VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đình Lỗ Hạnh (Đình Đông Lỗ)

Đình Cả, Đình Đông Lỗ, Đệ Nhất Kinh Bắc Đình

Ngôi đình cổ được tôn vinh là Đệ nhất Kinh Bắc khởi dựng năm Bính Tý niên hiệu Sùng Khang thứ 11 (1576) dưới triều vua Mạc Mậu Hợp, nơi lưu giữ minh văn kỷ niên nhà Mạc và bức chạm Tiên nữ gảy đàn cổ xưa bậc nhất Việt Nam.

Khởi dựng
1576
năm Bính Tý niên hiệu Sùng Khang thứ 11 đời vua Mạc Mậu Hợp
Danh xưng
Đệ nhất Kinh Bắc
Thứ nhất là đình Đông Lỗ, thứ nhì đình Cổ Mễ, thứ ba đình Tam Tầng
Xếp hạng
Di tích quốc gia
Quyết định số 147/VH-QĐ của Bộ Văn hóa (mốc 1982 / 1990)

Men theo bờ tả ngạn dòng sông Cầu thơ mộng chảy qua vùng đất trung du Hiệp Hòa, quý vị sẽ tìm thấy một ngôi đình cổ ẩn mình dưới rặng cây xanh mát của thôn Lỗ Hạnh, mặt đình mở rộng nhìn ra mặt ao bán nguyệt phẳng lặng như gương. Từ hàng trăm năm trước, trong dân gian xứ Kinh Bắc đã truyền tụng câu ca định vị phẩm hạng của những ngôi đình danh tiếng nhất toàn trấn: Thứ nhất là đình Đông Lỗ, thứ nhì đình Cổ Mễ, thứ ba đình Tam Tầng. Ngôi đình đứng đầu bảng vàng ấy chính là Đình Lỗ Hạnh, tục gọi là Đình Đông Lỗ hay Đình Cả.

Giá trị vô giá khiến Đình Lỗ Hạnh được giới khảo cổ và mỹ thuật cổ tôn xưng là Đệ nhất Kinh Bắc nằm ngay trên những bức cốn gỗ lim sẫm màu thời gian của tòa Đại đình: dòng lạc khoản chữ Hán khắc chìm ghi rõ ngày tháng khởi tạo vào năm Bính Tý niên hiệu Sùng Khang thứ 11 (1576) dưới triều vua Mạc Mậu Hợp. Cùng với Đình Tây Đằng ở xứ Đoài, Đình Lỗ Hạnh là một trong hai ngôi đình làng thế kỷ 16 sớm nhất Việt Nam còn hiện hữu, nơi bảo lưu nguyên vẹn hơi thở mỹ thuật thời Mạc hào sảng qua bức chạm Tiên nữ gảy đàn đáy, bộ tranh sơn mài cổ Bát Tiên và tín ngưỡng phụng thờ Cao Sơn Đại Vương cùng Phương Dung Tiên Chúa.

Đình Lỗ Hạnh (Đình Đông Lỗ)
Đình Lỗ Hạnh (Đình Đông Lỗ). Ảnh: Tuanhiephh, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

ICao Sơn Đại Vương, Phương Dung Tiên Chúa Và Ngôi Đình Cả Của Năm Làng

Đình Lỗ Hạnh thuộc truyền thống Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng và Thần linh bản địa (Thờ cúng Tổ tiên) của cư dân vùng châu thổ và trung du sông Cầu. Trong lịch sử quần cư của vùng Đông Lỗ, Đình Lỗ Hạnh giữ vai trò là Đình Cả (Đình Hàng Tổng), tức ngôi đình trung tâm phụng thờ Thành hoàng chung của năm làng cổ kết chạ anh em gồm: làng Chằm, làng Chúng, làng Khoát, làng Chùa và làng Hạnh (Lỗ Hạnh). Hai vị phúc thần tối cao được phụng thờ trong Hậu cung của đình là Đức Cao Sơn Đại Vương và Đức Phương Dung Tiên Chúa.

