tiếp mềm mại từ sân gạch ngoài trời vào không gian gỗ trầm mặc bên trong.

Cổng tam quan và hàng rào cổ

Mở ra hướng bắc nhìn về phía sông Bình Thủy và đường Lê Hồng Phong, mái cổng lợp ngói ống xanh lục gắn biển chữ Hán Long Tuyền Cổ Miếu, nối liền với bức tường rào thoáng trang trí các ô hình học thanh thoát.

Tòa Tiền đình (6 hàng cột)

Mặt bằng hình vuông mỗi chiều 6 hàng cột, không gian mở thoáng đãng dùng làm nơi tiếp khách và chuẩn bị đại lễ, nổi bật với các bức chạm lộng đề tài bát tiên, tứ linh và các cặp liễn đối chạm nổi trên thân cột.

Tòa Chính điện (6 hàng cột)

Nền lát gạch tàu cao hơn tiền đình, kết cấu 6 hàng cột gỗ quý, mái chồng diêm ba tầng uy nghiêm, nơi đặt hương án chính thờ Bổn Cảnh Thành Hoàng cùng các ban thờ Tiền hiền, Hậu hiền và danh nhân lịch sử.

Nhà Võ ca và sân hát bội

Nằm ở khoảng sân rộng phía đông tiền đình, là sân khấu cổ truyền dựng riêng cho các gánh hát bội biểu diễn suốt các đêm đại lễ Kỳ Yên để dâng thần và phục vụ bá tánh.

Hệ thống hoành phi, bao lam và hương án chạm gỗ

Hàng chục bức hoành phi, câu đối, bao lam thành vọng và bàn hương án được chạm thủng, chạm lộng hình rồng phượng, mai lan cúc trúc, chim muông hoa lá sơn son thếp vàng rực rỡ do nghệ nhân Nam Bộ chế tác năm 1909 - 1910.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền trên địa hình thực tế của châu thổ sông Hậu, không phải nội dung chép trong sắc phong hay văn bia của đình. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt giữa tư liệu lịch sử và góc nhìn hình thế học.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ địa hình tại tọa độ 10,07249 độ vĩ Bắc, 105,75224 độ kinh Đông, Đình Bình Thủy chiếm giữ một vị trí thủy khẩu giao hội đắc địa bậc nhất của vùng đất Cần Thơ. Ngôi đình tọa lạc ngay gần ngã ba nơi sông Bình Thủy (xưa là rạch Bình Hưng) đổ ra dòng sông Hậu (Hậu Giang) mênh mông ở phía đông bắc. Trong pháp xem đất của vùng đồng bằng sông nước Nam Bộ, nơi không có núi cao làm tổ sơn thì các dòng sông lớn đóng vai trò là thủy long dẫn mạch khí. Dòng sông Hậu chảy từ thượng nguồn châu thổ xuống như đại giang tụ thủy, còn con sông Bình Thủy tách nhánh uốn lượn mềm mại qua trước mặt đình như hình một con rồng xanh vươn mình hút nước, đúng như mỹ danh Long Tuyền (suối rồng) mà tiền nhân đã đặt cho làng.

Về tọa hướng và minh đường, trục chính của Đình Bình Thủy xoay mặt về hướng Bắc hơi chếch Đông, trực tiếp đón nhận sinh khí và gió mát từ mặt nước sông Bình Thủy và sông Hậu thổi vào. Khoảng sân rộng lát gạch cùng con đường ven sông phía trước tạo thành nội minh đường và ngoại minh đường liên hoàn, giúp dòng khí từ ngã ba sông khi tiến vào đình được lắng đọng êm ả trước khi tụ vào tòa chính điện 36 cột. Phía đông của đình có Cồn Sơn nổi lên giữa dòng sông Hậu đóng vai trò như một hộ sa che chắn sóng to gió lớn, minh chứng qua chính sự kiện đoàn thuyền của Tuần phủ Huỳnh Mẫn Đạt năm 1852 rẽ vào vàm rạch này liền gặp cảnh sóng yên biển lặng (Bình Thủy). Phía sau lưng đình là dải đất giồng cao ráo trù phú của sáu ấp cổ làm hậu chẩm vững chãi, hai bên tả hữu có rạch Cái Sơn và hệ thống kênh rạch bao bọc như hai cánh tay Thanh Long, Bạch Hổ ôm giữ long mạch, tạo nên thế đất tàng phong tụ khí hiếm có giữa miền sông nước Tây Đô.

