VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Hội đường Do Thái Remuh và Nghĩa trang cổ (Synagoga Remuh), Kraków

Thánh địa hành hương Do Thái giáo thế kỷ 16 tại khu phố cổ Kazimierz của cố đô Kraków, nơi lưu giữ di sản của Đại Giáo sĩ Moses Isserles (Remuh) cùng nghĩa trang thời Phục hưng lập từ năm 1535.

Khởi dựng
1553 tới 1557
Israel Isserles lập năm 1553, Stanisław Baranek xây lại bằng đá năm 1557 tới 1558
Nghĩa trang cổ
Từ 1535
rộng 0,75 ha, bảo tồn khoảng 700 bia mộ thế kỷ 16 tới 18 và mộ Rabbi Remuh
Di sản UNESCO
1978
thuộc Quần thể lịch sử Kraków và Kazimierz, Pomnik historii (1994)

Đi dọc theo không gian mở của phố Szeroka, con phố rộng tựa như một quảng trường trung tâm của khu phố cổ Do Thái Kazimierz ở cố đô Kraków, tới số nhà 40 quý vị sẽ thấy một cổng vòm tường trắng giản dị mang dòng chữ Hêbrơ khắc trên trán cổng. Bước qua cánh cổng sắt nhỏ ấy vào khoảng sân lát đá yên tĩnh, sự ồn ào của phố thị lập tức lùi lại phía sau để nhường chỗ cho một ngôi hội đường nhỏ nhắn thời Phục hưng và một khu vườn rợp bóng cây cổ thụ phủ kín hàng trăm tấm bia mộ đá sa thạch rêu phong từ thế kỷ 16. Đó là quần thể Hội đường và Nghĩa trang cổ Remuh (Synagoga i Cmentarz Remuh).

Mặc dù là ngôi hội đường nhỏ nhất trong số bảy hội đường lịch sử còn tồn tại ở khu Kazimierz, Hội đường Remuh lại là ngôi hội đường duy nhất tại Kraków duy trì đều đặn các buổi cầu nguyện Chính Thống vào mỗi dịp lễ Shabbat và lễ trọng, đồng thời là một trong những thánh địa hành hương Do Thái Giáo danh tiếng bậc nhất Đông Âu. Tên gọi Remuh (hay Remu, viết tắt từ các chữ cái Hêbrơ רמ״א) là danh hiệu tôn kính dành cho Đại Giáo sĩ Moses Isserles (1530 tới 1572), bậc hiền triết và nhà lập pháp vĩ đại đã biên soạn bộ HaMapah để hoàn thiện bộ luật Shulchan Aruch cho toàn thể thế giới Do Thái Ashkenazi.

Hội đường Do Thái Remuh và Nghĩa trang cổ (Synagoga Remuh), Kraków
Hội đường Do Thái Remuh và Nghĩa trang cổ (Synagoga Remuh), Kraków. Ảnh: Zygmunt Put, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IĐại Giáo Sĩ Moses Isserles (Remuh) Và Tấm Khăn Trải Bàn Của Luật Do Thái

Linh hồn của cả quần thể số 40 phố Szeroka là hình tượng Đại Giáo sĩ Moses ben Israel Isserles (sinh khoảng năm 1530 tại Kraków, một số nguồn ghi khoảng năm 1520 hoặc 1525, mất ngày 1 tháng 5 năm 1572 tại Kraków). Thuở thiếu thời, ông theo học tại học viện Talmud lừng danh ở Lublin dưới sự chỉ dạy của Rabbi Shalom Shachna (và sau đó kết hôn với con gái của thầy mình là bà Golda). Trở về Kazimierz khi mới ngoài hai mươi tuổi, Moses Isserles đã được bổ nhiệm làm thẩm phán tòa án tôn giáo và đứng đầu học viện kinh điển (Yeshiva) của Kraków, thu hút học giả từ khắp Ba Lan, Đức, Bohemia và Ý tới thụ giáo.

