Bước qua những con ngõ lát gạch nghiêng và những bức tường đá ong vàng sẫm của thôn Đông Sàng thuộc Làng cổ Đường Lâm, quý vị sẽ bắt gặp một khoảng sân gạch rộng mở ra bên gốc đa cổ thụ hàng trăm năm tuổi và tòa tháp Cửu Phẩm Liên Hoa cao mười ba mét vươn lên nền trời xứ Đoài. Phía sau gác chuông ba gian hai tầng tám mái lợp ngói mũi hài rêu phong là những nếp nhà cổ xây bằng đá ong trầm mặc, nơi khói trầm quyện vào mùi đất đá ngàn năm của vùng đất hai vua.
Đó là Chùa Mía, tên chữ là Sùng Nghiêm Tự, ngôi cổ tự gắn liền với công đức của Vương phi Bà Chúa Mía trong phủ chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng hồi thế kỷ 17. Không chỉ là chuẩn mực của kiến trúc đá ong kết hợp khung gỗ lim cổ truyền xứ Đoài, Chùa Mía còn là một bảo tàng điêu khắc Phật giáo sống động bậc nhất Việt Nam với 287 pho tượng cổ bằng đất luyện, gỗ mít và đồng, nơi mỗi pho tượng từ Tuyết Sơn, Quan Âm Tống Tử đến Thập Bát La Hán đều mang một thần thái nhân sinh độc bản.
ISùng Nghiêm Tự Và Công Đức Hưng Công Của Vương Phi Bà Chúa Mía
Chùa có tên chữ Hán khắc trên hoành phi và hệ thống văn bia thế kỷ 17 là Sùng Nghiêm Tự (崇嚴寺), thuộc truyền thống Phật giáo Bắc tông (Phật giáo) vùng châu thổ Bắc Bộ. Hai chữ Sùng Nghiêm mang hàm nghĩa tôn sùng vẻ trang nghiêm, thanh tịnh của cảnh giới nhà Phật, đồng thời gửi gắm ước vọng giữ gìn kỷ cương đạo đức và phúc lành cho toàn cõi. Về tên gọi dân gian Chùa Mía, vùng đất Đường Lâm xưa kia thuộc tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ, phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây. Trong tiếng Việt cổ, chữ Hán Cam Giá (甘蔗) có nghĩa là cây mía, vì vậy nhân dân trong vùng gọi tên Nôm của cả vùng đất, chợ làng và ngôi chùa trung tâm ở thôn Đông Sàng là vùng Mía, chợ Mía và Chùa Mía.
Linh hồn lịch sử của Sùng Nghiêm Tự gắn liền với hình tượng một người phụ nữ xuất thân từ chính đồng đất Cam Giá: Vương phi Bà Chúa Mía, vị cung tần được sủng ái của chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng (cai quản Đàng Ngoài từ năm 1623 đến năm 1657 dưới triều vua Lê Thần Tông). Khi bước chân vào vương phủ Lê - Trịnh ở kinh thành Thăng Long, bà không quên ngôi chùa cổ quê hương đang cảnh đổ nát, đã đem bổng lộc riêng cùng sự ủng hộ của vương phủ về quê đứng làm hội chủ đại trùng tu ngôi chùa vào năm Đức Long thứ 4 (1632).
Khi khảo cứu danh tính thật của Bà Chúa Mía qua văn bia tại chùa và gia phả, thần tích các làng thuộc tổng Cam Giá, thư viện ghi nhận hai cách chép họ tên của bà trong các nguồn tư liệu và trình bày đầy đủ cả hai để quý vị đối chiếu. Theo văn bia Sùng Nghiêm tự bi ký dựng năm Đức Long thứ 6 (1634) hiện đặt trên lưng rùa đá tại Tiền đường cùng gia phả dòng họ Nguyễn ở làng Nam An (Nam Nguyễn, tổng Cam Giá), bà có tên là Nguyễn Thị Ngọc Dong (có bản dịch đọc là Nguyễn Thị Ngọc Diệu hoặc Nguyễn Thị Ngọc Dao). Trong khi đó, một số tài liệu địa chí và bài khảo cứu di sản lại ghi tên bà là Ngô Thị Ngọc Diệu (hoặc Ngô Thị Ngọc Loan), do truyền thống thời Lê - Trịnh các bậc cung tần vương phủ hoặc hậu duệ nhà Ngô ở Đường Lâm đôi khi được chép theo họ Ngô hoặc họ Nguyễn.
