VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đình Chu Quyến (Đình Chàng)

Đình Chàng, Đình Châu Chàng

Kiệt tác kiến trúc đình làng gỗ lim cuối thế kỷ 17 dưới triều vua Lê Hy Tông bên bờ hữu ngạn sông Hồng, nổi danh với câu ca xứ Đoài to như cột đình Chàng và nghệ thuật chạm khắc dân gian bong kênh sống động.

Khởi dựng
Cuối thế kỷ 17
thời vua Lê Hy Tông (Lê Trung hưng), diện tích đại đình 395 m2
Kiến trúc
Cột lim 81 cm
hệ khung 40 - 48 cột gỗ lim, sàn gỗ nhà sàn cổ và 4 đao cong
Xếp hạng
Di tích quốc gia
Quyết định năm 1962, Giải thưởng bảo tồn quốc tế châu Á năm 2010

Đi dọc theo con đê hữu ngạn sông Hồng về phía tây bắc xứ Đoài thuộc đất cổ Quảng Oai, quý vị sẽ bắt gặp một công trình kiến trúc gỗ khổng lồ đứng sừng sững giữa khoảng sân rộng thoáng bên đầm nước làng Chàng. Không có cổng tam quan đồ sộ che khuất tầm mắt, cũng không có tường gạch bưng kín hay hậu cung tách biệt, toàn bộ ngôi đình chỉ gồm một tòa Đại đình duy nhất có bộ mái ngói mũi hài rộng mênh mông chiếm tới hai phần ba chiều cao công trình, bốn góc đao uốn cong vút như bốn cánh phượng hoàng đang vỗ cánh bay lên nền trời châu thổ.

Đó là Đình Chu Quyến, tên Nôm quen thuộc trong dân gian là Đình Chàng (hay Đình Châu Chàng), một trong những đỉnh cao rực rỡ nhất của nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc đình làng Việt Nam thế kỷ 17 dưới triều vua Lê Hy Tông. Nơi đây không chỉ phụng thờ Đức Thành hoàng Nhã Lang Vương của nhà Tiền Lý với 15 đạo sắc phong cổ, mà còn khiến bao thế hệ kiến trúc sư trong nước và quốc tế kinh ngạc bởi những hàng cột cái bằng gỗ lim đường kính lên tới 81 xăng-ti-mét, kết cấu sàn gỗ ba cấp mang âm hưởng nhà sàn người Việt cổ và hàng trăm mảng chạm lộng dân gian tràn đầy nhựa sống.

Đình Chu Quyến (Đình Chàng)
Đình Chu Quyến (Đình Chàng). Ảnh: Duyphuong (thảo luận), giấy phép CC BY 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

IThành Hoàng Nhã Lang Vương Và Ký Ức Lịch Sử Nhà Tiền Lý Bên Bờ Sông Hồng

Đình Chu Quyến thuộc truyền thống Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng và Tổ tiên (Thờ cúng Tổ tiên) của cư dân nông nghiệp vùng châu thổ sông Hồng. Vị phúc thần tối cao được dân làng Chu Quyến (làng Chàng) tôn thờ làm Thành hoàng làng tại chính gian giữa tòa Đại đình là Đức Nhã Lang Vương (tức hoàng tử Lý Nhã Lang, sống vào thế kỷ thứ 6 dưới thời nhà nước Vạn Xuân của nhà Tiền Lý). Phối thờ trong cụm di tích làng Chu Quyến (gồm Đình Chu Quyến, Đền Chu Quyến và Chùa Chu Quyến) còn có thân mẫu của Ngài và Tứ vị Hồng Nương.

