VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Hội quán Nghĩa An (Chùa Ông Chợ Lớn / Miếu Quan Đế)

Nghĩa An Hội Quán, Miếu Quan Đế, Chùa Ông Chợ Lớn, Chùa Ông Tiều, 義安會館, 關帝廟

Ngôi hội quán và miếu thờ Quan Thánh Đế Quân cổ kính bậc nhất của cộng đồng người Hoa gốc Triều Châu và Hẹ tại vùng Đề Ngạn xưa, nơi lưu giữ bia đá năm Gia Khánh thứ 7 (1802), pho tượng ngựa Xích Thố cao hơn hai mét và nghệ thuật chạm gỗ lộng thếp vàng tinh xảo.

Khởi dựng
Cuối thế kỷ 18
bia trùng tu sớm nhất lập năm Gia Khánh thứ 7 (Nhâm Tuất 1802), trùng tu 1830, 1866, 1903
Tượng & Cổ vật
Ngựa Xích Thố > 2 m
tượng Quan Thánh cao 3 m, bộ lư đồng - kỳ lân đá năm Đồng Trị (1865) và bao lam gỗ thếp vàng
Xếp hạng
Di tích quốc gia
Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 43-VH/QĐ ngày 07/11/1993

Đi dọc theo trục đường Nguyễn Trãi nhộn nhịp bậc nhất khu vực trung tâm Chợ Lớn (nằm gần giao lộ Nguyễn Trãi và Triệu Quang Phục, cách Chùa Bà Thiên Hậu (Hội quán Tuệ Thành) chỉ vài trăm mét về phía đông), khi dừng chân trước số nhà 678 thuộc phường Chợ Lớn, Thành phố Hồ Chí Minh, quý vị sẽ bắt gặp một khoảng sân rộng rợp bóng cây cổ thụ phía sau hàng rào sắt và cổng tam quan bề thế. Ngước nhìn lên bức hoành đá xanh chạm bốn chữ Hán lớn Nghĩa An Hội Quán (義安會館) dưới mái ngói ống lợp thanh lưu ly và những bức phù điêu gốm sứ rực rỡ, ta bước vào Hội quán Nghĩa An, ngôi miếu cổ mà người dân Sài Gòn - Gia Định từ hơn hai thế kỷ nay vẫn quen gọi với lòng kính ngưỡng là Chùa Ông Chợ Lớn, Chùa Ông Tiều hay Miếu Quan Đế.

Được cộng đồng thương nhân người Hoa gốc Triều Châu (người Tiều) và người Hẹ (Khách Gia) di cư sang vùng Đề Ngạn khởi dựng từ cuối thế kỷ 18, Hội quán Nghĩa An không chỉ là trung tâm tín ngưỡng thờ Quan Thánh Đế Quân lớn nhất Nam Bộ với tục chui bụng ngựa Xích Thố cầu may dịp đầu xuân, mà còn là một bảo tàng sống động của nghệ thuật điêu khắc gỗ chạm lộng thếp vàng Triều Châu, điêu khắc đá xanh và đúc đồng thế kỷ 19.

ICổ Danh Nghĩa An Quận, Thần Điện Quan Thánh Đế Quân Và Sự Giao Hòa Tín Ngưỡng Ba Dòng

Muốn hiểu thấu căn cốt lịch sử của ngôi miếu cổ này, trước hết cần giải mã hai chữ Nghĩa An (義安) khắc trên cổng chính. Trong lịch sử địa lý hành chính Trung Hoa, Nghĩa An quận (義安郡) là đơn vị hành chính cổ được thành lập từ năm Nghĩa Hy thứ 9 thời Đông Tấn (năm 413 dương lịch), bao trùm toàn bộ vùng đất phía đông tỉnh Quảng Đông mà đời Minh - Thanh gọi là phủ Triều Châu (潮州府, gồm chín huyện như Hải Dương, Triều Dương, Yết Dương, Trừng Hải, Phổ Ninh, Huệ Lai, Nhiêu Bình, Phong Thuận, Đại Bộ) và vùng phủ Gia Ứng (cư dân người Hẹ / Khách Gia). Khi những lớp thương nhân và cư dân vùng Triều Châu - Gia Ứng vượt biển Đông vào khai phá vùng thương cảng Đề Ngạn - Sài Gòn hồi thế kỷ 18, họ đã lấy cổ danh Nghĩa An của quê cha đất tổ để đặt tên cho tổ chức tương tế đồng hương của mình, vừa gợi nhắc cội nguồn huyết thống, vừa gửi gắm ước vọng sống trọng nghĩa (Nghĩa) và hưởng bình an (An) trên vùng đất mới Phương Nam.