Dù được ghi theo họ Nguyễn hay họ Ngô, các nguồn sử liệu đều thống nhất ở cốt lõi lịch sử: bà là người con gái sắc nước hương trời và đức độ của vùng Mía, khi vào phủ chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng được ban tên đệm chữ Ngọc theo đúng điển lệ nội cung thời Lê Trung hưng. Trước năm 1632, trên gò đất thôn Đông Sàng đã có một ngôi chùa nhỏ dựng từ lâu đời (dấu vết văn bia cổ nhất tại chùa có niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 3 năm 1621 đời vua Lê Thần Tông), nhưng quy mô còn đơn sơ và bị hư hại nặng. Năm Nhâm Thân niên hiệu Đức Long thứ 4 (1632), Vương phi đứng ra phát tâm quyên góp, vời thợ giỏi khắp xứ Đoài về mở rộng mặt bằng, xây dựng hệ thống Chùa Hạ, Chùa Trung, Chùa Thượng bằng đá ong và gỗ quý. Cảm kích ân đức của bà trong việc dựng chùa, mở chợ Mía và giúp dân nghèo cày cấy, người dân tổng Cam Giá đã tạc tượng bà đưa vào phối thờ tại Chùa Mía và lập Đền thờ Bà Chúa Mía (Chúa Mía Từ) ngay bên cạnh chùa.
Sự kiện Vương phi Bà Chúa Mía đại trùng tu Sùng Nghiêm Tự năm 1632 phản ánh một hiện tượng văn hóa đặc sắc của Phật giáo Đại Việt thế kỷ 17: phong trào các bậc vương phi, cung tần và quận chúa trong phủ chúa Trịnh đứng làm hội chủ phục hưng Phật giáo làng xã. Cùng thời điểm ấy dưới triều vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng, nếu ở phía nam kinh thành có cung tần Ngô Thị Ngọc Nguyên (Ngọc Loan) đại trùng tu Chùa Đậu năm 1635, hay Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc tu bổ chùa Bút Tháp và chùa Mật Đa, thì ở trấn Sơn Tây phía tây kinh thành, Bà Chúa Mía đã kiến tạo nên Sùng Nghiêm Tự. Cách bài trí thờ tự tại Chùa Mía thể hiện rõ tư tưởng Tiền Phật hậu Thánh, Tiền Phật hậu Tổ của người Việt: không gian trung tâm tôn thờ Tam Bảo, Bồ Tát và chư vị La Hán, còn gian bên và hậu đường dành chỗ trang trọng để phối thờ nhục tượng / chân dung điêu khắc Bà Chúa Mía như một vị Phúc thần hộ trì già lam.
Nhiều khách thập phương khi nghe danh xưng Bà Chúa Mía thường lầm tưởng đây là một vị thánh mẫu trong hệ thống Tam Tứ Phủ của tín ngưỡng Đạo Mẫu (như Bà Chúa Kho hay Bà Chúa Thác Bờ). Thực tế hoàn toàn khác: Bà Chúa Mía là một nhân vật lịch sử có thật sống vào đầu thế kỷ 17, bậc vương phi của chúa Trịnh Tráng và là đại thí chủ hưng công xây dựng Chùa Mía năm 1632. Chữ Chúa trong tên gọi của bà là cách dân gian xứ Đoài tôn xưng vị vương phi thuộc phủ Chúa Trịnh đã đem ân trạch về cho quê hương Cam Giá.