Theo thần tích và truyền thuyết lưu truyền bao đời tại tổng Châu Chàng, phủ Quảng Oai xưa: vào giữa thế kỷ thứ 6, sau khi Lý Nam Đế (Lý Bí) băng hà trong cuộc kháng chiến chống quân Lương, quyền bính nước Vạn Xuân chia làm hai nhánh: ở vùng đầm Dạ Trạch (Khoái Châu, Hưng Yên) có Triệu Việt Vương (Triệu Quang Phục) xưng vương giữ nước, còn ở vùng đầu nguồn phía tây (xứ Đoài) có Hậu Lý Nam Đế (Lý Phật Tử), người trong hoàng tộc họ Lý, thống lĩnh binh quyền. Hoàng tử Nhã Lang là bậc văn võ song toàn nhưng sớm phải đứng giữa bi kịch tranh chấp quyền lực của hai dòng họ Lý và Triệu. Sau khi cuộc xung đột năm Tân Mão (571) khép lại trong nỗi đau mất mát người vợ hiền là công chúa Cảo Nương, Nhã Lang Vương lòng đầy hối hận và chán ghét cảnh tranh giành ngôi báu chốn triều đình. Ngài đã dứt khoát từ chối ngôi vị Thái tử do vua cha Lý Phật Tử truyền trao, xin phép đưa mẹ về ẩn cư tại vùng đất bãi bồi Chu Quyến bên bờ sông Hồng. Tại đây, Nhã Lang Vương bỏ tiền của chiêu tập dân nghèo khai hoang lập ấp, dạy dân đắp đê ngăn lũ sông Hồng, khơi ngòi dẫn nước cày cấy, trồng dâu chăn tằm và mở lò luyện võ bảo vệ xóm làng. Khi Ngài hóa tại đất Chu Quyến, dân làng thương tiếc lập đền và đình phụng thờ làm Thành hoàng bảo hộ cho cả vùng Châu Chàng.

Theo sử liệu

Khi đối chiếu thân thế và mối quan hệ huyết thống của Nhã Lang Vương giữa chính sử biên niên và thần tích dân gian địa phương, thư viện ghi nhận hai cách chép có điểm khác biệt về vai vế của công chúa Cảo Nương và trình bày rõ cả hai để quý vị tham khảo. Theo bộ chính sử Đại Việt sử ký toàn thư (Ngoại kỷ, Quyển IV, kỷ Nhà Tiền Lý) và thiên truyện Trọng Thủy - Mỵ Châu, Nhã Lang - Cảo Nương trong văn học cổ: năm Đinh Hợi (567), Lý Phật Tử giảng hòa với Triệu Việt Vương, xin cho con trai mình là Nhã Lang kết hôn với con gái của Triệu Việt Vương là công chúa Cảo Nương và sang ở rể tại thành của họ Triệu, như vậy theo chính sử, Nhã Lang Vương là con trai của Lý Phật Tử và là con rể (phò mã) của Triệu Việt Vương. Trong khi đó, một số bản thần tích dân gian và lời kể truyền miệng ở vùng Ba Vì lại chép dị bản rằng công chúa Cảo Nương (con gái Triệu Việt Vương) kết duyên cùng Lý Phật Tử rồi sinh ra Nhã Lang, tức coi Nhã Lang là con của Lý Phật Tử với Cảo Nương và là cháu ngoại của Triệu Việt Vương, sau khi Cảo Nương qua đời thì Nhã Lang về quê ngoại ở vùng Chu Quyến lập nghiệp. Dù theo chính sử (Nhã Lang là phò mã của Triệu Việt Vương) hay theo dị bản dân gian (Nhã Lang là cháu ngoại của Triệu Việt Vương), cả hai nguồn đều thống nhất ở phẩm cách nhân hậu của vị hoàng tử họ Lý: người đã từ bỏ ngai vàng để chọn cuộc đời gắn bó máu thịt với người nông dân bên bờ sông Cái.

Trải qua các vương triều phong kiến Việt Nam, công đức khai ấp lập làng của Nhã Lang Vương luôn được triều đình ghi nhận. Hiện nay, Đình Chu Quyến vẫn bảo lưu được nguyên vẹn 15 đạo sắc phong của các triều đại Lê Trung hưng, Tây Sơn và Nguyễn (từ niên hiệu Cảnh Hưng, Quang Trung, Cảnh Thịnh đến các đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân, Khải Định), đều nhất loạt gia phong Nhã Lang Vương là bậc Thượng Đẳng Thần.