Theo giáo nghĩa

Đóng góp vĩ đại nhất của Rabbi Moses Isserles cho Do Thái Giáo toàn cầu là tác phẩm pháp điển HaMapah (nghĩa đen là Tấm Khăn Trải Bàn). Vào giữa thế kỷ 16, Đại Giáo sĩ Yosef Karo (1488 tới 1575) tại Safed đã biên soạn bộ Shulchan Aruch (nghĩa là Bàn Tiệc Bày Sẵn), hệ thống hóa toàn bộ luật thực hành Do Thái (Halakha) nhưng chủ yếu dựa trên truyền thống Sephardic (Do Thái Tây Ban Nha và Địa Trung Hải). Nhận thấy nếu chỉ áp dụng nguyên bản của Yosef Karo thì các tập quán lâu đời (minhagim) của người Do Thái Ashkenazi tại Trung và Đông Âu sẽ bị mai một, Rabbi Moses Isserles đã viết bộ chú giải bổ túc mang tên Tấm Khăn Trải Bàn để phủ lên Bàn Tiệc Bày Sẵn của Yosef Karo. Kể từ lần in chung tại Kraków năm 1570 tới 1571, mọi ấn bản Shulchan Aruch trên thế giới đều in lời của Yosef Karo kèm theo phần bổ túc của Remuh ngay trong từng điều khoản, biến hai truyền thống Sephardic và Ashkenazi thành một chỉnh thể thống nhất.

Theo sử liệu

Rabbi Moses Isserles còn là một triết gia uyên bác nghiên cứu sâu Kabbalah, thiên văn học, lịch sử và triết học Aristotle (qua tác phẩm Torat ha-Olah giải thích ý nghĩa triết học của các nghi lễ trong Đền Thờ Jerusalem). Khi ông qua đời vào đúng ngày lễ Lag BaOmer (18 tháng Iyar năm 5332 theo lịch Do Thái, tức ngày 1 tháng 5 năm 1572), cộng đồng Do Thái đã khắc lên tấm bia mộ của ông tại nghĩa trang cạnh hội đường câu tán dương bằng tiếng Hêbrơ sánh ngang với Tiên tri Moses và đại triết gia Maimonides: Từ thời Moses (Maimonides) cho tới thời Moses (Isserles), chưa từng xuất hiện một người nào sánh bằng Moses.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người thường nghĩ ngay từ đầu ngôi hội đường này đã mang tên là Hội đường Remuh. Sử liệu cho biết khi mới xây dựng vào thập niên 1550, công trình được gọi là Hội đường Mới (Synagoga Nowa) để phân biệt với Hội đường Cổ (Stara Synagoga, dựng từ thế kỷ 15 ở cuối phố Szeroka số 24). Phải sau khi Rabbi Moses Isserles qua đời năm 1572 và danh tiếng của ngài vang dội khắp châu Âu, người dân mới đổi tên cả ngôi hội đường lẫn nghĩa trang bên cạnh thành Hội đường và Nghĩa trang Remuh.

IITừ Đại Dịch Năm 1552 Tới Công Cuộc Khai Quật Bảy Trăm Bia Mộ Cổ

Sau vụ cháy lớn ở Kraków năm 1494, năm 1495 Quốc vương Ba Lan Jan I Olbracht ra quyết định di dời cộng đồng người Do Thái từ khu vực gần đồi Wawel (xung quanh Nhà thờ chính tòa Wawel) sang thành phố lân cận Kazimierz ở phía đông nam, hình thành nên khu tự trị Do Thái (Oppidum Judaeorum) phồn vinh bậc nhất Vương quốc Ba Lan. Năm 1519, thương gia và chủ ngân hàng giàu có Israel ben Josef Isserles (cháu nội của chủ ngân hàng Moshe Auerbach đến từ Regensburg, Đức) tới định cư tại Kazimierz và trở thành chủ ngân hàng tín cẩn của Quốc vương Sigismund II Augustus (Zygmunt II August).