IIHơn Bốn Thế Kỷ Từ Bia Vĩnh Tộ (1621) Đến Di Tích Quốc Gia Đặc Biệt
Trải qua hơn bốn trăm năm kể từ niên hiệu Vĩnh Tộ (1621) và cuộc đại trùng tu năm Đức Long thứ 4 (1632), Chùa Mía vẫn bảo tồn được gần như nguyên vẹn cốt cách kiến trúc đá ong xứ Đoài cùng hệ thống cổ vật trải dài từ thời Lê Trung hưng qua thời Tây Sơn đến triều Nguyễn.
Khi tra cứu niên đại của quả chuông đồng cổ treo trên gác chuông Chùa Mía và các đợt xếp hạng di tích, thư viện ghi nhận sự khác biệt nhỏ giữa các nguồn tư liệu và chép rõ cả hai để đảm bảo tính khách quan tuyệt đối. Về quả đại hồng chung trên gác chuông Tam quan: sách địa chí Sơn Tây và một số hồ sơ nghiên cứu Phật học ghi quả chuông đồng được đúc vào năm Cảnh Hưng thứ 4 (1743) đời vua Lê Hiển Tông, trong khi một số bài giới thiệu di tích và bách khoa thư mở lại chép chuông đúc vào năm Cảnh Hưng thứ 6 (1745). Cả hai mốc 1743 và 1745 đều nằm trong những năm đầu niên hiệu Cảnh Hưng giữa thế kỷ 18, khẳng định quả chuông đã gần ba trăm năm tuổi. Riêng chiếc khánh đồng cổ treo cùng gác chuông được các nguồn thống nhất ghi đúc vào năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) dưới triều Nguyễn.
Về lịch sử xếp hạng di sản và địa giới hành chính: Chùa Mía được Bộ Văn hóa xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia từ rất sớm vào năm 1964. Ngày 28 tháng 5 năm 2006, Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam chính thức xác lập kỷ lục Chùa Mía là Ngôi chùa lưu giữ nhiều tượng nghệ thuật nhất Việt Nam (với 287 pho tượng). Đến ngày 24 tháng 12 năm 2019, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1954/QĐ-TTg xếp hạng Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Làng cổ ở Đường Lâm (trong đó Chùa Mía là hạt nhân tôn giáo quan trọng bậc nhất tại thôn Đông Sàng) là Di tích quốc gia đặc biệt. Về mặt hành chính, theo Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Hà Nội, xã Đường Lâm cùng các phường nội thị của thị xã Sơn Tây cũ đã được hợp nhất để thành lập phường Sơn Tây trực thuộc thành phố Hà Nội.
- 1621Dấu mốc văn bia Vĩnh Tộ thứ 3Tấm bia đá cổ nhất còn lưu tại chùa mang niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 3 (1621) đời vua Lê Thần Tông, chứng minh sự hiện hữu của ngôi cổ tự trên đất Cam Giá trước đợt đại trùng tu.
- 1632Bà Chúa Mía hưng công đại trùng tu Sùng Nghiêm TựNăm Nhâm Thân niên hiệu Đức Long thứ 4 đời vua Lê Thần Tông, Vương phi Nguyễn Thị Ngọc Dong (Ngô Thị Ngọc Diệu) đứng làm hội chủ đại trùng tu và mở rộng Chùa Mía với quy mô bề thế bằng đá ong và gỗ lim.
- 1634Khắc dựng bia đá Sùng Nghiêm tự bi kýNăm Giáp Tuất niên hiệu Đức Long thứ 6, triều đình và nhân dân tổng Cam Giá dựng tấm bia đá lớn đặt trên lưng rùa đá tại Tiền đường để khắc ghi trọn vẹn công đức hưng công của Vương phi Bà Chúa Mía.
- 1743 - 1745Đúc đại hồng chung thời Lê Cảnh HưngĐúc quả chuông đồng lớn treo trên gác chuông hai tầng tám mái của chùa dưới triều vua Lê Hiển Tông (các nguồn tư liệu ghi năm Cảnh Hưng thứ 4 tức 1743 hoặc năm Cảnh Hưng thứ 6 tức 1745).
