VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Văn Miếu Sơn Tây

Văn Miếu xứ Đoài, Văn Miếu tỉnh Sơn Tây

Văn miếu hàng tỉnh của xứ Đoài thời Nguyễn, dựng bằng thứ đá ong riêng của đất Sơn Tây, nay còn chín tấm bia và một nền cũ đang được dựng lại.

Khánh thành
1892
đời Thành Thái, sau đợt trùng tu do tổng đốc Cao Xuân Dục trông coi
Bia còn lại
9 tấm
ghi danh người đỗ đạt vùng Sơn Tây
Xếp hạng
Cấp tỉnh
nguồn ghi năm 2007, có nguồn ghi năm 2008

Rẽ khỏi quốc lộ 32 vào thôn Văn Miếu, quý vị gặp một mặt hồ hình bán nguyệt có kè đá, sau hồ là cổng tứ trụ trên đầu đắp chim phượng. Qua cổng là một khoảng đất rộng, tường và bậc lát bằng thứ gạch đá ong màu nâu đỏ lỗ chỗ như tổ ong, đúng thứ đá mà người làng cổ Đường Lâm bên cạnh vẫn dùng xây nhà, xây giếng. Có chỗ công trình đã dựng lại, có chỗ mới chỉ là nền.

Đây là văn miếu của cả tỉnh Sơn Tây thời Nguyễn, tức nơi quan tỉnh về tế Khổng Tử hai kỳ xuân thu. Cái đáng xem ở đây không phải một tòa điện nguyên vẹn, vì tòa điện ấy không còn. Cái đáng xem là chín tấm bia đá đã đi qua mọi biến đổi của nơi này, cùng một nền đất cho quý vị thấy người xứ Đoài từng đặt đạo học ở vị trí nào trong đời sống của họ.

Văn Miếu Sơn Tây
Văn Miếu Sơn Tây. Ảnh: Ngokhong (thảo luận), giấy phép CC BY 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

IVăn Miếu Hàng Tỉnh Của Xứ Đoài

Người xưa gọi vùng đất phía tây kinh thành là xứ Đoài, về hành chính thời Nguyễn là tỉnh Sơn Tây. Mỗi tỉnh có một văn miếu riêng để thờ Khổng Tử, và văn miếu Sơn Tây là nơi ấy. Ban thờ đặt Khổng Tử, phối thờ Tứ phối gồm Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử, cùng Thất thập nhị hiền, tức bảy mươi hai học trò giỏi của Khổng Tử (Người Hà Nội). Bên cạnh là lớp vinh danh các nhà khoa bảng của chính xứ Đoài (Đại biểu Nhân dân).

Bốn chữ Hán ở đầu trang là tên Sơn Tây văn miếu viết theo âm Hán Việt, thư viện chép theo tên gọi quen dùng chứ không chép từ một tấm hoành phi còn lại ở di tích.

Theo giáo nghĩa

Theo lệ Nho học thời Nguyễn, hệ văn miếu xếp thành bậc. Ở kinh đô có Văn Miếu của cả nước, ở mỗi trấn hay mỗi tỉnh có một văn miếu hàng tỉnh, dưới nữa là văn từ của phủ huyện và văn chỉ của làng. Văn miếu hàng tỉnh do nhà nước lập, quan tỉnh chủ tế, và là nơi đặt bia ghi danh người đỗ đạt trong tỉnh.

Đặt cạnh các bài đã có trong thư viện thì dễ thấy vị trí của nơi này. Văn Miếu Quốc Tử Giám là văn miếu quốc gia. Văn miếu Mao Điền là văn miếu trấn Hải Dương, còn đủ bái đường và nhà bia. Văn Miếu Sơn Tây cùng bậc với Mao Điền nhưng khác cảnh ngộ: ở đây dấu tích nhiều hơn công trình.