Vị thần thứ nhất là Cao Sơn Đại Vương (tức Nguyễn Sùng, người em con chú ruột và là phó tướng đắc lực của Đức Thánh Tản Viên Sơn Thánh thời Hùng Duệ Vương). Trong văn hóa tín ngưỡng vùng trung du Bắc Giang và Bắc Ninh dọc lưu vực sông Cầu và sông Thương, tục thờ Cao Sơn Đại Vương cùng Quý Minh Đại Vương phát triển đặc biệt rực rỡ với hàng trăm ngôi đình, đền liên kết thành mạng lưới tâm linh bảo vệ biên viễn phía bắc kinh thành. Thần tích chép rằng khi đem quân đi dẹp giặc giữ yên bờ cõi Văn Lang, Cao Sơn Đại Vương từng dừng chân lập đồn trại tại vùng gò đồi Đông Lỗ bên sông Cầu, dạy dân khai khẩn ruộng lầy và trị thủy nên được năm làng tôn làm Thượng Đẳng Phúc Thần.

Theo sử liệu

Phối thờ song hành cùng vị nam thần núi Tản hùng uy là một vị nữ thần mang đậm bản sắc mẫu tính của chính mảnh đất Lỗ Hạnh: Phương Dung Tiên Chúa (còn gọi là Bà Chúa Phương Dung hay Phương Dung Công Chúa). Theo ngọc phả và truyền thuyết dân gian lưu truyền tại xã Đông Lỗ, nàng Phương Dung vốn là người con gái quê ở vùng Lỗ Hạnh, từ nhỏ đã nổi tiếng dung mạo đoan trang, thông minh nhân hậu và hết lòng cứu giúp dân nghèo trong vùng vượt qua dịch bệnh, mất mùa. Khi nàng hóa thành tiên nữ về trời, anh linh thường hiển ứng trong mây lành trên gò đất Lỗ Hạnh để âm phù cho dân làng mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Cảm tạ ân đức ấy, dân làng Lỗ Hạnh đã tạc pho tượng gỗ Phương Dung Tiên Chúa sơn son thếp vàng đặt trang trọng trong khám thờ Hậu cung bên cạnh thần vị của Cao Sơn Đại Vương.

Sự kết hợp giữa Cao Sơn Đại Vương (biểu trưng cho sức mạnh núi non, võ công giữ nước từ thời đại Hùng Vương) và Phương Dung Tiên Chúa (biểu trưng cho vẻ đẹp dịu dàng, lòng từ ái và âm đức che chở của người phụ nữ bản địa Kinh Bắc) đã tạo nên một cấu trúc lưỡng hợp Nam thần - Nữ thánh (Âm Dương hòa hợp) ngay trong lòng ngôi đình cổ thế kỷ 16.

Theo giáo nghĩa

Dưới góc nhìn lịch sử tôn giáo và mỹ thuật Đại Việt thế kỷ 16, việc Đình Lỗ Hạnh được khởi dựng vào năm 1576 dưới triều nhà Mạc (1527 - 1592) mang một ý nghĩa văn hóa sâu sắc. Khác với sự độc tôn Nho giáo khắt khe của giai đoạn Lê Sơ thế kỷ 15, vương triều Mạc mở ra một thời kỳ cởi mở về tư tưởng, khuyến khích kinh tế hàng hóa, thương mại và đề cao văn hóa dân gian làng xã. Chính trong bầu khí quyển tự do và phồn vinh ấy của vương triều Mạc, thiết chế đình làng Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ từ những trạm nghỉ chân (đình trạm) thành trung tâm văn hóa, tín ngưỡng và hành chính của cả cộng đồng làng xã, nơi hình ảnh các tiên nữ, nhạc công ca trù và con người đời thường được chạm khắc trang trọng ngay trên bức cốn thờ Thành hoàng.

Chỗ hay hiểu lầm

Một số sách báo cũ trước đây khi nhắc đến niên hiệu Sùng Khang thứ 11 (1576) khắc tại Đình Lỗ Hạnh đôi khi ghi nhầm đây là niên hiệu của một vị vua nhà Lê Trung hưng. Thực tế lịch sử hoàn toàn rõ ràng: Sùng Khang (崇康, 1568 - 1578) là niên hiệu thứ hai của vua Mạc Mậu Hợp thuộc vương triều nhà Mạc đang đóng đô tại Thăng Long lúc bấy giờ (cùng năm 1576, vua Lê Thế Tông của nhà Lê Trung hưng ở Thanh Hóa dùng niên hiệu Gia Thái thứ 4). Việc câu đầu và bức cốn Đình Lỗ Hạnh khắc nguyên vẹn niên hiệu Sùng Khang của nhà Mạc mà không bị đục xóa sau khi họ Trịnh chiếm lại Thăng Long năm 1592 là một kỳ tích bảo tồn vô cùng hiếm có tại vùng Kinh Bắc.