- 1846Đúc khánh đồng năm Thiệu Trị thứ 6Dưới triều vua Thiệu Trị nhà Nguyễn, nhân dân và chư tăng đúc thêm chiếc khánh đồng lớn treo trên gác chuông cùng nhiều đợt bồi đắp, sơn thếp hệ thống tượng pháp.
- 1964Xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc giaBộ Văn hóa ban hành quyết định xếp hạng Chùa Mía (Sùng Nghiêm Tự) là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia đợt đầu tại miền Bắc.
- 2006Xác lập Kỷ lục ngôi chùa nhiều tượng nghệ thuật nhất Việt NamTháng 5 năm 2006, Chùa Mía được công nhận kỷ lục Việt Nam với bộ sưu tập 287 pho tượng Phật, Bồ Tát, La Hán và nhân thần bằng đất luyện, gỗ và đồng.
- 2019 - 2025Di tích quốc gia đặc biệt thuộc phường Sơn Tây mớiNăm 2019, Làng cổ ở Đường Lâm (bao gồm Chùa Mía) được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1954/QĐ-TTg. Năm 2025, xã Đường Lâm sáp nhập vào phường Sơn Tây thuộc thành phố Hà Nội theo Nghị quyết 1656/NQ-UBTVQH15.
IIIKiến Trúc Đá Ong Chữ Mục Và Kho Tàng 287 Pho Tượng Cổ
Kiến trúc tổng thể của Chùa Mía được quy hoạch theo bố cục nội công ngoại quốc biến thể thành hình chữ Mục (目) hoặc chữ Tam (三) khép kín, bao gồm ba nếp nhà ngang song song nối với nhau bởi hai dãy hành lang (thập điện) hai bên: Chùa Hạ (Tiền đường), Chùa Trung (Thiêu hương / Trung đường) và Chùa Thượng (Thượng điện / Phật điện). Nét độc đáo bậc nhất về vật liệu xây dựng của Sùng Nghiêm Tự là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đá ong Đường Lâm và khung gỗ lim, gỗ mít: những bức tường bao dày, hệ thống cột hiên vuông và các vòm cửa cuốn tò vò đều được ghép từ những viên đá ong xốp màu nâu vàng ấm áp, giúp không gian trong chùa mát mẻ vào mùa hạ, ấm áp vào mùa đông và chống chọi bền bỉ với rêu phong ẩm ướt suốt bốn thế kỷ.
Phía ngoài khu nội tự là khoảng sân gạch rộng mở với ba công trình điểm nhấn: Cổng Tam quan kiêm Gác chuông ba gian dựng theo thức chồng diêm hai tầng tám mái đao cong vút dưới tán cây đa cổ thụ, nơi treo quả chuông đồng niên hiệu Cảnh Hưng (1743 / 1745) và khánh đồng năm Thiệu Trị thứ 6 (1846). Bên cạnh đó là Bảo tháp Cửu Phẩm Liên Hoa cao 13 mét xây hình lục giác chín tầng vươn cao uy nghiêm thờ vọng Xá lợi Đức Phật, cùng khu Đền thờ Bà Chúa Mía nằm liền kề bên tả ngôi chùa.
Kho tàng 287 pho tượng cổ và nghệ thuật đắp tượng đất luyện xứ Đoài
Bước qua cửa đá ong vào lòng Chùa Trung, Chùa Thượng và hai dãy hành lang, quý vị như lạc vào một thế giới điêu khắc cổ truyền đồ sộ với đúng 287 pho tượng lớn nhỏ (trong đó có 6 pho tượng đồng, 107 pho tượng gỗ mít sơn son thếp vàng và 174 pho tượng đất luyện). Để tạo nên những pho tượng đất tồn tại hơn ba trăm năm không nứt vỡ trong khí hậu nhiệt đới ẩm, các nghệ nhân xứ Đoài xưa đã dùng đất sét dẻo lọc kỹ, nhào nhuyễn với bông, giấy bản, mật mía và nước vôi, đắp bồi từng lớp lên cốt gỗ hoặc cốt tre, sau đó phủ nhiều lớp sơn ta và thếp vàng, thếp bạc bên ngoài.