Theo giáo nghĩa

Việc dân làng Chu Quyến dựng ngôi đại đình bề thế bậc nhất xứ Đoài để phụng thờ một vị hoàng tử từ bỏ ngai vàng như Nhã Lang Vương phản ánh một nét tâm thức rất sâu sắc của văn hóa làng xã Việt Nam: người dân không thờ quyền lực đế vương thuần túy, mà thờ ân đức khai sáng và lòng nhân nghĩa. Trong không gian đình làng Bắc Bộ thế kỷ 17, vị Thành hoàng không đứng xa cách trên điện cao như thần quyền tuyệt đối, mà ngự ngay giữa lòng ngôi nhà chung của cộng đồng, chứng giám việc làng, lắng nghe tiếng đàn câu hát cửa đình và cùng chia sẻ nỗi vui buồn mùa màng với từng người dân quê.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người khi đọc tên chữ Đình Chu Quyến và tên Nôm Đình Chàng thường thắc mắc hai tên ấy có phải là hai ngôi đình khác nhau hay không. Thực chất đó là một: xưa kia vùng đất này mang tên Nôm là làng Chàng (thuộc tổng Châu Chàng, huyện Tiên Phong, phủ Quảng Oai), khi ghi vào sổ bộ chữ Hán được phiên thành mỹ tự Chu Quyến (朱 hoặc 周眷). Vì thế trong ca dao, tục ngữ dân gian xứ Đoài như câu To như cột đình Chàng, chữ đình Chàng chính là chỉ Đình Chu Quyến ngày nay.

IIHơn Ba Thế Kỷ Từ Triều Vua Lê Hy Tông Đến Giải Thưởng Bảo Tồn Quốc Tế Năm 2010

Được kiến tạo vào thời điểm hoàng kim nhất của nghệ thuật kiến trúc gỗ dân gian thời Lê Trung hưng, Đình Chu Quyến đã đứng vững hơn ba trăm năm bên bờ sông Hồng và trở thành hình mẫu tiêu biểu cho khoa học trùng tu di tích gỗ cổ của Việt Nam trong thế kỷ 21.

Theo sử liệu

Theo các công trình khảo cứu niên đại học kiến trúc và mỹ thuật cổ Việt Nam của Viện Bảo tồn Di tích và Viện Mỹ thuật, Đình Chu Quyến được khởi dựng vào khoảng cuối thế kỷ 17 (trong khoảng từ năm 1675 đến năm 1705, dưới triều vua Lê Hy Tông, niên hiệu Vĩnh Trị và Chính Hòa). Niên đại này được xác lập chắc chắn thông qua sự tương đồng hoàn toàn về kỹ thuật liên kết mộng mẹo thượng thu hạ thách, phong cách tạo hình rồng đao mác, nghê sừng vểnh, các mảng chạm lộng sinh hoạt dân gian và hệ thống con giống đất nung trên mái với các ngôi đình có niên đại tuyệt đối cuối thế kỷ 17 ở xứ Đoài. Trải qua thế kỷ 18, thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, ngôi đình có một số đợt tu sửa nhỏ thay ngói và gia cố chân tảng nhưng chưa bao giờ bị làm biến dạng kết cấu một tòa Đại đình chữ Nhất nguyên thủy.

Về lịch sử xếp hạng di sản và giải thưởng bảo tồn quốc tế, ngày 28 tháng 4 năm 1962, Bộ Văn hóa đã ban hành Quyết định số 313-VH/VP xếp hạng Đình Chu Quyến là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngay trong đợt xếp hạng di tích đầu tiên của Nhà nước Việt Nam (cùng đợt với Chùa Tây Phương, Chùa Thầy, Đền Quán Thánh). Lưu ý đối với một số nguồn tin thứ cấp trên mạng đôi khi gọi chung Đình Chu Quyến trong nhóm các ngôi đình Di tích quốc gia đặc biệt xứ Đoài (do đặt cạnh Đình Tây Đằng và Đình Tường Phiêu ở Ba Vì): tính đến năm 2025, về mặt văn bản pháp lý, cấp xếp hạng chính thức của Đình Chu Quyến là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia (Quyết định số 313-VH/VP năm 1962) và hiện là di tích trọng điểm hàng đầu được ngành văn hóa Hà Nội lập hồ sơ khoa học bảo tồn đặc biệt. Đặc biệt, từ năm 2007 đến năm 2010, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã giao Viện Bảo tồn Di tích thực hiện Dự án thực nghiệm tu bổ, tôn tạo Đình Chu Quyến với quy trình khoa học nghiêm ngặt bậc nhất: đánh số giải phẫu từng cấu kiện gỗ lim, dùng công nghệ hóa chất chuyên dụng bảo quản phần gỗ mục bên trong để giữ lại tối đa cấu kiện gốc thế kỷ 17 thay vì thay gỗ mới. Nhờ thành tựu xuất sắc này, năm 2010, công trình trùng tu Đình Chu Quyến đã vượt qua hàng chục hồ sơ quốc tế để giành Giải thưởng lớn (Grand Award) về Bảo tồn Di sản Kiến trúc khu vực châu Á và châu Đại Dương do Hiệp hội Kiến trúc sư Quốc tế (UIA) trao tặng tại Tây An (nhiều bài báo trong nước cũng thường nhắc đến sự kiện này như giải thưởng bảo tồn di sản văn hóa khu vực châu Á - Thái Bình Dương năm 2010). Về mặt hành chính, theo Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, khu vực các thôn Chu Quyến thuộc xã Chu Minh cũ (huyện Ba Vì cũ) đã được sáp nhập vào xã Quảng Oai mới trực thuộc thành phố Hà Nội.