Xét về hệ thống thờ tự, Hội quán Nghĩa An thuộc mạch nguồn Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian người Hoa, lấy việc phụng thờ Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君, tức danh tướng Quan Vũ / Quan Công thời Tam Quốc) làm trung tâm, nên tên chữ của phần miếu thờ chính là Quan Đế Miếu (關帝廟). Chính giữa Bái đình và Chính điện uy nghiêm, trong khám gỗ sơn son thếp vàng chạm lộng nhiều tầng, ngự trị pho tượng Quan Thánh Đế Quân bằng gỗ cao khoảng 3 mét, vận long bào màu xanh lục thêu kim tuyến rực rỡ, gương mặt đỏ hồng uy nghiêm, chòm râu dài buông xuống ngực, ngồi trên ngai rồng. Hầu cận hai bên tả hữu của Ngài là hai pho tượng đứng cao khoảng 2 mét: bên tả là nghĩa tử Quan Bình hai tay nâng ấn báu, bên hữu là mãnh tướng Châu Xương (Châu Thương) mặt đen râu xồm tay vác thanh Thanh Long Yển Nguyệt Đao.

Theo giáo nghĩa

Điểm đặc sắc trong cấu trúc thần điện của Hội quán Nghĩa An là sự quy tụ hài hòa giữa uy lực võ thần trung nghĩa và lòng từ bi che chở của mẫu thần biển cả cùng thần đất bản cảnh. Tại Chính điện, đặt song hành hai bên khám thờ chính của Quan Thánh Đế Quân là hai gian phối thờ quy mô không kém phần lộng lẫy: gian bên tả (phía đông) phụng thờ Phúc Đức Chính Thần (福德正神, tức Ông Bổn / Thổ Địa Công, vị thần cai quản đất đai, tài lộc và chở che cư dân lập nghiệp trên vùng đất mới), còn gian bên hữu (phía tây) phụng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu (天后聖母, vị nữ thần tối cao bảo hộ thương thuyền vượt sóng gió đại dương, có hai thị nữ Kim Đồng - Ngọc Nữ đứng hầu và hai bộ tướng Thiên Lý Nhãn nhìn xa ngàn dặm, Thuận Phong Nhĩ nghe thấu bốn phương).