Theo sử liệu

Về động cơ khởi dựng Hội đường Remuh và các mốc niên đại từ năm 1553 tới 1558, các nguồn sử liệu và văn bia ghi nhận ba lớp thông tin bổ sung và đối chiếu lẫn nhau. Thứ nhất, truyền thuyết dân gian kể rằng ông Israel ben Josef xây ngôi hội đường riêng này để tặng người con trai tài đức là Rabbi Moses Isserles. Thứ hai, tấm văn bia đá khắc chữ Hêbrơ năm 1553 hiện còn gắn trên tường nam bên trong hội đường lại ghi rõ rằng ông Israel, con trai ông Josef, đã dựng ngôi nhà của Chúa từ di sản để lại của người vợ quá cố là bà Malka, con gái ông Eleazar (người vừa qua đời trong trận dịch hạch năm 1552 tại Kraków). Thứ ba, một truyền thống khác nói công trình cũng tưởng nhớ bà Golda, người vợ đầu tiên của Rabbi Moses Isserles qua đời ở tuổi 20 trong chính đại dịch năm 1552. Về mặt pháp lý xây dựng: dù văn bia ghi năm 1553 (năm gia đình quyết định lập nhà cầu nguyện trong khuôn viên nhà riêng), phải tới ngày 12 tháng 11 năm 1556 vua Sigismund II Augustus mới ký sắc lệnh chính thức cho phép mở hội đường. Ngày 1 tháng 4 năm 1557, một trận hỏa hoạn lớn thiêu rụi ngôi hội đường gỗ đầu tiên, nhà vua liền cấp giấy phép thứ hai để ông Israel Isserles thuê kiến trúc sư kiêm thợ cả Kraków là Stanisław Baranek xây lại hội đường bằng đá và gạch theo phong cách Phục hưng trong năm 1557 tới 1558 (một số nguồn ghi hoàn thành năm 1557, còn hồ sơ tòa án Kraków ghi biên bản hòa giải và hoàn tất công trình giữa chủ đầu tư với Stanisław Baranek vào năm 1558).

  • 1535 tới 1552Hình thành Nghĩa trang cổ Remuh tại phố Szeroka
    Cộng đồng Do Thái Kazimierz mua khu đất lập nghĩa trang vào năm 1535, sau đại dịch năm 1551 tới 1552, nghĩa trang chính thức đi vào hoạt động với tấm bia mộ cổ nhất còn giữ được mang niên đại năm 1552.
  • 1553 tới 1556Israel ben Josef Isserles khởi lập hội đường đầu tiên
    Chủ ngân hàng hoàng gia Israel ben Josef lập nhà cầu nguyện năm 1553 để tưởng niệm người vợ Malka (và con dâu Golda) cùng dành cho con trai là Rabbi Moses Isserles, ngày 12 tháng 11 năm 1556, vua Sigismund II Augustus ban đặc quyền hoàng gia phê chuẩn.
  • 1557 tới 1558Hỏa hoạn và xây dựng lại bằng đá theo thiết kế của Stanisław Baranek
    Sau đám cháy ngày 1 tháng 4 năm 1557 thiêu rụi công trình gỗ ban đầu, kiến trúc sư Stanisław Baranek được mời xây dựng ngôi hội đường mới bằng gạch đá theo phong cách Phục hưng, hoàn thành trong năm 1557 tới 1558.
  • 1572Đại Giáo sĩ Moses Isserles viên tịch vào ngày lễ Lag BaOmer
    Ngày 1 tháng 5 năm 1572 (18 tháng Iyar năm 5332), Rabbi Moses Isserles qua đời và được an táng ngay phía sau bức tường phía tây của hội đường, từ đó mộ phần của ngài trở thành trung tâm hành hương của người Do Thái khắp châu Âu.
  • 1829 tới 1830Đại trùng tu dưới sự chỉ đạo của kiến trúc sư August Pluszyński
    Kiến trúc sư August Pluszyński nâng cao nền và vòm trần phòng cầu nguyện chính, mở các ô cửa sổ vòm bán nguyệt lớn và xây thêm khu hành lang cầu nguyện dành cho phụ nữ (babiniec) ở phía tây. Năm 1933, kiến trúc sư Herman Gutman gia cố móng và trùng tu toàn bộ.
  • 1939 tới 1945Bị tàn phá trong Thế chiến II nhưng ngôi mộ Rabbi Remuh còn nguyên vẹn
    Cơ quan Quản thác Đức Quốc Xã (Treuhandstelle) trưng dụng hội đường làm kho chứa bao đựng thi thể và thiết bị cứu hỏa, đồng thời đập phá tường nghĩa trang và lấy hàng trăm bia mộ đi lát đường, tuy nhiên ngôi mộ của Rabbi Moses Isserles và hơn một chục bia mộ xung quanh vẫn đứng vững một cách kỳ diệu.
  • 1957 tới 1968Khai quật khảo cổ 700 bia mộ cổ và phục dựng toàn diện
    Nhờ nỗ lực của Cộng đồng Do Thái Kraków, tổ chức Joint Distribution Committee (đại diện là Akiva Kahane) và kiến trúc sư Stefan Świszczowski, hội đường được phục hồi năm 1957 tới 1968. Năm 1959, các cuộc khai quật khảo cổ dưới lòng nghĩa trang đã phát hiện hơn 700 tấm bia mộ đá thế kỷ 16 tới 18 bị vùi lấp, dựng lại nghĩa trang và ghép các mảnh vỡ thành Bức tường Than khóc.