  • Thế kỷ 6Nhã Lang Vương khai ấp lập làng Chu Quyến bên sông Hồng
    Sau biến cố giữa hai họ Lý - Triệu năm 571, hoàng tử Nhã Lang Vương từ chối ngôi Thái tử của Hậu Lý Nam Đế Lý Phật Tử, đưa mẹ về vùng Chu Quyến khai hoang lập ấp và được tôn làm Thành hoàng khi hóa.
  • Cuối thế kỷ 17Khởi dựng tòa Đại đình Chu Quyến thời vua Lê Hy Tông
    Dưới triều vua Lê Hy Tông (khoảng 1675 - 1705), dân làng Chàng hưng công dựng tòa Đại đình gỗ lim quy mô lớn với hệ cột cái đường kính 81 cm và các mảng chạm khắc dân gian đỉnh cao.
  • Thế kỷ 18 - đầu thế kỷ 20Nhận 15 đạo sắc phong qua các triều Lê, Tây Sơn, Nguyễn
    Các vương triều Lê Trung hưng, Tây Sơn và Nguyễn liên tiếp ban 15 đạo sắc phong tôn vinh Thành hoàng Nhã Lang Vương là Thượng Đẳng Thần, hiện vẫn được lưu giữ tại đình.
  • 1962Xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đợt đầu tiên
    Ngày 28 tháng 4 năm 1962, Bộ Văn hóa ký Quyết định số 313-VH/VP xếp hạng Đình Chu Quyến là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngay trong đợt công nhận đầu tiên của cả nước.
  • 2007 - 2010Dự án thực nghiệm tu bổ mẫu mực và Giải thưởng quốc tế năm 2010
    Viện Bảo tồn Di tích thực hiện dự án trùng tu khoa học giữ nguyên yếu tố gốc thế kỷ 17, xuất sắc giành Giải thưởng lớn về Bảo tồn Di sản Kiến trúc khu vực châu Á - Thái Bình Dương / châu Đại Dương của UIA năm 2010.
  • 2025Thuộc xã Quảng Oai mới theo Nghị quyết 1656/NQ-UBTVQH15
    Từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, thôn Chu Quyến (thuộc xã Chu Minh cũ, huyện Ba Vì cũ) chính thức thuộc địa giới hành chính xã Quảng Oai mới của thành phố Hà Nội.

IIIKiến Trúc Đại Đình Chữ Nhất, Cột Lim 81 Xăng-ti-mét Và Bảo Tàng Chạm Khắc Thế Kỷ 17

Trong lịch sử kiến trúc cổ Việt Nam, Đình Chu Quyến là đại diện tiêu biểu và hoàn chỉnh bậc nhất cho kiểu đình làng một tòa Đại đình duy nhất hình chữ Nhất (一) của thế kỷ 17, thời kỳ mà ngôi đình chưa bị phân hóa thành Tiền tế, Thiêu hương, Hậu cung hình chữ Đinh hay chữ Công như các thế kỷ sau. Toàn bộ ngôi đình là một khối kiến trúc gỗ lim khổng lồ dựng trên nền đất cao giữa không gian thoáng đãng, bình đồ hình chữ nhật dài hơn 28 mét, rộng gần 14 mét, tổng diện tích mặt bằng lên tới 395 mét vuông, chia làm 3 gian lớn và 2 chái rộng.