Theo sử liệu

Về số người đỗ đạt của đất Sơn Tây, các nguồn ghi hai con số cách nhau rất xa. Báo Văn hóa, Đại biểu Nhân dân và báo Nhân Dân ghi trong hơn tám trăm năm khoa cử, tỉnh Sơn Tây cũ có 68 người đỗ đại khoa, người đầu là Hoàng giáp Trần Văn Huy đỗ năm 1442. Báo Văn hóa ghi người cuối là Nguyễn Văn Bân đỗ năm 1901. Báo Văn nghệ lại dẫn tài liệu cũ ghi bia ở miếu khắc tên 288 vị tiến sĩ của trấn Sơn Tây, và một tham luận tại hội thảo khoa học năm 2024 cũng nêu con số 288 vị khoa bảng (Người Hà Nội). Báo Văn nghệ cho biết trấn Sơn Tây xưa gồm cả nhiều vùng nay thuộc Phú Thọ, Vĩnh Phúc và các tỉnh phía bắc, rộng hơn tỉnh Sơn Tây cũ nhiều, nên rất có thể hai con số đếm theo hai phạm vi khác nhau. Có sách còn chép miếu có 128 tấm bia, báo Văn nghệ cho là sai. Chúng tôi chưa tra được văn bia gốc nên ghi cả hai.

Trong 68 vị đại khoa ấy, các nguồn cùng nhắc một tên: Thám hoa Giang Văn Minh, người làng Mông Phụ ở Đường Lâm, người duy nhất của tỉnh lọt vào hàng tam khôi, tức ba bậc đỗ cao nhất khoa thi Đình. Văn miếu tỉnh dựng ngay trên đất làng ông, và đó là một sự trùng hợp mà người Đường Lâm vẫn nhắc tới. Báo Người Hà Nội còn kể tên Phùng Khắc Khoan trong số danh nho xứ Đoài.

IIBa Lần Dựng Và Một Lần Dựng Lại

Lịch sử nơi này có nhiều chỗ nguồn ghi không khớp, nhất là ở đoạn đầu. Điều các nguồn đều thống nhất là văn miếu thuộc triều Nguyễn, đã dời chỗ ít nhất một lần, và đợt dựng làm nên diện mạo đầy đủ nhất khép lại năm 1892.

  • Đầu thời NguyễnDựng ở làng Cam Thịnh
    Tuổi trẻ Thủ đô ghi văn miếu Sơn Tây được dựng lần đầu ở làng Cam Thịnh dưới triều Nguyễn. Báo Văn nghệ dẫn bia Văn Thánh ở chính miếu, ghi miếu trước ở thôn Cam Giá, huyện Phúc Lộc.
  • 1847Dời về làng Mông Phụ
    Đời Thiệu Trị, văn miếu dời về đất làng Mông Phụ (Tuổi trẻ Thủ đô). Tham luận của GS Đinh Khắc Thuận cũng ghi năm Thiệu Trị thứ 7 tổng đốc Nguyễn Đăng Giai dời miếu từ làng Cam Giá về Mông Phụ. Báo Văn nghệ thì dẫn bia Văn Thánh ghi Nguyễn Đăng Giai dời miếu về đây năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), còn năm 1847 là năm đền Khải Thánh từ xã Cam Giá Thịnh dời về, theo Đại Nam nhất thống chí.
  • 1886Trùng tu
    Đợt sửa chữa đầu tiên được các nguồn ghi lại cho miếu ở chỗ mới.
  • 1891 tới 1892Dựng lại dưới thời tổng đốc Cao Xuân Dục
    Năm Thành Thái thứ ba, miếu được dựng lại lần thứ ba trên chính khu đất Văn Miếu ngày nay, khánh thành năm 1892. Việc trông coi thuộc về Cao Xuân Dục, khi ấy là tổng đốc Sơn Hưng Tuyên, về sau là một nhà sử học lớn của triều Nguyễn. Ông viết bài kêu gọi quyên góp trùng tu và bài văn bia trùng tu văn miếu.
  • Giữa thế kỷ 20Bị dỡ bỏ
    Các công trình của miếu bị dỡ bỏ, chỉ còn nền, bia đá và một số hiện vật. Nguồn ghi khác nhau về thời điểm, GS Đinh Khắc Thuận ghi năm 1947, báo Văn nghệ ghi năm 1976.
  • 2007 hoặc 2008Xếp hạng cấp tỉnh
    Được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Tuổi trẻ Thủ đô ghi năm 2007, báo Người Hà Nội ghi năm 2008 do tỉnh Hà Tây cũ công nhận.
  • Từ 2012Phục dựng
    Việc phục dựng bắt đầu từ năm 2012, báo Người Hà Nội ghi dựng lại theo bản thiết kế của lần dựng năm 1891. Báo Văn nghệ ghi đợt tu bổ từ năm 2012 tới năm 2014. Năm 2018 di tích được giao cho Ban quản lý di tích làng cổ Đường Lâm (Tuổi trẻ Thủ đô).
Theo sử liệu