IIITủ Thánh Phục Hưng, Chiếc Ghế Của Rabbi Remuh Và Bức Tường Than Khóc

Khác với những đại hội đường bề thế ở các đô thị lớn, Hội đường Remuh mang dáng dấp thân mật, tĩnh lặng của một nhà cầu nguyện gia tộc thời Phục hưng. Bước qua cổng vòm số 40 phố Szeroka (trên vòm cổng khắc dòng chữ Hêbrơ: Hội đường Mới của Đức Giáo sĩ Remuh, nguyện cho ký ức người công chính được chúc phúc), quý vị đi vào một khoảng sân lát đá nhỏ dẫn tới khối nhà chính xây bằng gạch và đá vôi trát vữa trắng, lợp mái ngói dốc truyền thống.

Phòng cầu nguyện chính (10,4 x 5,1 mét) và các cổ vật thế kỷ 16

Phòng cầu nguyện chính dành cho nam giới là một gian đơn hình chữ nhật có kích thước lòng nhà 10,4 mét chiều dài và 5,1 mét chiều rộng, bên trên lợp vòm cuốn hình nôi (sklepienie kolebkowe) sơn trắng thanh thoát và chiếu sáng bằng các ô cửa sổ vòm bán nguyệt cao mở ra phía vườn nghĩa trang. Phía tây và phía bắc nối liền với phòng cầu nguyện dành cho phụ nữ (babiniec) qua hai nhịp vòm cuốn. Dù nhiều đồ thờ tự bằng bạc đã bị cướp bóc trong Thế chiến II, không gian bên trong vẫn giữ nguyên vẹn những cấu kiện điêu khắc đá thời Phục hưng nguyên bản từ thập niên 1550.

Tủ thánh Aron Kodesh bằng đá vôi thời Phục hưng (thế kỷ 16)

Gắn vào chính giữa bức tường phía đông là tủ thánh Aron Kodesh chạm khắc bằng đá vôi từ nửa sau thế kỷ 16 theo phong cách Phục hưng muộn. Khung tủ được nâng đỡ bởi hai cột bổ trụ (pilastry) chạm nổi hoa văn dây leo tinh xảo, phía trên là diềm mái nhiều tầng khắc các câu kinh Hêbrơ, hình vương miện Torah và hai tấm bia Mười Điều Răn.