Nổi tiếng bậc nhất trong 287 pho tượng ở Chùa Mía là những kiệt tác điêu khắc tả thực kết hợp ước lệ thiền học đạt đến đỉnh cao của mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 17 và 18: pho tượng Tuyết Sơn khắc họa Đức Phật Thích Ca thời kỳ khổ hạnh trên núi Tuyết với thân hình gầy guộc lộ rõ từng đốt xương sườn, mạch máu nhưng gương mặt vẫn sáng bừng vẻ tĩnh tại siêu thoát. Pho tượng Quan Âm Tống Tử (Quan Âm Thị Kính) cao 0,76 mét tạc dáng một người phụ nữ Việt Nam hiền hậu, nét mặt đượm buồn mà tràn đầy từ mẫu đang ẵm đứa trẻ bụ bẫm trên tay. Cùng với đó là bộ Bát Bộ Kim Cương (8 vị thần hộ pháp mặc giáp trụ uy dũng) và Thập Bát La Hán (18 vị tổ sư đắc đạo chạy dọc hai dãy hành lang) mỗi vị một tư thế, một tâm trạng hỷ nộ ái ố rất gần với đời thường.
Hai kiệt tác điêu khắc bậc nhất của Chùa Mía: tượng Tuyết Sơn diễn tả chân thực thân xác khổ hạnh gầy rộc nhưng ánh mắt nhập định sâu thẳm của Đức Phật, còn tượng Quan Âm Tống Tử (Thị Kính) cao 0,76 m mang vẻ đẹp dịu dàng, bao dung của người mẹ Việt Nam.
Hệ thống 18 pho tượng La Hán và 8 pho Kim Cương đắp bằng đất sét trộn giấy bản, mật mía, bông và phủ sơn ta dọc hành lang và Tiền đường, thể hiện trình độ tạo hình giải phẫu và biểu cảm tâm lý bậc thầy của nghệ nhân xứ Đoài.
Pho tượng chân dung Vương phi Nguyễn Thị Ngọc Dong (Ngô Thị Ngọc Diệu) mặc triều phục vương phủ Lê - Trịnh với gương mặt phúc hậu, đoan trang, cùng tấm bia đá Sùng Nghiêm tự bi ký đặt trên lưng rùa đá ghi lại cuộc đại trùng tu năm 1632.
Công trình gỗ kiến trúc chồng diêm 3 gian 2 tầng 8 mái đao cong bên gốc đa cổ thụ, treo quả chuông đồng đúc thời Cảnh Hưng (1743 / 1745) và khánh đồng đúc năm Thiệu Trị thứ 6 (1846).
Ngôi tháp 9 tầng vươn cao ngay sân trước chùa, các ô khám quanh thân tháp trang trí tượng Phật và hoa văn liên hoa, là biểu tượng thị giác định vị không gian tâm linh Chùa Mía từ xa.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền trên thực địa Làng cổ Đường Lâm, không phải điều chép sẵn trong văn bia của chùa. Chúng tôi nói rõ để quý vị phân biệt được giữa tư liệu lịch sử và kiến giải địa lý phong thủy.
Xét trên bản đồ đại cuộc vùng bán sơn địa xứ Đoài ở tọa độ 21,15833 độ vĩ Bắc và 105,47028 độ kinh Đông, Chùa Mía tọa lạc trên một gò đồi đá ong cao ráo tại thôn Đông Sàng (xưa gọi là đồi Phượng Hoàng hoặc gò đất đầu rồng của tổng Cam Giá). Trong phép tầm long điểm huyệt, dãy núi Tản Viên (Ba Vì) hùng vĩ ở phía tây nam chính là Tổ sơn của toàn vùng đất Sơn Tây - Đường Lâm. Từ núi Tản, các dải đồi đá ong thấp dần trườn về phía bờ hữu ngạn sông Hồng (Nhị Hà) và sông Tích, kết thành những gò đồi hình linh thú quần tụ nơi đất hai vua Phùng Hưng và Ngô Quyền. Gò đất Chùa Mía là một huyệt kết dương cơ vững chãi nhờ nền đá ong nguyên sinh vừa tụ khí vừa thoát thủy tuyệt hảo.