Lùi ra khu vực Tiền điện và hành lang hai bên sân Thiên tỉnh, không gian thờ tự mở rộng thành một bức tranh tín ngưỡng dân gian vô cùng sống động. Gian bên phải (phía đông) của Tiền điện là nơi tôn trí pho tượng gỗ ngựa Xích Thố (赤兔馬) cao hơn 2 mét mang sắc đỏ hồng rực lửa, yên cương thếp vàng lộng lẫy, bên cạnh có tượng Mã Đầu Tướng Quân (vị thần tướng giữ ngựa của Quan Công) đứng hầu. Gian bên trái (phía tây) của Tiền điện thờ Phúc Đức Chính Thần và ngay sát cửa ra vào có tượng Môn Quan Vương Tả Tướng Quân (Vương Linh Quan, vị thần hộ pháp trấn cửa đạo quán). Ngoài ra, dọc hai dãy hành lang nối Tiền điện với Chính điện còn đặt các ban thờ Tài Bạch Tinh Quân (Thần Tài cai quản tiền bạc thương mại) và Văn Xương Đế Quân (vị thần chủ quản văn chương, khoa cử và chữ nghĩa). Nhờ cấu trúc ấy, một người thương nhân Triều Châu khi bước vào Hội quán Nghĩa An có thể cầu nguyện trọn vẹn mọi phương diện của đời sống: thề giữ chữ Tín trước Quan Đế, tạ ơn vượt biển cùng Thiên Hậu, xin lộc đất đai nơi Phúc Đức Chính Thần, cầu buôn may bán đắt ở Tài Bạch Tinh Quân và cầu học hành đỗ đạt cho con cháu trước án Văn Xương.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều du khách khi đến Chợ Lớn thường nhầm lẫn tên gọi giữa các ngôi chùa Ông và chùa Bà nằm gần nhau trên trục đường Nguyễn Trãi. Quý vị cần phân biệt rõ: tại số 710 Nguyễn Trãi là Chùa Bà Thiên Hậu (Hội quán Tuệ Thành) của người Hoa gốc Quảng Đông (phủ Quảng Châu) chuyên thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, còn tại số 678 Nguyễn Trãi là Hội quán Nghĩa An (Chùa Ông Chợ Lớn / Miếu Quan Đế) của người Hoa gốc Triều Châu và người Hẹ chuyên thờ chính Quan Thánh Đế Quân. Chữ Chùa trong tên gọi dân gian Chùa Ông là cách gọi thân thuộc của người dân Nam Bộ dành cho các cơ sở tín ngưỡng tôn nghiêm của người Hoa, chứ công trình này hoàn toàn là một miếu thờ thần linh Đạo giáo kết hợp hội quán đồng hương, không phải tự viện Phật giáo.

IIHơn Hai Thế Kỷ Từ Thương Cảng Đề Ngạn Đến Hệ Thống Văn Bia Thời Gia Khánh, Đạo Quang, Đồng Trị, Quang Tự

Lịch sử của Hội quán Nghĩa An gắn liền mật thiết với quá trình hình thành và phát triển của đô thị thương cảng Đề Ngạn - Sài Gòn (Chợ Lớn) từ cuối thế kỷ 18 sang thế kỷ 19. Những tấm bia đá chữ Hán dựng dọc vách tường Tiền điện chính là bộ biên niên sử bằng đá xác thực nhất kể lại từng chặng đường bồi đắp công trình của các thế hệ thương nhân Triều Châu và Hẹ.

Theo sử liệu

Khi khảo cứu về năm khởi dựng chính xác của Hội quán Nghĩa An, thư viện ghi nhận rõ sự khác biệt giữa truyền ngôn dân gian và niên đại văn bia thực địa để quý vị nắm bắt đầy đủ. Một số tài liệu du lịch và truyền ngôn trong cộng đồng ghi rằng ngôi miếu Quan Đế tiền thân được dựng từ khoảng giữa thế kỷ 18 (có nguồn nêu năm 1737) hoặc khoảng cuối thế kỷ 18, khi thương nhân người Triều Châu và người Hẹ di chuyển từ vùng cù lao Phố (Biên Hòa) và các nơi về tụ hội tại bến sông Chợ Lớn. Trong bộ địa chí nổi tiếng Gia Định thành thông chí do danh thần Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825, người gốc Phúc Kiến Minh Hương) biên soạn vào khoảng năm 1820 dưới triều vua Gia Long - Minh Mạng, tác giả đã mô tả rất rõ khu phố thị Đề Ngạn có các miếu Quan Đế và hội quán của các bang người Hoa được xây dựng lộng lẫy, mái ngói rực rỡ.