Hai chỗ vênh cần ghi rõ. Năm dựng đầu. Tuổi trẻ Thủ đô chỉ ghi dựng ở Cam Thịnh thời Nguyễn rồi dời năm 1847, không nêu năm. Báo Văn nghệ dẫn bia Văn Thánh ghi miếu dời về Mông Phụ năm 1843, và theo Đại Nam nhất thống chí thì năm 1847 là năm dời đền Khải Thánh chứ không phải năm dời miếu. Tham luận của GS Đinh Khắc Thuận lại ghi miếu dời năm Thiệu Trị thứ 7. Năm xếp hạng. Tuổi trẻ Thủ đô ghi 2007, Người Hà Nội ghi 2008. Chúng tôi chưa tra được số quyết định nên để cả hai.

Cũng có tài liệu ghi văn miếu Sơn Tây dựng năm 1891. Cách ghi ấy lấy lần dựng thứ ba làm năm khởi dựng, bỏ mất hơn bốn mươi năm trước đó.

IIIĐá Ong, Nền Cũ Và Chín Tấm Bia

Khu văn miếu rộng gần 4 héc ta, bày theo trục bắc nam (Tuổi trẻ Thủ đô). Các công trình xưa được chép lại gồm Văn Miếu môn, lầu chuông, lầu khánh, nhà tả vu và hữu vu, Đại bái đường, Thượng điện và đền Khải Thánh. Vật liệu chính là gạch và đá ong, thứ đá ong khai ngay trên đồi gò Sơn Tây, cứng lại khi phơi ra gió và mang màu nâu đỏ đặc trưng (Người Hà Nội).

Hồ bán nguyệt và cổng tứ trụ

Mặt hồ hình bán nguyệt có kè đá nằm trước cổng, sau hồ là cổng bốn trụ đắp phượng trên đỉnh (Báo Văn hóa). Đây là lớp đầu tiên quý vị gặp.

Lầu chuông và lầu khánh

Người Hà Nội tả lầu chuông và lầu trống dựng đối xứng hai bên đường chính đạo, hình bát giác, hai tầng mái. Báo Nhân Dân gọi là lầu chuông, lầu khánh và ghi hai lầu đặt ngay sau Văn Miếu môn, khác cách bày ở Văn Miếu Thăng Long. Tuổi trẻ Thủ đô gọi là lầu chuông và lầu khánh.

Đại bái và Thượng điện

Hai lớp nhà chính. Đại bái là chỗ hành lễ, Thượng điện đặt ban thờ Khổng Tử cùng Tứ phối. Bảy mươi hai vị hiền được thờ ở hai dãy tả vu, hữu vu (Người Hà Nội).

Đền Khải Thánh

Nơi thờ cha mẹ Khổng Tử, theo lệ văn miếu thời Nguyễn. Báo Văn nghệ ghi đền này dựng năm 1847.

Chín tấm bia

Bia đá ghi danh người đỗ đạt vùng Sơn Tây, được gom giữ lại từ công trình cũ. Đây là hiện vật có giá trị văn bản lớn nhất còn ở di tích.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm là nghĩ những gì đang đứng ở đây đều là công trình thế kỷ 19. Phần có niên đại chắc chắn là chín tấm bia, nền miếu và một số hiện vật. Các hạng mục mới lên từ năm 2012 là phục dựng, làm theo bản thiết kế cũ nhưng vật liệu mới. Nói vậy để quý vị nhìn đúng cái gì cũ, cái gì mới, chứ không phải để coi nhẹ việc dựng lại.