Về sơn hướng và bố cục Tứ linh, trục chính của Chùa Mía (Chùa Hạ, Chùa Trung, Chùa Thượng) mở mặt về hướng Đông Nam (cung Tốn) nhìn ra khoảng sân rộng, chợ Mía và vùng đất trũng tụ thủy phía trước làm Minh đường. Hướng Đông Nam vừa đón được gió mát từ phía sông Hồng và sông Tích thổi vào, vừa hứng trọn ánh nắng ban mai chiếu qua tán đa cổ thụ vào sân gạch. Phía sau lưng chùa ở mạn tây bắc là thế đất gò đồi cao của thôn Đông Sàng nâng đỡ làm Hậu chẩm. Hai bên tả hữu có Đền thờ Bà Chúa Mía ở cánh tả (Thanh Long) và Bảo tháp Cửu Phẩm Liên Hoa cùng Gác chuông cổ ở cánh hữu (Bạch Hổ), tạo nên thế tả phụ hữu bật cân xứng, giữ cho trường khí của 287 pho tượng cổ bên trong luôn trầm mặc, ấm áp và linh ứng suốt bốn trăm năm.
VLễ Hội Chùa Mía Và Tục Thờ Bà Chúa Mía Của Làng Cổ Đường Lâm
Sinh hoạt tín ngưỡng tại Chùa Mía là sự hòa quyện chặt chẽ giữa nghi lễ Phật giáo cổ truyền và lòng tri ân sâu sắc của cư dân các làng thuộc tổng Cam Giá xưa (Đông Sàng, Mông Phụ, Cam Thịnh, Đoài Giáp, Phụ Khang, Nam An) đối với công đức của Vương phi Bà Chúa Mía.
| Thời gian âm lịch | Tên kỳ lễ | Nghi thức và hoạt động văn hóa tiêu biểu |
|---|---|---|
| Mùng 6 tháng Giêng | Lễ khai hội xuân Chùa Mía | Lễ mở cửa chùa đầu xuân, rước kiệu và dâng hương của nhân dân các thôn trong Làng cổ Đường Lâm cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. |
| Ngày 15 tháng Giêng (Rằm tháng Giêng) | Đại lễ Thượng nguyên cầu an | Tụng kinh Dược Sư, dâng đèn hoa đăng dưới chân Bảo tháp Cửu Phẩm Liên Hoa và lễ Phật đầu năm của hàng vạn phật tử xứ Đoài. |
| Ngày 12 tháng 2 và 20 tháng 7 âm lịch | Lễ kỷ niệm và kỵ nhật Bà Chúa Mía | Lễ tế trang trọng tại Đền thờ Bà Chúa Mía và cung thờ trong chùa, tưởng niệm công đức Vương phi Nguyễn Thị Ngọc Dong (Ngô Thị Ngọc Diệu) đã hưng công dựng chùa, mở chợ. |
| Ngày 15 tháng 4 và 15 tháng 7 âm lịch | Đại lễ Phật Đản và Lễ Vu Lan Báo Hiếu | Nghi thức tắm Phật, thuyết pháp và lễ cầu siêu báo hiếu cha mẹ theo truyền thống Phật giáo Bắc tông. |
Mỗi dịp lễ hội đầu xuân hay ngày kỵ Bà Chúa Mía, người dân Đường Lâm lại dâng cúng những thức quà mộc mạc mà tinh khiết của quê hương đá ong như bánh tẻ Phú Nhi, kẹo lạc, kẹo dồi, chè lam và tương nếp Mông Phụ, giữ nguyên nếp văn hóa làng Việt cổ bên hiên chùa Sùng Nghiêm.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Đông Sàng, phường Sơn Tây (xã Đường Lâm cũ, thị xã Sơn Tây cũ), thành phố Hà Nội
- Đường tới
- Từ trung tâm thành phố Hà Nội, quý vị đi theo Đại lộ Thăng Long hoặc Quốc lộ 32 về phía tây khoảng 45 cây số tới phường Sơn Tây (thị xã Sơn Tây cũ), qua ngã tư viện Quân y 105 rẽ phải vào cổng Làng cổ Đường Lâm khoảng 1 cây số là tới thôn Đông Sàng và Chùa Mía.