Bằng chứng khảo cổ và văn khắc sớm nhất hiện còn lưu giữ nguyên vẹn tại Hội quán Nghĩa An là tấm bia đá trùng tu lập ngày mùng 7 tháng 11 năm Gia Khánh thứ 7 (tức năm Nhâm Tuất 1802, đồng niên với năm Gia Long nguyên niên triều Nguyễn). Việc vào năm 1802 hội quán đã tiến hành một đợt trùng tu quy mô lớn chứng minh chắc chắn rằng công trình đã được khởi dựng từ cuối thế kỷ 18 (trước năm 1802). Đặc biệt thú vị, trên tấm bia đá cổ năm 1802 (cùng các văn bia đầu thế kỷ 19 tại miếu) có khắc rõ dòng chữ ghi nhận bà Đỗ Thị, chuẩn phu nhân của Tả quân Lê Văn Duyệt (Tổng trấn Gia Định thành), đã phát tâm quyên cúng 200 quan tiền để góp phần tu bổ miếu Quan Đế. Chi tiết sử liệu quý giá này cho thấy ngay từ đầu thế kỷ 19, Miếu Quan Đế của Hội quán Nghĩa An không chỉ là nơi thờ tự riêng của bang Triều Châu - Hẹ mà đã nhận được sự kính ngưỡng và bảo trợ trực tiếp từ tầng lớp đại thần đứng đầu triều đình nhà Nguyễn tại đất Gia Định. Tiếp nối mốc năm 1802, hội quán đã trải qua bốn đợt đại trùng tu lớn trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 được ghi nhận bằng văn bia và minh văn trên hiện vật vào các năm: Đạo Quang thứ 10 (Canh Dần 1830), Đồng Trị thứ 5 (Bính Dần 1866), Quang Tự thứ 28 - 29 (Nhâm Dần 1902 - Quý Mão 1903), cùng các đợt tu bổ bảo tồn hiện đại vào các năm 1969, 1983, 1994 và 2010.

  • Cuối thế kỷ 18Khởi dựng Miếu Quan Đế và Hội quán của người Triều Châu - Hẹ tại Đề Ngạn
    Thương nhân và cư dân người Hoa gốc phủ Triều Châu và người Hẹ (Khách Gia) tại vùng Chợ Lớn chung sức lập miếu thờ Quan Thánh Đế Quân và trụ sở tương tế đồng hương mang cổ danh Nghĩa An.
  • 1802 (Gia Khánh thứ 7)Trùng tu lớn lần thứ nhất và dựng tấm bia đá cổ nhất hiện còn
    Ngày mùng 7 tháng 11 năm Nhâm Tuất (Gia Khánh thứ 7, tức năm Gia Long nguyên niên 1802), hội quán hoàn thành đợt trùng tu lớn và dựng bia đá kỷ niệm, ghi nhận sự đóng góp của các thương hiệu người Hoa và bà Đỗ Thị (phu nhân Tả quân Lê Văn Duyệt).
  • Khoảng 1820 và 1830Ghi chép trong Gia Định thành thông chí (1820) và đại trùng tu năm Đạo Quang thứ 10 (1830)
    Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức ghi nhận diện mạo sầm uất của miếu. Năm Canh Dần (Đạo Quang thứ 10 - 1830), hội quán tiếp tục được trùng tu mở rộng và đúc thêm pháp khí bằng đồng.
  • 1865 - 1866 (Đồng Trị thứ 4 - 5)Đúc bộ lư đồng, tạc kỳ lân đá (1865) và đại trùng tu năm Đồng Trị thứ 5 (1866)
    Năm Ất Sửu (Đồng Trị thứ 4 - 1865), hội quán tạo tác cặp kỳ lân đá xanh trước cổng và đúc bộ lư hương - chân đèn đồng lớn. Năm Bính Dần (1866), hoàn tất đợt đại trùng tu kiến trúc quy mô lớn.
  • 1902 - 1903 (Quang Tự thứ 28 - 29)Đại trùng tu định hình diện mạo chạm khắc gỗ Triều Châu hoàn mỹ
    Đợt đại trùng tu kéo dài từ năm Nhâm Dần (1902) đến năm Quý Mão (Quang Tự thứ 29 - 1903), bổ sung hàng loạt bao lam, khám thờ, thành vọng chạm gỗ lộng thếp vàng và quần thể gốm sứ trên mái.
  • 1969, 1983 và 1994Các đợt tu bổ gia cố kiến trúc trong thế kỷ 20
    Ban quản trị Hội quán Nghĩa An tiến hành các đợt tu bổ mái ngói, gia cố khung gỗ và sơn thếp bảo tồn các mảng chạm khắc cổ vào các năm 1969, 1983 và 1994.
  • 1993 và 2010Xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia (1993) và trùng tu bảo tồn (2010)
    Ngày 07/11/1993, Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quyết định số 43-VH/QĐ xếp hạng Hội quán Nghĩa An là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Năm 2010, công trình được trùng tu khoa học quy mô lớn.