Về hiện vật đi kèm bia, các nguồn đã đọc đều nói tới khánh. Báo Văn hóa ghi còn hai chiếc khánh. Tuổi trẻ Thủ đô và báo Người Hà Nội ghi rõ một khánh đồng, một khánh đá, đang giữ ở đình Mông Phụ. Một tham luận năm 2024 chỉ nhắc chiếc khánh đá.

IVThế Đất Và Hướng

Mục này không chép từ văn bia hay hồ sơ di tích. Đây là phần thư viện đọc thế đất theo con mắt phong thủy cổ truyền, dựa trên những gì nguồn tả về vị trí và bố cục, để quý vị có thêm một lối nhìn khi đứng trước nơi này.

Thế đất và hướng

Văn miếu đặt trên một gò đất ở vùng đồi thấp phía tây Hà Nội, nơi châu thổ bắt đầu nhô lên thành đồi đá ong. Người làm văn miếu xưa thường tìm chỗ cao ráo, vì nơi thờ đạo học cần ở trên chỗ ở của dân, và cũng vì đất cao thì bền, ít ngập. Gò này đáp đúng yêu cầu ấy, lại liền với làng Mông Phụ, quê của vị tam khôi duy nhất trong tỉnh.

Trục bắc nam của khu miếu đưa mặt công trình về phương Nam. Trong lối cổ truyền, phương Nam thuộc hành Hỏa, ứng với ánh sáng và văn minh, nên các nơi thờ Khổng Tử chuộng quay về hướng ấy. Hồ bán nguyệt trước cổng đóng vai minh đường có nước tụ. Hình bán nguyệt là dáng quen của hồ trước văn miếu, đình làng và nhà thờ họ ở xứ Đoài, được coi là giữ khí lại trước mặt chứ không để trôi đi.

Nét riêng nằm ở chất đất. Đá ong hình thành từ đất đỏ gặp nắng gió mà cứng lại, người xưa coi là đất đã kết thành đá. Dựng miếu thờ đạo học bằng chính thứ đất đã kết ấy của vùng, đọc theo lối cũ, là để công trình mang khí của bản thổ chứ không mang gạch từ nơi khác về. Còn việc miếu dời chỗ rồi còn dựng lại nhiều lần trước khi yên trên gò này thì cho thấy người xưa đã chọn đất nhiều lần, chứ không dựng một lần là xong.

VTế Xuân Thu Và Lệ Khai Bút

Thời Nguyễn, văn miếu Sơn Tây là nơi quan tỉnh tế Khổng Tử hai kỳ xuân thu mỗi năm (Báo Văn nghệ). Báo Văn nghệ còn ghi miếu từng dùng làm chỗ cho sĩ tử ứng thí. Báo Văn nghệ dẫn Bắc Thành địa dư chí lục ghi xưa kia mỗi năm vào mùa xuân, mùa thu, trấn quan tới tế vào ngày Đinh, và miếu có 30 miếu phu phục vụ. Nguồn không nêu ngày cụ thể hơn, nên bảng dưới ghi theo lệ chung của văn miếu thời Nguyễn và lệ đang giữ hiện nay.

Hai kỳ tế theo lệ văn miếu hàng tỉnh và các lệ đang giữ ở di tích. Nguồn: Báo Văn nghệ, báo Người Hà Nội..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Đầu xuânKhai bút, xin chữHọc trò và người trong vùng về miếu khai bút, xin chữ đầu năm (Người Hà Nội).
Tháng HaiTế xuânKỳ tế mùa xuân theo lệ văn miếu hàng tỉnh. Lệ chung thời Nguyễn chọn ngày Đinh đầu tháng, nguồn về Sơn Tây chỉ ghi chung là ngày Đinh.
Tháng TámTế thuKỳ tế mùa thu, cùng khuôn với kỳ xuân.
Các dịp trong nămTôn vinh khoa bảng, khuyến họcDi tích tổ chức các buổi khuyến học, tôn vinh người học giỏi của vùng xứ Đoài (Người Hà Nội).