IIMinh Văn Năm Sùng Khang Thứ 11 (1576) Và Bốn Thế Kỷ Bảo Tồn Đệ Nhất Kinh Bắc

Nếu phần lớn các ngôi đình cổ ở đồng bằng Bắc Bộ phải xác định niên đại gián tiếp qua phong cách chạm khắc, thì Đình Lỗ Hạnh sở hữu bằng chứng niên đại tuyệt đối khắc trực tiếp bằng chữ Hán trên chính bộ khung gỗ lim từ mùa xuân năm Bính Tý (1576).

Theo sử liệu

Theo khảo sát văn tự học Hán Nôm của các nhà khảo cổ học trên bộ khung gỗ Đại đình Lỗ Hạnh, hiện còn lưu giữ ba dòng lạc khoản chữ Hán khắc chìm ghi rõ thời điểm khởi dựng thời Mạc và đợt đại trùng tu thời Lê Trung hưng. Tại bức cốn gian chái bên phải (phía tây) khắc dòng chữ Hán: Tuế thứ Bính Tý mạnh xuân tạo (歲次丙子孟春造), dịch nghĩa là: Khởi tạo vào tháng Giêng mùa xuân năm Bính Tý (1576). Đối xứng sang bức cốn gian chái bên trái (phía đông) khắc tiếp dòng chữ: Sùng Khang thập nhất niên lục nguyệt thất nhật tạo (崇康十一年六月七日造), dịch nghĩa là: Kiến tạo hoàn thành vào ngày mùng 7 tháng 6 năm Sùng Khang thứ 11 (tức năm Bính Tý 1576 đời vua Mạc Mậu Hợp). Như vậy, ngôi đình được khởi công từ tháng Giêng và dựng xong bộ khung vào ngày mùng 7 tháng 6 âm lịch năm 1576. Hơn một thế kỷ sau, dưới triều vua Lê Hy Tông thời Lê Trung hưng, trên câu đầu gian chái khắc thêm dòng chữ thứ ba ghi dấu đợt đại trùng tu: Tuế thứ Giáp Tuất niên cửu nguyệt thập lục nhật, tức ngày 16 tháng 9 năm Giáp Tuất niên hiệu Chính Hòa thứ 15 (1694).

Sang thời Nguyễn, Đình Lỗ Hạnh tiếp tục trải qua hai đợt tu bổ mở rộng vào năm Tự Đức thứ 3 (Canh Tuất, 1850) và năm Duy Tân thứ 4 (Canh Tuất, 1910), bổ sung thêm tòa Hậu cung nối phía sau Đại đình và hai dãy Tả vu, Hữu vu tạo thành bình đồ hình chữ Công (工). Về quyết định xếp hạng Di tích cấp quốc gia, Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã ban hành Quyết định số 147/VH-QĐ công nhận Đình Lỗ Hạnh là Di tích kiến trúc nghệ thuật (lịch sử văn hóa) cấp quốc gia, khi tra cứu ngày tháng ban hành của Quyết định số 147/VH-QĐ trong các tài liệu công bố, một số hồ sơ địa phương ghi ngày 24 tháng 12 năm 1982, trong khi cổng thông tin du lịch và giáo dục Bắc Ninh - Bắc Giang ghi ngày 19 tháng 1 năm 1990 (thư viện chép rõ cả hai mốc lưu trữ này để quý vị đối chiếu). Lưu ý thêm: tính đến năm 2025, cấp xếp hạng pháp lý chính thức của Đình Lỗ Hạnh là Di tích cấp quốc gia (chưa có quyết định của Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt như một số nguồn tin thứ cấp đôi khi nhầm với đình Đình Bảng hay cụm di tích Tiên Lục được xếp hạng đặc biệt năm 2024). Về mặt hành chính, theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội và nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh hợp nhất thành tỉnh Bắc Ninh mới, đồng thời xã Đông Lỗ (huyện Hiệp Hòa cũ) sáp nhập cùng thị trấn Thắng và các xã Đoan Bái, Danh Thắng, Lương Phong để thành lập xã Hiệp Hòa (phường Hiệp Hòa) trực thuộc tỉnh Bắc Ninh.