VLễ Hội Kỳ Yên Thượng Điền Và Hạ Điền (Di Sản Quốc Gia)

Đình Bình Thủy là nơi bảo lưu trọn vẹn nhất quy trình Lễ hội Kỳ Yên (cầu an) của cư dân nông nghiệp lúa nước miền Tây Nam Bộ. Mỗi năm đình tổ chức hai kỳ đại lễ lớn gắn chặt với chu kỳ canh tác mùa vụ: Lễ Kỳ Yên Thượng điền (từ ngày 12 đến ngày 14 tháng 4 âm lịch, khi bắt đầu xuống giống vụ mùa mới) và Lễ Kỳ Yên Hạ điền (từ ngày 14 đến ngày 15 tháng 12 âm lịch, khi thu hoạch xong mùa màng và chuẩn bị đón Tết). Năm 2018, Lễ hội Kỳ Yên Đình Bình Thủy đã được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Lịch nghi lễ truyền thống của Lễ hội Kỳ Yên tại Đình Bình Thủy (Long Tuyền Cổ Miếu). Nguồn: Tổng hợp từ hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của Cục Di sản văn hóa (dsvh.gov.vn)..
Kỳ lễ và Thời gianNghi thức chínhÝ nghĩa và Sinh hoạt văn hóa
Lễ Thượng điền (Đêm 11 và rạng sáng 12 tháng 4 âm lịch)Lễ Thỉnh Sắc Thần và Túc YếtĐoàn xe hoa và kiệu rước sắc phong Bổn Cảnh Thành Hoàng từ nơi cất giữ về an vị tại chính điện trong tiếng trống chiêng, nhạc lễ và đội lân sư rồng mở đường.
Ngày 12 đến 13 tháng 4 âm lịchLễ Tế Thần Nông, Thay Khăn Sắc và Xây Chầu Đại BộiCúng Thần Nông cầu mưa thuận gió hòa, thực hiện nghi thức Mộc dục (thay khăn đỏ phủ hộp sắc thần) lúc nửa đêm và đánh ba hồi trống Xây chầu khai màn hát bội tại nhà võ ca.
Ngày 14 tháng 4 âm lịchLễ Chánh Tế, Tế Tiền Hiền - Hậu Hiền và Đưa SắcBan tế tự mặc áo dài khăn đóng thực hiện tuần hương, tuần rượu dâng văn tế cổ truyền tri ân bậc mở đất, sau đó rước sắc thần hồi vị khép lại kỳ lễ Thượng điền.
Lễ Hạ điền (Ngày 14 đến 15 tháng 12 âm lịch)Lễ Tạ Thần, Cúng Tiên Sư và Cầu An cuối nămTạ ơn Thành Hoàng cùng chư vị thần linh đã phù hộ một năm mùa màng bội thu, kết hợp hội thi mâm xôi, bánh dân gian Nam Bộ, đờn ca tài tử và các trò chơi dân gian.
Các ngày Rằm và Mùng Một hàng thángLễ sóc vọng thường kỳBan quý tế và nhân dân địa phương dâng hương hoa, phẩm vật cầu bình an cho gia đạo và khu phố.

Trong suốt những ngày diễn ra lễ hội Kỳ Yên, không gian Đình Bình Thủy rộn rã tiếng trống chầu, tiếng kèn sona của các gánh hát bội trình diễn những tuồng tích trung hiếu tiết nghĩa tại nhà võ ca, hòa cùng tiếng đờn ca tài tử mượt mà bên bờ sông Bình Thủy. Sự hòa quyện giữa phần lễ trang nghiêm theo điển chế cung đình nhà Nguyễn và phần hội phóng khoáng, hào sảng của người dân miền Tây đã biến ngôi đình thành tâm điểm văn hóa cộng đồng của cả vùng châu thổ sông Hậu.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 46/11A đường Lê Hồng Phong, phường Bình Thủy (quận Bình Thủy cũ), thành phố Cần Thơ
Đường tới
Đình nằm tại số 46/11A đường Lê Hồng Phong, phường Bình Thủy, cách trung tâm Bến Ninh Kiều khoảng 5 km về phía tây bắc. Quý vị có thể đi dọc theo trục đường Nguyễn Trãi - Cách Mạng Tháng Tám - Lê Hồng Phong đến sát cầu Bình Thủy, hoặc đi thuyền du lịch dọc sông Hậu rẽ vào ngã ba sông Bình Thủy.
Toạ độ
10.07249, 105.75224
Khi tới nơi