Nét hùng vĩ đầu tiên đập vào mắt người xem là bộ mái bốn mặt lợp ngói mũi hài cổ có quy mô đồ sộ chiếm tới hai phần ba tổng chiều cao ngôi đình, độ dốc mái thoải dần xuống bốn phía hiên thấp rồi bất ngờ vút cong lên ở bốn góc bằng bốn đầu đao (tàu đao lá mái) dài và bay bổng. Trên bờ nóc và bốn bờ chảy vẫn bảo lưu được hệ thống con giống bằng đất nung thế kỷ 17 (kìm nóc, rồng, nghê, phượng, lực sĩ cưỡi thú) mang sắc gốm mộc khỏe khoắn. Nâng đỡ cả bộ mái nặng hàng chục tấn ấy là hệ thống khung gỗ lim gồm 6 hàng cột chạy dọc theo chiều dài ngôi đình (mỗi bộ vì gồm 6 cột: 2 cột cái, 2 cột quân và 2 cột hiên). Về tổng số cột gỗ lim của đình, các bản vẽ khảo sát kỹ thuật ghi nhận 40 cột gỗ lim chịu lực chính (hoặc 48 cột nếu đếm gộp cả hệ cột hiên phụ ở bốn góc chái), tất cả đều được đẽo theo dáng thượng thu hạ thách (phần ngọn thu nhỏ, phần thân dưới phình to như bắp đùi lực sĩ để hạ thấp trọng tâm) đặt trên các chân tảng đá xanh đục hoa sen. Đặc biệt, bốn cột cái ở gian giữa có đường kính lên tới 81 xăng-ti-mét (chu vi hơn 2,5 mét, hai người lớn dang tay ôm không xuể), các cột cái gian bên đường kính 60 xăng-ti-mét và cột quân, cột hiên đường kính 50 xăng-ti-mét. Chính kích thước kỳ vĩ này đã sinh ra câu thành ngữ nức tiếng khắp xứ Đoài: To như cột đình Chàng.

Kết cấu nhà sàn cổ Việt và những mảng chạm bong kênh dân gian độc bản

Một giá trị kiến trúc vô cùng quý giá khác của Đình Chu Quyến là việc bảo lưu kết cấu sàn gỗ nâng cao mang đậm dấu ấn nhà sàn cổ của người Việt. Ngôi đình hoàn toàn không xây tường gạch hay lắp cửa bức bàn bưng kín bốn xung quanh, mà để mở thông thoáng bốn phía cho gió sông Hồng thổi lồng lộng qua lòng đình, chỉ giới hạn không gian bằng hàng lan can gỗ thấp trổ con tiện. Toàn bộ mặt nền bên trong đình được lát sàn gỗ lim nâng cao cách mặt đất tới 0,8 mét (nhằm chống ẩm lụt vùng ven sông Hồng), chia làm ba cấp cao thấp khác nhau theo kiểu lòng thuyền: lòng giữa để trống và thấp hơn, hai bên tả hữu nâng sàn gỗ cao dần làm chỗ ngồi phân định ngôi thứ nghiêm ngặt cho các bậc tiên chỉ, thứ chỉ, bô lão và chức sắc trong làng khi họp việc công hay dự tiệc tế thần. Riêng phần giữa gian trung tâm được dựng một khám thờ lớn sơn son thếp vàng làm nơi an vị ngai thờ và bài vị Đức Thành hoàng Nhã Lang Vương, đảm nhiệm vai trò của một cung cấm ngay trong lòng Đại đình.

Ngước nhìn lên hệ thống vì kèo liên kết theo lối thượng chồng rường giá chiêng, hạ cốn bẩy, quý vị sẽ chiêm ngưỡng một bảo tàng điêu khắc gỗ dân gian thế kỷ 17 sống động đến từng thớ gỗ. Các hiệp thợ mộc xứ Đoài thời vua Lê Hy Tông đã sử dụng kỹ thuật chạm lộng, chạm nổi kết hợp chạm bong kênh nhiều lớp có độ sâu tới 20 xăng-ti-mét (gần như tượng tròn tách hẳn khỏi nền gỗ) trên khắp các đầu dư, bức cốn, xà nách, kẻ hiên và bẩy hậu. Bên cạnh hình tượng rồng thời Lê Trung hưng bờm lửa đao mác khỏe khoắn và bức chạm độc bản Long, Nghê, Phượng kết hợp bất đối xứng cùng hình ảnh chim phượng thảnh thơi cúi đầu rỉa lông trên xà nách, Đình Chu Quyến nổi tiếng với hàng loạt hoạt cảnh sinh hoạt đời thường phóng khoáng, hóm hỉnh của người nông dân Việt Nam thế kỷ 17: bức chạm Người cưỡi báo (hoặc cưỡi hổ) tay nắm đuôi thú đầy khí phách, Tiên nữ cưỡi rồng bay trong mây, cảnh Mẹ gánh con trong đôi thúng đi chợ làng, cảnh Chọi gà (đấu kê) sôi nổi ngày hội, cảnh Hát cửa đình với các đào nương gảy đàn đáy, đàn tỳ bà, người thổi sáo, người uống rượu và tiên ông đánh cờ.