  • 1576 (tháng Giêng)Khởi công dựng đình mùa xuân năm Bính Tý
    Tháng Giêng mùa xuân năm Bính Tý (1576), nhân dân vùng Lỗ Hạnh khởi công dựng tòa Đại đình, khắc dòng chữ Tuế thứ Bính Tý mạnh xuân tạo trên bức cốn phía tây.
  • 1576 (mùng 7 tháng 6)Hoàn thành Đại đình năm Sùng Khang thứ 11 thời Mạc
    Ngày mùng 7 tháng 6 năm Sùng Khang thứ 11 (1576) đời vua Mạc Mậu Hợp, hoàn thành bộ khung gỗ lim tòa Đại đình và khắc minh văn Sùng Khang thập nhất niên lục nguyệt thất nhật tạo.
  • 1694Đại trùng tu năm Chính Hòa thứ 15 thời Lê Trung hưng
    Ngày 16 tháng 9 năm Giáp Tuất (1694) đời vua Lê Hy Tông, ngôi đình được đại trùng tu, bổ sung nhiều mảng chạm khắc thế kỷ 17 và bộ tranh sơn mài Bát Tiên.
  • 1850 - 1910Mở rộng bình đồ chữ Công thời Tự Đức và Duy Tân
    Qua hai đợt trùng tu năm Tự Đức thứ 3 (1850) và Duy Tân thứ 4 (1910), đình được dựng thêm Hậu cung và hai dãy Tả vu, Hữu vu tạo thành bố cục chữ Công hoàn chỉnh.
  • 1982 - 1990Xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia
    Bộ Văn hóa ban hành Quyết định số 147/VH-QĐ xếp hạng Đình Lỗ Hạnh là Di tích cấp quốc gia (các tài liệu lưu trữ ghi nhận mốc ngày 24/12/1982 hoặc ngày 19/01/1990).
  • 2010Đại trùng tu bảo tồn tổng thể di tích Đình Lỗ Hạnh
    Tỉnh Bắc Giang cũ và ngành di sản thực hiện dự án tu bổ, tôn tạo tổng thể Đình Lỗ Hạnh, gia cố bộ khung gỗ thế kỷ 16 và phục hồi không gian cảnh quan hồ nước trước đình.
  • 2025Thuộc xã Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Ninh mới
    Từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, theo Nghị quyết 202/2025/QH15, xã Đông Lỗ (huyện Hiệp Hòa cũ, tỉnh Bắc Giang cũ) sáp nhập thành xã Hiệp Hòa (phường Hiệp Hòa) thuộc tỉnh Bắc Ninh mới.

IIIKiến Trúc Gỗ Lim Thế Kỷ 16, Bức Chạm Tiên Gảy Đàn Và Tranh Sơn Mài Bát Tiên

Trải qua hơn bốn trăm năm mươi năm, Đình Lỗ Hạnh hiện có tổng thể kiến trúc kiểu chữ Công (工) gồm tòa Đại đình (Tiền đình) 5 gian 2 chái lớn ở phía trước, nối qua ống muống vào tòa Hậu cung 3 gian ở phía sau, hai bên sân có hai dãy Tả vu và Hữu vu. Trong đó, hạt nhân kiến trúc mang giá trị thời Mạc năm 1576 và thời Lê Trung hưng năm 1694 nằm trọn ở tòa Đại đình. Tòa Đại đình có kích thước bề thế dài 23 mét, rộng 12 mét, bộ mái lợp ngói mũi hài cổ xòe rộng với bốn góc đao uốn cong thanh thoát.

Bộ khung chịu lực của Đại đình gồm 8 vì kèo gỗ lim (chia thành 5 gian 2 chái) dựng trên hệ thống cột cái, cột quân và cột hiên to khỏe, các cột cái ở gian trung tâm có đường kính từ 65 đến 70 xăng-ti-mét đặt trên chân tảng đá xanh. Kỹ thuật liên kết vì nóc của Đình Lỗ Hạnh thể hiện rõ bước chuyển tiếp từ kiến trúc thời Mạc sang thời Lê Trung hưng: vì nóc làm theo kiểu chồng rường giá chiêng, vì nách làm theo kiểu cốn chồng rường hoặc kẻ chuyền. Các đầu dư ở hàng cột cái được chạm lộng hình đầu rồng mang phong cách điển hình của điêu khắc thời Mạc thế kỷ 16: đầu rồng to, sừng ngắn uốn tròn, mũi sư tử nở rộng, mắt lồi, bờm bay ngược ra sau và miệng ngậm viên ngọc sáng như đang từ trong thân cột gỗ lim chui ra. Hình tượng rồng ở Đình Lỗ Hạnh đều có 4 móng, thân rồng mập khỏe uốn lượn mềm mại giữa các cụm vân mây hình đao lửa, còn chim phượng được tạo hình gần gũi như loài chim nước với mỏ dài, thân tròn và đuôi xòe rộng.