Chiếc ghế để trống của Đại Giáo sĩ Moses Isserles

Ngay bên phải tủ thánh Aron Kodesh, sát bức tường phía đông, đặt một chiếc ghế gỗ cổ có bảng kỷ niệm phía trên: đó chính là vị trí chỗ ngồi sinh thời của Rabbi Moses Isserles. Để bày tỏ lòng tôn kính tuyệt đối với bậc thầy vĩ đại, suốt hơn bốn thế kỷ qua không một ai ngồi lên chiếc ghế ấy, và nhiều người hành hương tới đặt tay lên lưng ghế để cầu xin sự thông thái.

Bục đọc kinh Bimah lồng sắt rèn và cánh cửa thế kỷ 18

Đặt ở chính giữa phòng cầu nguyện là bục đọc kinh Bimah hình chữ nhật bao quanh bởi lồng sắt rèn (kuta krata) duyên dáng. Điểm quý giá nhất của Bimah là đôi cánh cửa kim loại sơn màu đa sắc và mạ vàng từ năm 1792 (do bà Krendla, vợ ông Joachym, hiến tặng), chạm nổi biểu tượng bình rượu nghi lễ, chậu rửa tay của dòng dõi tư tế Kohen và tràng hoa Baroque.

Hộp quyên góp bằng đá (Skarbona) và văn bia năm 1553

Ngay cạnh cửa bước vào phòng cầu nguyện từ tiền sảnh vẫn còn hộp đựng tiền bố thí cho người nghèo (skarbona) tạc bằng đá từ thế kỷ 16 với khung viền Phục hưng và chữ khắc Hêbrơ, còn trên bức tường phía nam gắn tấm bia đá sáng lập khắc năm 5313 lịch Do Thái (1553) tưởng niệm bà Malka cùng các bức tranh tường vẽ cảnh Đền Thờ Jerusalem và con tàu Noah.

Nghĩa trang cổ Remuh (1535) và mộ phần Rabbi Moses Isserles

Ngay phía sau hội đường là nghĩa trang rộng khoảng 0,75 héc-ta với gần 700 tấm bia mộ đứng (macewy) và mộ quan tài đá (tumby) từ thế kỷ 16 tới 18, chạm khắc các biểu tượng nghệ thuật Do Thái: đôi bàn tay ban phép lành của tư tế, bình nước của dòng Levi, sư tử Judah, hươu nai hay những thân cây gãy. Ngay sát tường tây hội đường là khu mộ có rào sắt bao quanh của Rabbi Moses Isserles cùng cha mẹ, vợ và em gái là bà Miriam Bella, nơi phủ đầy những viên sỏi nhỏ và mảnh giấy cầu nguyện (kwitlech) của khách hành hương.

Bức tường Than khóc của Kraków (Ściana Płaczu)

Dọc theo mặt trong của bức tường rào phía đông nghĩa trang (giáp phố Szeroka), hàng trăm mảnh bia mộ cổ thế kỷ 16 tới 18 bị đập vỡ trong chiến tranh và tìm thấy khi khai quật năm 1959 đã được các nhà bảo tồn ghép lại thành một bức tường tưởng niệm khổng lồ, được gọi là Bức tường Than khóc của Kraków.