- Toạ độ
- 21.15833, 105.47028
Khi tới chiêm bái Chùa Mía, quý vị lưu ý các nếp nhà Chùa Trung và Chùa Thượng có kiến trúc đá ong thấp và lưu giữ tới 287 pho tượng đất luyện, tượng gỗ cổ rất nhạy cảm với độ ẩm và va chạm. Xin quý vị ăn mặc trang nghiêm, bước đi nhẹ nhàng, tuyệt đối không chạm tay lên bề mặt sơn thếp của các pho tượng cổ hay tựa người vào các bệ thờ đất nung, và giữ gìn vệ sinh chung trong không gian Làng cổ Đường Lâm.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Mía
Contribute photos, information or video for Mía PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Mía có tên chữ là gì và vì sao gọi là Chùa Mía?
Chùa Mía có tên chữ Hán là Sùng Nghiêm Tự (nghĩa là ngôi chùa tôn sùng sự trang nghiêm thanh tịnh). Sở dĩ dân gian gọi là Chùa Mía vì vùng đất Đường Lâm xưa thuộc tổng Cam Giá, mà hai chữ Cam Giá trong tiếng Hán có nghĩa là cây mía, nên người dân gọi tên Nôm của vùng đất, chợ làng và ngôi chùa ở thôn Đông Sàng là Chùa Mía.
Bà Chúa Mía là ai và có công lao gì với ngôi chùa?
Bà Chúa Mía là Vương phi Nguyễn Thị Ngọc Dong (một số tư liệu chép là Ngô Thị Ngọc Diệu), người làng Nam Nguyễn thuộc tổng Cam Giá xưa, cung tần được sủng ái của chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng dưới triều vua Lê Thần Tông. Năm Đức Long thứ 4 (1632), bà đã đứng làm hội chủ đem bổng lộc về quê đại trùng tu Chùa Mía với quy mô bề thế và được nhân dân tạc tượng phối thờ.
Vì sao Chùa Mía được công nhận kỷ lục Việt Nam về tượng nghệ thuật?
Tháng 5 năm 2006, Chùa Mía được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam công nhận là ngôi chùa lưu giữ nhiều tượng nghệ thuật nhất Việt Nam với 287 pho tượng cổ (gồm 174 pho tượng đất luyện, 107 pho tượng gỗ mít và 6 pho tượng đồng), nổi tiếng nhất là tượng Tuyết Sơn, tượng Quan Âm Tống Tử, Bát Bộ Kim Cương và Thập Bát La Hán.
Quả chuông đồng và chiếc khánh đồng trên gác chuông Chùa Mía đúc năm nào?
Trên gác chuông ba gian hai tầng tám mái của Chùa Mía hiện treo quả chuông đồng cổ đúc dưới triều vua Lê Hiển Tông (các nguồn sử liệu ghi năm Cảnh Hưng thứ 4 tức 1743 hoặc năm Cảnh Hưng thứ 6 tức 1745) cùng chiếc khánh đồng đúc vào năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) dưới triều Nguyễn.
Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, Chùa Mía thuộc phường xã nào của Hà Nội?
Trước tháng 7 năm 2025, Chùa Mía thuộc thôn Đông Sàng, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Theo Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xã Đường Lâm cùng các phường trung tâm của thị xã Sơn Tây cũ đã hợp nhất thành phường Sơn Tây trực thuộc thành phố Hà Nội.