Tuyệt tác chạm gỗ Tiên nữ gảy đàn đáy và bộ tranh sơn mài cổ Bát Tiên

Nhắc đến giá trị mỹ thuật độc nhất vô nhị của Đình Lỗ Hạnh, giới nghiên cứu mỹ thuật và âm nhạc cổ truyền Việt Nam luôn đặt lên hàng đầu hai báu vật: bức cốn chạm Tiên nữ gảy đàn và bộ tranh sơn mài cổ Bát Tiên. Trên bức cốn gỗ lim thế kỷ 16 ở gian bên tòa Đại đình, nghệ nhân thời Mạc đã chạm nổi kết hợp chạm lộng hình ảnh một thiếu nữ (tiên nữ) mặc váy dài, yếm đào, gương mặt bầu bĩnh phúc hậu đang ngồi tựa lưng vào một chú hươu sao quỳ phục, hai tay nâng cây đàn đáy (nhiều tài liệu mỹ thuật cũng mô tả là cây đàn đáy hoặc đàn tỳ bà cổ) với dáng vẻ say sưa gảy khúc nhạc dâng thần. Cây đàn trong tay nàng tiên có cần đàn dài, bầu đàn hình thang vuông vức không đáy hậu, chính là hình ảnh tạo hình sớm nhất và chuẩn xác nhất về cây đàn đáy của nghệ thuật hát Ca trù (hát ả đào, hát cửa đình) có niên đại xác thực từ năm 1576 tại Việt Nam. Bên cạnh bức chạm ấy còn có các mảng chạm Tiên nữ cưỡi phượng, Tiên cưỡi rồng, Lực sĩ đấu hổ, Hươu nai chạy nhảy trong rừng tùng tràn đầy niềm vui sống trần thế.

Báu vật thứ hai lưu giữ tại gian giữa trước cửa Hậu cung là đôi bức tranh sơn mài cổ vẽ Bát Tiên (Tám nàng tiên tấu nhạc) có niên đại từ thế kỷ 17 (đợt trùng tu năm 1694). Khác với tích Bát Tiên quá hải của Đạo giáo Trung Hoa thường gồm cả các ông già và người què, Bát Tiên ở Đình Lỗ Hạnh hoàn toàn là tám thiếu nữ Việt Nam trẻ đẹp, gương mặt trái xoan thanh tú, mắt lá răm, mặc xiêm y nhiều lớp thướt tha đứng trên các đài mây ngũ sắc, mỗi nàng cầm một nhạc cụ dân tộc khác nhau (sáo trúc, đàn nhị, đàn nguyệt, đàn tỳ bà, trống mảnh, phách, sinh tiền) hợp thành một dàn nhạc thiên đình. Các bức tranh được vẽ trực tiếp trên ván gỗ phủ sơn ta truyền thống với bảng màu sơn son, sơn then, thếp vàng, thếp bạc pha sắc xanh lam, tím hồng còn tươi nguyên sau hơn ba thế kỷ, được tôn vinh là một trong những tác phẩm hội họa sơn mài cổ sớm nhất của mỹ thuật Việt Nam. Ngoài ra, trong đình còn lưu giữ chiếc nhang án (sập thờ gỗ) chạm rồng thời Mạc - Lê Trung hưng, đôi nghè gỗ sơn son thếp vàng thế kỷ 17, pho tượng Phương Dung Tiên Chúa và bài vị Cao Sơn Đại Vương trong Hậu cung.

Minh văn chữ Hán năm Sùng Khang thứ 11 (1576) trên bức cốn Đại đình

Hai dòng lạc khoản chữ Hán khắc chìm trên bức cốn gian chái ghi rõ năm khởi tạo Bính Tý (1576) và ngày hoàn thành mùng 7 tháng 6 năm Sùng Khang thứ 11 đời vua Mạc Mậu Hợp.