IVThế Đất Và Hướng

Cần nêu rõ trước tiên rằng Do Thái Giáo không dạy phong thủy Á Đông. Toàn bộ quy hoạch không gian của Hội đường Remuh tuân theo luật Halakha của Do Thái giáo: bức tường đặt tủ thánh Aron Kodesh quay về hướng Đông (hướng Mizrach hướng về Jerusalem), và theo truyền thống Ashkenazi cổ (dựa trên Thi thiên 130:1: Từ vực sâu con kêu cầu lên Chúa), nền phòng cầu nguyện thế kỷ 16 ban đầu còn được làm thấp hơn mặt phố một chút trước khi được nâng lên vào năm 1829. Phần dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép hình thế cổ truyền của thư viện Vạn Đạo Đường dựa trên địa hình thực tế của cố đô Kraków.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ địa hình tự nhiên của Kraków tại tọa độ 50,0527 độ vĩ Bắc và 19,9473 độ kinh Đông, khu phố cổ Kazimierz nơi Hội đường Remuh tọa lạc vốn là một hòn đảo phù sa cổ được bao bọc bốn phía bởi dòng chính của sông Wisła (Vistula) ở phía tây và phía nam cùng nhánh sông Wisła Cổ (Stara Wisła, được lấp vào cuối thế kỷ 19 để làm dải công viên cây xanh Planty Dietlowskie) ở phía bắc và phía đông. Trong phép xem hình thế phương Đông, thế đất được hai nhánh sông ôm vòng quanh như chiếc đai ngọc gọi là thủy nhiễu huyệt trường hay ngọc đái hoàn yêu, giúp tụ khí bền vững và nuôi dưỡng văn mạch học thuật thịnh vượng suốt nhiều thế kỷ (nơi sản sinh ra hàng loạt bậc đại học giả như Rabbi Moses Isserles, Rabbi Nathan Spira hay Rabbi Yom-Tov Lipmann Heller). Phía tây bắc cách khoảng 900 mét là ngọn đồi đá vôi Wawel (nơi đặt lâu đài hoàng gia và Nhà thờ chính tòa Wawel), đóng vai trò là tổ sơn trấn giữ đầu nguồn dòng chảy.

Xét về bố cục cục bộ tại số 40 phố Szeroka: trước mặt cổng vào ở phía đông là không gian mở rộng tới 40 mét của phố Szeroka (nghĩa đen là Phố Rộng), một cấu trúc đô thị hiếm có dài khoảng 300 mét đóng vai trò như một đại minh đường chung cho bốn ngôi hội đường cổ (Remuh, Stara, Popper và Wysoka) cùng tụ hội. Điều đặc biệt ở Hội đường Remuh là khách đi từ phố Szeroka bước qua cổng phía đông vào sân, rồi vòng vào tiền sảnh phía bắc để bước vào phòng cầu nguyện, trong khi bức tường đặt tủ thánh Aron Kodesh lại quay ngược ra hướng Đông về phía phố Szeroka và Jerusalem. Phía tây và tây bắc ngay sau lưng hội đường là khu rừng cây cổ thụ xanh rợp bóng rộng 0,75 héc-ta của Nghĩa trang cổ Remuh được bao bọc bởi tường đá kín đáo, tạo thành một không gian tĩnh tại tuyệt đối ngăn cách hội đường với các trục đường giao thông bên ngoài.

VNgày Hành Hương Lag BaOmer Và Lịch Lễ Tiết Tại Hội Đường Remuh

Là hội đường Do Thái Chính Thống duy nhất hoạt động thường xuyên hàng tuần tại Kraków hiện nay, Hội đường Remuh cử hành lễ đón ngày nghỉ Shabbat vào chiều tối thứ Sáu và sáng thứ Bảy hằng tuần, cùng toàn bộ các kỳ lễ trọng theo âm dương lịch Do Thái. Đặc biệt, ngày giỗ (Yahrzeit / Hillula) của Đại Giáo sĩ Moses Isserles vào đúng ngày lễ Lag BaOmer là kỳ hành hương quốc tế lớn nhất tại đây.