Hệ thống 40 - 48 cột gỗ lim và bốn cột cái đường kính 81 cm

Bộ khung chịu lực 6 hàng cột gỗ lim nguyên khối dáng thượng thu hạ thách, nổi bật với bốn cột cái gian giữa có đường kính lên tới 81 cm làm nên câu tục ngữ To như cột đình Chàng.

Sàn gỗ lim ba cấp kiểu nhà sàn cổ Việt và không gian mở bốn phía

Đình không xây tường bao mà mở thoáng bốn mặt với lan can thấp, bên trong lắp sàn gỗ lim cao hơn mặt đất 0,8 m chia thành 3 cấp lòng thuyền để phân ngôi thứ quan viên và chống ngập lụt ven sông.

Mảng chạm Người cưỡi báo, Tiên cưỡi rồng và Mẹ gánh con

Những tuyệt tác chạm bong kênh thế kỷ 17 trên kẻ hiên và bức cốn, khắc họa sinh động sức mạnh chế ngự mãnh thú và tình mẫu tử mộc mạc của người nông dân xứ Đoài.

Mảng chạm Cụm linh thú Long - Nghê - Phượng và Chim phượng rỉa lông

Bố cục điêu khắc bất đối xứng độc bản trên xà nách đình Chu Quyến, trong đó hình ảnh chim phượng xõa cánh rỉa lông thể hiện óc quan sát tự nhiên tinh tế của nghệ nhân thời Lê Hy Tông.

Hệ thống con giống đất nung thế kỷ 17 và 15 đạo sắc phong cổ

Quần thể tượng gốm đất nung (rồng, nghê, phượng, kìm nóc) gắn trên bờ nóc, bờ chảy của bốn mái đao cong vút, cùng 15 đạo sắc phong từ thời Lê Trung hưng, Tây Sơn đến thời Nguyễn.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền trên thực địa làng Chu Quyến và ven đê sông Hồng, không phải điều chép sẵn trong thần tích của đình. Chúng tôi nói rõ để quý vị phân biệt được giữa tư liệu lịch sử và kiến giải địa lý phong thủy.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ địa hình vùng đồng bằng ven sông xứ Đoài ở tọa độ 21,19623 độ vĩ Bắc và 105,44290 độ kinh Đông, Đình Chu Quyến tọa lạc trên một gò đất cao cổ thuộc bãi bồi bờ hữu ngạn (bờ nam) của dòng sông Hồng (Nhị Hà), nằm giữa trục kết nối từ chân núi Tổ Ba Vì (Tản Viên) ở phía nam vươn ra sông Cái ở phía bắc và đông bắc. Trong phép tầm long điểm huyệt của cổ nhân, dãy núi Ba Vì hùng vĩ chính là Hậu tổ sơn phóng mạch xuống vùng đồng bằng Quảng Oai, trước khi mạch đất dừng lại bên mép nước sông Hồng cuộn chảy đã nổi lên dải đất cao của làng Chàng, tạo thành thế Thủy khẩu kết huyệt điển hình của các ngôi đình cổ ven sông Bắc Bộ.

Về sơn hướng và cấu trúc tụ khí, tòa Đại đình Chu Quyến quay mặt chính về hướng Tây Bắc chếch Tây (hướng Càn - Đoài), nhìn thẳng ra một đầm nước tự nhiên rộng lớn (hồ đình Chàng) nằm ngay trước sân đình làm Nội Minh đường tụ thủy, còn xa hơn ở phía tây bắc và phía bắc là dòng sông Hồng và dải bãi bồi xã đảo Minh Châu làm Ngoại Minh đường. Trong phong thủy cổ truyền, việc chọn hướng Tây Bắc nhìn ra đầm nước lớn có tác dụng thu nạp thủy khí dồi dào từ thượng nguồn sông Hồng và sông Đà hợp lưu đổ về (ngay phía trên ngã ba Bạch Hạc, Việt Trì không xa), giúp đồng ruộng làng Chàng luôn màu mỡ phù sa. Đặc biệt, thiết kế một tòa Đại đình mở thoáng cả bốn mặt, sàn gỗ nâng cao 0,8 mét và bốn mái ngói sà thấp chính là một giải pháp kiến trúc phong thủy thích ứng hoàn hảo với khí hậu và thủy văn ven sông: mùa hè gió mát từ mặt hồ Minh đường và sông Hồng thổi xuyên qua gầm sàn và lòng đình giúp giải nhiệt, mùa lũ nước dâng không chạm tới sàn gỗ lim, còn bộ mái khổng lồ bốn góc đao cong giữ cho vùng khí tâm linh quanh khám thờ Nhã Lang Vương ở gian giữa luôn tụ mà không tán.