Bức cốn chạm Tiên nữ gảy đàn đáy cưỡi hươu sao

Kiệt tác điêu khắc gỗ thời Mạc thế kỷ 16 khắc họa nàng tiên mặc yếm đào ngồi tựa lưng vào hươu sao gảy cây đàn đáy, minh chứng lịch sử cổ xưa nhất cho nghệ thuật Ca trù Việt Nam.

Bộ tranh sơn mài cổ Bát Tiên tấu nhạc thế kỷ 17

Đôi bức tranh vẽ tám nàng tiên Việt Nam cầm tám loại nhạc cụ dân tộc đứng trên đài mây bằng chất liệu sơn son, sơn then và thếp vàng thế kỷ 17, thuộc nhóm tranh sơn mài cổ sớm nhất cả nước.

Hệ thống đầu dư chạm rồng bốn móng thời Mạc và vì kèo gỗ lim

Bộ khung 8 vì kèo gỗ lim với các đầu dư chạm lộng đầu rồng thời Mạc sừng ngắn, mũi sư tử, miệng ngậm ngọc và các mảng chạm rồng 4 móng, phượng mỏ dài khỏe khoắn.

Nhang án (sập gỗ) chạm rồng cổ và Tượng thờ Phương Dung Tiên Chúa

Hệ thống đồ thờ tự quý giá từ thế kỷ 16 - 18 gồm nhang án gỗ chạm rồng, đôi nghè gỗ sơn son thếp vàng, ngai thờ Cao Sơn Đại Vương và pho tượng cổ Phương Dung Tiên Chúa.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền trên thực địa thôn Lỗ Hạnh và lưu vực sông Cầu, không phải điều chép sẵn trong văn bia của đình. Chúng tôi nói rõ để quý vị phân biệt được giữa tư liệu lịch sử và kiến giải địa lý phong thủy.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ địa hình vùng trung du châu thổ Bắc Ninh ở tọa độ 21,28632 độ vĩ Bắc và 106,00283 độ kinh Đông, Đình Lỗ Hạnh tọa lạc trên một gò đất cao bằng phẳng tại trung tâm thôn Lỗ Hạnh, nằm về phía bờ tả ngạn (bờ đông bắc) của dòng sông Cầu (Như Nguyệt Giang). Trong phép xem long mạch vùng Kinh Bắc, các dải đồi thấp của vùng trung du Hiệp Hòa nhận mạch từ dãy Tam Đảo và vùng núi Thái Nguyên đổ xuống phía nam, khi tiến gần đến khúc uốn lượn của dòng sông Cầu đã dừng lại kết thành những gò đất cao ráo không bao giờ ngập lụt của năm làng Chằm, Chúng, Khoát, Chùa, Hạnh. Vị trí của Đình Cả Lỗ Hạnh nằm đúng tại tâm điểm quy tụ của năm làng cổ, lưng tựa vào thế đất liền mạch vững chãi của xóm làng phía đông bắc làm Hậu chẩm.

Về sơn hướng và thủy pháp Minh đường, trục chính của Đình Lỗ Hạnh mở mặt về hướng Tây Nam (hướng Khôn - Thân), nhìn thẳng ra một hồ nước lớn hình bán nguyệt nằm ngay trước sân đình làm Nội Minh đường tụ thủy, còn xa hơn ở phía tây và tây nam là dòng sông Cầu uốn lượn như dải lụa ôm lấy toàn bộ cánh đồng xã Đông Lỗ cũ làm Ngoại Minh đường và Ngọc đái thủy. Đặc biệt hơn nữa, nhìn theo hướng Tây Nam từ cửa Đình Lỗ Hạnh vượt qua dòng sông Cầu và đồng bằng Kinh Bắc về phía chân trời xa chính là phương vị của núi Tổ Tản Viên (Ba Vì), nơi phát tích của Đức Thánh Cao Sơn Đại Vương được phụng thờ trong đình. Sự kết nối giữa hướng Tây Nam vọng về núi Tổ, hồ nước bán nguyệt tụ khí ngay trước thềm và dòng sông Cầu bao bọc phía ngoài đã giúp ngôi đình gỗ lim từ năm 1576 tránh được gió bấc lạnh mùa đông, đón gió mát mùa hạ và giữ vững danh hiệu Đệ nhất Kinh Bắc suốt gần năm thế kỷ.