Các ngày lễ tôn giáo Do Thái bắt đầu từ lúc mặt trời lặn của buổi chiều hôm trước. Nguồn: Cộng đồng Tôn giáo Do Thái tại Kraków (krakow.jewish.org.pl) và Cổng thông tin Thành phố Kraków (krakow.pl)..
Ngày theo lịch Do TháiKhoảng thời gian Dương lịchTên lễ tiết / Sự kiệnNghi thức và hoạt động tại Hội đường và Nghĩa trang Remuh
18 tháng IyarTháng 5Lag BaOmer và Lễ giỗ (Yahrzeit) của Đại Giáo sĩ Moses Isserles (Remuh)Ngày lễ hành hương lớn nhất trong năm tại Hội đường Remuh (kỷ niệm ngày Rabbi Moses Isserles viên tịch 18 tháng Iyar năm 5332, tức 1 tháng 5 năm 1572), hàng ngàn người Do Thái từ khắp thế giới về cầu nguyện bên mộ phần ngài, đặt đá sỏi, gửi giấy cầu nguyện (kwitlech) và thắp nến.
Chiều tối thứ Sáu và sáng thứ Bảy hằng tuầnQuanh nămLễ Shabbat (Kabbalat Shabbat và Shacharit)Cộng đồng Do Thái Kraków cùng các đoàn tín hữu hành hương quy tụ trong gian phòng Phục hưng thế kỷ 16 để đón ngày nghỉ thánh Shabbat và đọc cuộn Kinh Torah trên bục Bimah.
Mồng 1, mồng 2 và mồng 10 tháng TishreiTháng 9 hoặc tháng 10Rosh Hashanah (Năm Mới) và Yom Kippur (Ngày Chuộc Tội)Những ngày lễ nghiêm trang nhất của năm mới Do Thái, tiếng tù và Shofar vang lên trong hội đường nhỏ và tín hữu viếng thăm mộ phần các bậc hiền triết trong Nghĩa trang cổ trước ngày Chuộc Tội.
15 tới 22 tháng TishreiTháng 9 hoặc tháng 10Sukkot (Lễ Lều Tạm) và Simchat TorahDựng lều Sukkah trong khoảng sân lát đá trước cửa hội đường và tổ chức rước Kinh Torah ca múa quanh bục Bimah sắt rèn vào ngày Simchat Torah.
Cuối tháng 6 tới đầu tháng 7 hằng nămDương lịchLễ hội Văn hóa Do Thái tại Kraków (Festiwal Kultury Żydowskiej w Krakowie)Một trong những lễ hội văn hóa Do Thái lớn nhất thế giới tổ chức ngay trên phố Szeroka trước cổng Hội đường Remuh, kết hợp các buổi giảng học thuật, tham quan di sản và đêm nhạc Shalom na Szerokiej.

Ngoài khách hành hương Do Thái, cố đô Kraków còn là điểm đến tâm linh lớn của người Việt tại Ba Lan và châu Âu: trong khi các đoàn hành hương Công Giáo người Việt về Đền thánh Lòng Thương Xót Chúa ở Kraków và Vương cung thánh đường Đức Bà Kraków, khu phố cổ Kazimierz và Hội đường Remuh luôn là điểm dừng chân khảo cứu lịch sử tôn giáo không thể thiếu khi tìm hiểu di sản đa văn hóa của Ba Lan.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đường tới
Hội đường tọa lạc tại số 40 phố Szeroka (ulica Szeroka 40), trung tâm khu phố cổ Kazimierz, cách Quảng trường Chợ Chính (Rynek Główny) và đồi Wawel khoảng 1 tới 1,2 kilômét về phía đông nam. Từ Ga đường sắt chính Kraków Główny, quý vị có thể đi tàu điện (tramwaj) số 3 hoặc số 24 xuống tại trạm Miodowa trên phố Starowiślna rồi đi bộ 3 phút vào phố Szeroka.
Toạ độ
50.0527, 19.9473
Khi tới nơi

Hội đường và Nghĩa trang cổ Remuh là thánh địa tôn giáo tôn nghiêm của người Do Thái Chính Thống. Khi bước qua cổng số 40 phố Szeroka vào sân, phòng cầu nguyện cũng như khu nghĩa trang, mọi nam giới bắt buộc phải đội mũ hoặc đội mũ tròn kippah (có phát mượn tại quầy vé ngay cổng vào), và cả nam lẫn nữ cần mặc trang phục kín đáo che vai và đầu gối. Khi đi dạo giữa các hàng bia mộ thế kỷ 16 tới 18, quý vị đi đúng trên lối đi lát đá, tuyệt đối không giẫm lên phần đất mộ và có thể đặt một viên sỏi nhỏ lên bệ mộ theo phong tục tưởng niệm cổ truyền của người Do Thái (không đặt hoa tươi). Hội đường và nghĩa trang đóng cửa không đón khách tham quan vào ngày thứ Bảy (Shabbat) và các ngày lễ trọng Do Thái.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Hội đường Do Thái Remuh và Nghĩa trang cổ (Synagoga Remuh), Kraków