VLễ Hội Đình Chu Quyến Tháng Giêng Và Sinh Hoạt Văn Hóa Làng Chàng

Hằng năm, cứ mỗi độ xuân về, nhân dân các thôn thuộc làng Chu Quyến (cùng cụm di tích Đình, Đền và Chùa Chu Quyến) lại mở Lễ hội truyền thống Đình Chu Quyến để tưởng niệm công đức khai ấp lập làng của Đức Thành hoàng Nhã Lang Vương và cầu cho đê điều vững chãi, mùa màng tươi tốt.

Theo lệ cổ của làng Chàng, lễ hội chính diễn ra từ ngày 13 đến ngày 15 tháng Giêng âm lịch (một số năm đại đám kéo dài đến ngày 16 tháng Giêng, trong đó ngày 14 và Rằm tháng Giêng là ngày chính hội). Tâm điểm của phần lễ là nghi thức rước kiệu từ Đền Chu Quyến (nơi thờ riêng Nhã Lang Vương và thân mẫu) về hội tụ tại sân Đại đình Chu Quyến với đầy đủ cờ thần, tàn lọng, bát bửu, đội múa rồng và đội tế nam quan mặc áo thụng xanh, đi hia, đội mũ cánh chuồn cử hành các tuần đại tế cổ truyền trên sàn gỗ Đại đình. Phần hội diễn ra sôi nổi quanh sân đình và mặt hồ Minh đường với các trò diễn dân gian đúng như những gì các nghệ nhân thế kỷ 17 đã chạm khắc lên xà gỗ của đình: hát cửa đình (ca trù), đấu vật dân tộc, chọi gà, đánh cờ người, bắt vịt dưới hồ và kéo co.

Các kỳ lễ hội và tế tự truyền thống hằng năm tại cụm di tích Đình và Đền Chu Quyến (xã Quảng Oai, Hà Nội). Nguồn: Tổng hợp từ Ban Quản lý Di tích xã Chu Minh cũ (nay là xã Quảng Oai) và hồ sơ Viện Bảo tồn Di tích..
Thời gian âm lịchTên kỳ lễNghi thức và hoạt động văn hóa tiêu biểu
Ngày 13 tháng Giêng âm lịchLễ mở cửa đình và Lễ Mộc dục, rước kiệuCác bô lão làm lễ bao sái ngai thờ, bài vị và tổ chức đoàn rước kiệu bát cống từ Đền Chu Quyến về an vị tại Đại đình Chu Quyến.
Ngày 14 và 15 tháng Giêng âm lịchChính hội Thượng nguyên Đình Chu QuyếnCử hành đại tế Thành hoàng Nhã Lang Vương trên sàn gỗ Đại đình, tuyên đọc thần tích và tổ chức hội vật, cờ người, chọi gà, hát cửa đình bên hồ trước đình.
Ngày 16 tháng Giêng âm lịchLễ tế tạ và rước Thánh hồi cungLễ dâng hương tạ thần, rước bài vị trở lại Đền Chu Quyến và thụ lộc đầu xuân của các giáp, các dòng họ trong làng Chàng.
Ngày mùng 10 tháng Tám âm lịchLễ tiệc thu tưởng niệm Đức Thành hoàngKỳ tế thu truyền thống của dân làng Chu Quyến dâng sản vật lúa mới và oản quả cảm tạ ân đức phù trì của Nhã Lang Vương.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn Chu Quyến (làng Chàng / Châu Chàng xưa), xã Quảng Oai (xã Chu Minh cũ, huyện Ba Vì cũ), thành phố Hà Nội
Đường tới
Từ trung tâm thành phố Hà Nội, quý vị đi theo Quốc lộ 32 về phía tây qua phường Sơn Tây và trung tâm xã Quảng Oai (thị trấn Tây Đằng cũ, huyện Ba Vì cũ) khoảng 50 cây số, sau đó rẽ phải theo đường liên xã về phía đê hữu ngạn sông Hồng khoảng 3 cây số là tới thôn Chu Quyến và Đình Chu Quyến.
Toạ độ
21.19623, 105.4429
Khi tới nơi