VLễ Hội Đình Lỗ Hạnh Tháng Giêng Và Tục Kết Chạ Năm Làng Đông Lỗ

Là ngôi Đình Cả của cả một vùng cổ bên bờ sông Cầu, Lễ hội truyền thống Đình Lỗ Hạnh hằng năm là dịp hội tụ tâm linh của nhân dân năm làng Chằm, Chúng, Khoát, Chùa, Hạnh để tưởng niệm ân đức của Cao Sơn Đại Vương và Phương Dung Tiên Chúa, đồng thời tái hiện không gian diễn xướng hát Ca trù (hát cửa đình) đã được khắc ghi trên bức cốn gỗ từ năm 1576.

Theo lệ cổ, kỳ đại hội đầu xuân của Đình Lỗ Hạnh diễn ra từ ngày mùng 10 đến ngày 12 tháng Giêng âm lịch hằng năm (nhiều năm lễ hội mở đầu phần chuẩn bị từ ngày mùng 9 tháng Giêng). Sáng ngày mùng 10 tháng Giêng, đoàn rước của năm làng với cờ thần, lọng vàng, bát bửu, ngựa hồng ngựa bạch và kiệu bát cống tề tựu về sân Đình Cả Lỗ Hạnh để cử hành lễ rước nước và đại tế khai xuân. Đúng với truyền thống của ngôi đình lưu giữ bức chạm Tiên nữ gảy đàn đáy thế kỷ 16, trong các đêm hội tại tòa Đại đình Lỗ Hạnh luôn có đêm hát Ca trù (hát thờ cửa đình) do các giáo phường ca trù truyền thống biểu diễn dâng Thánh, bên cạnh các làn điệu hát Quan họ trên thuyền dưới mặt hồ bán nguyệt trước đình, cùng hội vật, cờ tướng, đập niêu và kéo co.

Lịch lễ hội đầu xuân và nghi thức truyền thống tại Đình Lỗ Hạnh (xã Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Ninh). Nguồn: Tổng hợp từ Ban Quản lý Di tích Đình Lỗ Hạnh và Cổng thông tin Du lịch Bắc Ninh - Bắc Giang..
Thời gian âm lịchTên kỳ lễNghi thức và hoạt động văn hóa tiêu biểu
Ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịchLễ khai hội và Rước kiệu năm làngĐoàn rước của năm làng Chằm, Chúng, Khoát, Chùa, Hạnh rước lễ vật và kiệu thánh về hội tụ tại sân Đình Cả Lỗ Hạnh, cử hành lễ Mộc dục và tế khai xuân.
Ngày 11 tháng Giêng âm lịchChính hội đại tế và Hát Ca trù cửa đìnhCác bô lão cử hành khóa đại tế Cao Sơn Đại Vương và Phương Dung Tiên Chúa, buổi tối tổ chức hát Ca trù (hát cửa đình) dưới bức chạm Tiên nữ gảy đàn đáy và hát Quan họ trên hồ đình.
Ngày 12 tháng Giêng âm lịchLễ tế giã hội và Hội thi thể thao dân gianLễ tế tạ thần, chia lộc đầu xuân cho năm làng kết chạ và chung kết các trò chơi dân gian như đấu vật, cờ người, kéo co, chọi gà.
Ngày 20 tháng Chạp âm lịchLễ Chạp (Tất niên công đồng)Các bô lão thôn Lỗ Hạnh làm lễ bao sái đình miếu, dâng hương tạ thần cuối năm và chuẩn bị đón Tết Nguyên đán tại Đại đình.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn Lỗ Hạnh (thôn Đông Lỗ), xã Hiệp Hòa (xã Đông Lỗ cũ, huyện Hiệp Hòa cũ, tỉnh Bắc Giang cũ), tỉnh Bắc Ninh
Đường tới
Từ trung tâm thành phố Hà Nội, quý vị đi theo Quốc lộ 18 hoặc Quốc lộ 3 kết nối sang đường tỉnh 295 về phía xã Hiệp Hòa (huyện Hiệp Hòa cũ, tỉnh Bắc Giang cũ, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh) khoảng 45 cây số, hoặc từ trung tâm phường Bắc Giang đi theo Quốc lộ 37 về phía tây nam khoảng 25 cây số tới khu vực Đông Lỗ là tới thôn Lỗ Hạnh và Đình Lỗ Hạnh.
Toạ độ
21.28632, 106.00283
Khi tới nơi