Contribute photos, information or video for Remuh Synagogue and Old Cemetery

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tên gọi Remuh của hội đường và nghĩa trang có nghĩa là gì?

Remuh (hay Rema, viết bằng chữ Hêbrơ là רמ״א) là từ viết tắt ghép từ các chữ cái đầu của danh hiệu Rabbi Moshe Isserles (Đại Giáo sĩ Moses Isserles, 1530 tới 1572). Ngài là nhà thần học và luật gia vĩ đại người Kraków đã viết bộ HaMapah (Tấm Khăn Trải Bàn) bổ túc cho bộ luật Shulchan Aruch, định hình quy chuẩn luật thực hành cho toàn bộ người Do Thái Ashkenazi.

Hội đường Remuh được xây dựng vào năm nào và vì mục đích gì?

Hội đường do chủ ngân hàng hoàng gia Israel ben Josef Isserles khởi lập năm 1553 (văn bia năm 1553 ghi để tưởng niệm người vợ quá cố Malka mất trong đại dịch năm 1552, đồng thời truyền thống ghi nhận để tặng con trai là Rabbi Moses Isserles). Sau khi vua Sigismund II Augustus cấp phép năm 1556 và ngôi nhà gỗ đầu tiên bị cháy tháng 4 năm 1557, kiến trúc sư Stanisław Baranek đã xây lại hội đường bằng đá và gạch trong năm 1557 tới 1558.

Vì sao có một chiếc ghế bên cạnh tủ thánh trong Hội đường Remuh không bao giờ có người ngồi?

Chiếc ghế đặt sát bức tường phía đông ngay bên phải tủ thánh Aron Kodesh chính là vị trí chỗ ngồi cầu nguyện của Đại Giáo sĩ Moses Isserles khi ngài còn sống ở thế kỷ 16. Để tỏ lòng tôn kính bậc hiền triết, hơn 450 năm qua cộng đồng không cho phép ai ngồi vào vị trí đó.

Nghĩa trang cổ Remuh và Bức tường Than khóc của Kraków có lịch sử ra sao?

Nghĩa trang cổ Remuh được mua đất từ năm 1535 (bia mộ cổ nhất còn lại đề năm 1552). Trong Thế chiến II, quân Đức Quốc Xã đã tàn phá nghĩa trang nhưng ngôi mộ của Rabbi Moses Isserles vẫn còn nguyên vẹn một cách kỳ diệu. Năm 1959, các nhà khảo cổ đã đào tìm được hơn 700 tấm bia mộ thế kỷ 16 tới 18 bị vùi dưới đất để dựng lại, đồng thời ghép hàng trăm mảnh bia vỡ lên tường phía đông tạo thành Bức tường Than khóc của Kraków.

Vì sao khách hành hương lại đặt những viên sỏi nhỏ thay vì hoa tươi lên mộ của Rabbi Remuh?

Trong truyền thống Do Thái giáo, hoa tươi chóng héo tàn nên không biểu trưng cho sự vĩnh cửu của linh hồn và ký ức. Thay vào đó, người đi viếng đặt những viên sỏi hoặc đá nhỏ lên bia mộ để đánh dấu rằng ngôi mộ đã có người tới thăm viếng, cầu nguyện và tưởng nhớ bền lâu, đồng thời kẹp những mảnh giấy ghi lời cầu nguyện (kwitlech) bên mộ phần của bậc hiền triết.

›Đọc Tiếp