Khi tới thăm và chiêm bái Đình Chu Quyến, quý vị đang đứng trước một kiệt tác kiến trúc gỗ thế kỷ 17 đã qua bảo tồn khoa học chuẩn quốc tế. Xin quý vị tháo giày dép trước khi bước lên hệ thống sàn gỗ lim cổ, không viết vẽ hay cạo chạm lên các cột cái và các mảng chạm khắc bong kênh, tuyệt đối không hút thuốc hoặc đốt lửa gần kết cấu gỗ của đình, và giữ gìn sự tôn nghiêm nơi thờ tự Thành hoàng làng.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đình Chu Quyến (Đình Chàng)

Contribute photos, information or video for Chu Quyến Communal House (Chàng Communal House)

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đình Chu Quyến thờ ai và nhân vật ấy có nguồn gốc lịch sử như thế nào?

Đình Chu Quyến thờ Thành hoàng làng là Nhã Lang Vương (Lý Nhã Lang), hoàng tử thời nhà nước Vạn Xuân thế kỷ thứ 6. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ông là con trai Hậu Lý Nam Đế Lý Phật Tử và là con rể của Triệu Việt Vương (kết hôn cùng công chúa Cảo Nương), còn một dị bản dân gian coi ông là cháu ngoại Triệu Việt Vương. Sau biến cố năm 571, ông từ chối ngôi Thái tử để về vùng Chu Quyến khai hoang lập ấp giúp dân.

Vì sao trong dân gian xứ Đoài có câu tục ngữ To như cột đình Chàng?

Đình Chàng là tên Nôm của Đình Chu Quyến. Sở dĩ có câu tục ngữ To như cột đình Chàng là bởi bộ khung Đại đình được dựng từ 40 đến 48 cột gỗ lim nguyên khối cực lớn, trong đó bốn cột cái ở gian giữa có đường kính lên tới 81 xăng-ti-mét (chu vi hơn 2,5 mét, hai người lớn dang tay ôm không xuể), thuộc hàng cột đình cổ lớn nhất Việt Nam còn tồn tại.

Kiến trúc Đình Chu Quyến có điểm gì khác biệt so với các ngôi đình làng thông thường?

Đình Chu Quyến được dựng vào cuối thế kỷ 17 (thời vua Lê Hy Tông) với chỉ một tòa Đại đình duy nhất kiểu chữ Nhất rộng 395 mét vuông (3 gian 2 chái lớn), không có tường gạch bao kín và không tách hậu cung riêng. Đặc biệt, đình giữ nguyên kết cấu sàn gỗ lim nâng cao hơn mặt đất 0,8 mét chia làm 3 cấp bậc mang đậm dấu ấn nhà sàn cổ của người Việt để phân ngôi thứ và chống ngập lụt ven sông Hồng.

Dự án trùng tu Đình Chu Quyến từng giành giải thưởng quốc tế nào vào năm 2010?

Trong giai đoạn 2007 - 2010, Viện Bảo tồn Di tích (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã thực hiện Dự án thực nghiệm tu bổ, tôn tạo Đình Chu Quyến bằng kỹ thuật bảo tồn giữ lại tối đa các cấu kiện gỗ lim nguyên gốc thế kỷ 17. Năm 2010, dự án này đã giành Giải thưởng lớn (Grand Award) về Bảo tồn Di sản Kiến trúc khu vực châu Á và châu Đại Dương của Hiệp hội Kiến trúc sư Quốc tế (UIA).

Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, Đình Chu Quyến thuộc xã nào của Hà Nội?

Trước ngày 1 tháng 7 năm 2025, Đình Chu Quyến thuộc thôn Chu Quyến, xã Chu Minh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Theo Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, phần diện tích và dân số khu vực thôn Chu Quyến của xã Chu Minh cũ đã được sáp nhập với thị trấn Tây Đằng và các xã lân cận để thành lập xã Quảng Oai mới trực thuộc thành phố Hà Nội.

›Đọc Tiếp