Lệ khai bút ở đây mang một nghĩa riêng. Người xin chữ đứng trên đất làng Giang Văn Minh, trước chín tấm bia của những người đã đi con đường chữ nghĩa trước mình. Thứ họ mang về không phải lễ vật mà là một nét chữ.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Gần quốc lộ 32, thôn Văn Miếu, phường Sơn Tây (xã Đường Lâm cũ nhập trọn vào phường Sơn Tây năm 2025, thị xã Sơn Tây cũ), Hà Nội
Đường tới
Nằm gần quốc lộ 32, thôn Văn Miếu, phường Sơn Tây, Hà Nội, ngay cạnh làng cổ Đường Lâm, cách trung tâm Hà Nội chừng bốn mươi lăm cây số về phía tây.
Toạ độ
21.154, 105.4837
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang được phục dựng, một phần là công trường, một phần đã hành lễ. Lệ của văn miếu là ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào Đại bái và Thượng điện, không đặt lễ mặn, không đốt vàng mã trước ban Khổng Tử. Xin quý vị không ngồi, không tựa lên bia đá, và không chạm tay vào mặt chữ khắc, vì chín tấm bia là phần cũ quý nhất còn lại.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Văn Miếu Sơn Tây

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Văn Miếu Sơn Tây thờ ai

Thờ Khổng Tử, phối thờ Tứ phối gồm Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử, hai bên thờ bảy mươi hai vị hiền, theo báo Người Hà Nội. Miếu còn vinh danh các nhà khoa bảng xứ Đoài. Đền Khải Thánh trong khu thờ cha mẹ Khổng Tử.

Văn Miếu Sơn Tây xây năm nào

Nguồn vênh. Tuổi trẻ Thủ đô ghi miếu dựng đầu ở làng Cam Thịnh thời Nguyễn, năm 1847 dời về Mông Phụ. Báo Văn nghệ dẫn bia Văn Thánh ghi miếu dời về Mông Phụ năm 1843. Miếu trùng tu năm 1886, dựng lại năm 1891 dưới thời tổng đốc Cao Xuân Dục và khánh thành năm 1892.

Văn Miếu Sơn Tây còn gì cổ

Còn chín tấm bia đá ghi danh người đỗ đạt vùng Sơn Tây, nền miếu và một số hiện vật. Báo Văn hóa ghi còn hai chiếc khánh, Tuổi trẻ Thủ đô và Người Hà Nội ghi rõ một khánh đồng, một khánh đá giữ ở đình Mông Phụ. Các công trình đang thấy phần lớn là phục dựng từ năm 2012.

Sơn Tây có bao nhiêu tiến sĩ

Nguồn ghi khác nhau. Báo Văn hóa và báo Nhân Dân ghi tỉnh Sơn Tây cũ có 68 người đỗ đại khoa, từ Trần Văn Huy năm 1442 tới Nguyễn Văn Bân năm 1901. Báo Văn nghệ dẫn tài liệu cũ ghi bia ở miếu khắc tên 288 vị tiến sĩ của trấn Sơn Tây xưa, vùng rộng hơn tỉnh Sơn Tây cũ nhiều. Hai con số có lẽ đếm theo hai phạm vi khác nhau.

Văn Miếu Sơn Tây khác Văn Miếu Quốc Tử Giám thế nào

Văn Miếu Quốc Tử Giám là văn miếu quốc gia ở kinh đô, còn nguyên quần thể và 82 bia tiến sĩ theo từng khoa. Văn Miếu Sơn Tây là văn miếu hàng tỉnh của xứ Đoài thời Nguyễn, do quan tỉnh chủ tế, nay chủ yếu còn dấu tích, chín tấm bia và phần đang phục dựng.

›Đọc Tiếp