Khi tới chiêm bái Đình Lỗ Hạnh, quý vị đang đứng dưới mái một trong những ngôi đình gỗ lim thế kỷ 16 hiếm hoi nhất còn lại của Việt Nam và trước bộ tranh sơn mài Bát Tiên vô cùng quý hiếm. Xin quý vị ăn mặc trang nghiêm, bước đi nhẹ nhàng, tuyệt đối không dùng đèn flash cường độ mạnh chiếu sát hoặc chạm tay vào bề mặt đôi bức tranh sơn mài cổ Bát Tiên và các bức cốn chạm khắc năm 1576, đồng thời không thắp hương hay đốt vàng mã bên trong lòng Đại đình.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đình Lỗ Hạnh (Đình Đông Lỗ)

Contribute photos, information or video for Lỗ Hạnh Communal House (Đông Lỗ Communal House)

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Vì sao Đình Lỗ Hạnh được mệnh danh là Đệ nhất Kinh Bắc và có niên đại xác thực năm nào?

Đình Lỗ Hạnh được tôn vinh là Đệ nhất Kinh Bắc qua câu ca Thứ nhất là đình Đông Lỗ, thứ nhì đình Cổ Mễ, thứ ba đình Tam Tầng vì đây là ngôi đình cổ có niên đại xác thực sớm nhất vùng Kinh Bắc xưa. Trên hai bức cốn của Đại đình còn khắc rõ dòng chữ Hán ghi đình khởi tạo vào tháng Giêng năm Bính Tý và hoàn thành ngày mùng 7 tháng 6 năm Sùng Khang thứ 11 (1576) dưới triều vua Mạc Mậu Hợp.

Đình Lỗ Hạnh thờ những vị thần nào và là ngôi đình chung của mấy làng?

Đình Lỗ Hạnh (còn gọi là Đình Cả hay Đình Đông Lỗ) là ngôi đình trung tâm của năm làng cổ kết chạ gồm làng Chằm, làng Chúng, làng Khoát, làng Chùa và làng Hạnh. Đình phụng thờ hai vị phúc thần là Đức Cao Sơn Đại Vương (vị tướng thời Hùng Vương giúp Đức Thánh Tản Viên giữ nước) và Phương Dung Tiên Chúa (nàng tiên quê ở vùng Lỗ Hạnh có công cứu giúp dân nghèo).

Bức chạm Tiên nữ gảy đàn ở Đình Lỗ Hạnh có ý nghĩa gì đối với lịch sử âm nhạc Việt Nam?

Trên bức cốn gỗ lim năm 1576 của Đình Lỗ Hạnh có chạm nổi hình ảnh một thiếu nữ mặc yếm đào ngồi tựa lưng vào chú hươu sao, hai tay ôm cây đàn đáy có cần dài và bầu đàn hình thang. Đây được giới nghiên cứu âm nhạc và mỹ thuật xác nhận là hình ảnh điêu khắc cổ xưa nhất và có niên đại tuyệt đối sớm nhất (thế kỷ 16) minh chứng cho sự phát triển của nghệ thuật hát Ca trù (hát cửa đình) tại Việt Nam.

Bộ tranh sơn mài Bát Tiên tại Đình Lỗ Hạnh có gì độc đáo?

Lưu giữ tại gian giữa trước cửa Hậu cung Đình Lỗ Hạnh là đôi bức tranh sơn mài cổ vẽ Bát Tiên có niên đại từ thế kỷ 17. Khác với tích Bát Tiên Đạo giáo Trung Hoa, Bát Tiên ở Đình Lỗ Hạnh là tám nàng tiên Việt Nam trẻ đẹp đứng trên đài mây, mỗi nàng cầm một nhạc cụ dân tộc khác nhau, được vẽ bằng sơn ta, sơn son, sơn then và thếp vàng trên ván gỗ, thuộc nhóm tranh sơn mài cổ sớm nhất Việt Nam.

Sau đợt sáp nhập tỉnh thành và xã phường năm 2025, Đình Lỗ Hạnh thuộc đơn vị hành chính nào?

Trước ngày 1 tháng 7 năm 2025, Đình Lỗ Hạnh thuộc thôn Lỗ Hạnh, xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội và nghị quyết sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã năm 2025, hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh hợp nhất thành tỉnh Bắc Ninh mới, còn xã Đông Lỗ sáp nhập cùng thị trấn Thắng và các xã lân cận thành xã Hiệp Hòa (phường Hiệp Hòa) thuộc tỉnh Bắc Ninh.

›Đọc Tiếp