Đình Bình Thủy là chốn thờ tự tôn nghiêm do Ban quý tế địa phương trực tiếp trông coi và hành lễ hàng ngày. Khi bước vào khuôn viên đình, xin quý vị mặc trang phục lịch sự, kín đáo, tháo mũ nón khi qua cửa tiền đình và chính điện. Khi chiêm ngưỡng các mảng chạm gỗ cổ, hoành phi câu đối hay hệ thống bàn thờ danh nhân, xin quý vị đi nhẹ bước, giữ trật tự và không tự ý chạm tay lên hiện vật hoặc bước lên bệ thờ chính điện.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đình Bình Thủy

Contribute photos, information or video for Bình Thủy Communal House

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đình Bình Thủy có từ năm nào và vì sao có tên chữ là Long Tuyền Cổ Miếu?

Đình được khởi dựng lần đầu bằng gỗ lợp lá vào năm Giáp Thìn (1844) tại vàm rạch Bình Hưng. Đến đầu thế kỷ 20, khi vùng đất này mang tên làng Long Tuyền (suối rồng, gợi hình ảnh dòng sông Bình Thủy uốn lượn như rồng), nhân dân đại trùng tu ngôi đình vào năm 1909 - 1910 và đắp bốn chữ Hán Long Tuyền Cổ Miếu trên cổng tam quan.

Ai là người đã đổi tên vùng đất thành Bình Thủy và tâu xin sắc phong cho đình?

Năm Tự Đức thứ 5 (1852), Khâm sai đại thần, Tuần phủ Huỳnh Mẫn Đạt đi tuần thú bằng thuyền gặp bão lớn trên sông Hậu đã rẽ vào vàm rạch Bình Hưng trú ẩn an toàn. Cảm kích dòng nước êm ả và tình dân nồng hậu, ông đổi tên đất thành Bình Thủy (nước bình yên) và dâng sớ xin vua Tự Đức ban sắc phong Bổn Cảnh Thành Hoàng vào ngày 29 tháng 11 năm Nhâm Tý (1852).

Ngoài Thành Hoàng Bổn Cảnh, Đình Bình Thủy còn phối thờ những nhân vật lịch sử nào?

Bên cạnh vị thần chủ Bổn Cảnh Thành Hoàng cùng Tiền hiền, Hậu hiền và các vị thần nông nghiệp (Thần Nông, Thần Hổ), Đình Bình Thủy còn lập bàn thờ Hậu thần Đinh Công Chánh và các bậc anh hùng, danh nhân văn hóa lớn của dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Trung Trực, Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa và Võ Huy Tập.

Kiến trúc của Đình Bình Thủy có điểm gì khác biệt so với đình làng miền Bắc?

Khác với đình làng Bắc Bộ thường trải dài theo chiều ngang hình chữ Đinh hoặc chữ Công, tòa tiền đình và chính điện của Đình Bình Thủy đều có mặt bằng hình vuông với kết cấu 6 hàng cột dọc nhân 6 hàng cột ngang (36 cột mỗi tòa) kê trên chân tảng đá xanh chống lún, kết hợp mái chồng diêm thượng lầu hạ hiên và trang trí gốm men cổ Nam Bộ.

Lễ hội Kỳ Yên Đình Bình Thủy diễn ra vào thời gian nào trong năm?

Đình tổ chức hai kỳ lễ Kỳ Yên mỗi năm theo chu kỳ nông nghiệp: lễ Thượng điền diễn ra từ ngày 12 đến 14 tháng 4 âm lịch (lớn nhất trong năm, có rước sắc thần và hát bội) và lễ Hạ điền diễn ra từ ngày 14 đến 15 tháng 12 âm lịch. Lễ hội đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2018.

›Đọc Tiếp