IIIMặt Bằng Nội Công Ngoại Quốc, Đỉnh Cao Chạm Gỗ Lộng Thếp Vàng Triều Châu Và Cổ Vật Năm Đồng Trị

Tọa lạc trên một khuôn viên rộng lớn khoảng 4.000 mét vuông (diện tích xây dựng kiến trúc chính khoảng gần 2.000 mét vuông), Hội quán Nghĩa An là một hình mẫu chuẩn mực của kiến trúc đền miếu và hội quán cổ truyền vùng Triều Châu - Quảng Đông thế kỷ 19. Tổng thể mặt bằng công trình được bố cục theo kiểu nội công ngoại quốc (內工外國) kết hợp hình chữ Khẩu (口) khép kín. Đi qua cổng tam quan và khoảng sân gạch rộng phía trước là khối kiến trúc chính gồm ba lớp điện thờ chạy dọc theo trục nam - bắc: Tiền điện, Bái đình (Phương đình) và Chính điện (Đại điện), ở giữa Tiền điện và Bái đình mở ra một khoảng sân Thiên tỉnh (giếng trời) rộng thoáng giúp đón ánh sáng tự nhiên, thoát khói hương và điều hòa vi khí hậu. Bao bọc hai bên tả hữu của khối điện thờ trung tâm là hai dãy Đông lang và Tây lang chạy dọc suốt chiều sâu công trình, vừa tạo thành hành lang khép kín, vừa là nơi đặt văn phòng làm việc, phòng hội họp của Ban quản trị Hội quán Nghĩa An.

Nếu như các hội quán người Phúc Kiến gây ấn tượng bởi những nhịp mái cong vút như mũi thuyền, thì Hội quán Nghĩa An của người Triều Châu lại làm say đắm giới nghiên cứu mỹ thuật bởi nghệ thuật chạm khắc gỗ lộng nhiều lớp sơn son thếp vàng (Triều Châu mộc điêu / Kim tất mộc điêu) đạt tới trình độ tuyệt kỹ. Trên khắp các bức bao lam, khám thờ, thành vọng, hoành phi, câu đối và những chiếc lồng đèn gỗ lục giác treo ở Bái đình và Chính điện, các nghệ nhân tài hoa vùng Triều Châu thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20 đã dùng kỹ thuật chạm thủng, chạm lộng 3 đến 4 lớp gỗ chồng xếp lên nhau rồi dát vàng lá rực rỡ. Từng chiến mã phi nước đại, từng mũi giáo, lá cờ, đám mây và gương mặt nhân vật trong các tích truyện Tam Quốc diễn nghĩa (như Tam anh chiến Lữ Bố, Quan Công quá ngũ quan trảm lục tướng, Đào viên kết nghĩa), Phong thần diễn nghĩa, Bát tiên quá hải hay Thập bát La Hán hiện lên sống động như những thước phim ba chiều thu nhỏ dưới ánh đèn lồng đỏ.

Tượng gỗ Ngựa Xích Thố cao hơn 2 mét và Mã Đầu Tướng Quân

Đặt tại gian bên đông của Tiền điện, pho tượng ngựa Xích Thố bằng gỗ cao hơn 2 mét được sơn màu đỏ hồng bóng lộn, trang bị đầy đủ yên cương, chuông đồng ở cổ, đứng cạnh tượng Mã Đầu Tướng Quân uy dũng. Đây là hiện vật linh thiêng gắn liền với tục chui bụng ngựa cầu bình an, tài lộc.

Hệ thống Bao lam, Khám thờ và Lồng đèn gỗ chạm lộng thếp vàng Triều Châu

Tinh hoa của nghề chạm gỗ Triều Châu thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20: các tấm bao lam và khám thờ tại Bái đình - Chính điện được chạm thủng nhiều lớp cực kỳ tinh xảo với đề tài Tam Quốc diễn nghĩa, Lưỡng long tranh châu, Tứ linh, Phượng hoàng, chim trĩ và hoa mẫu đơn thếp vàng rực rỡ.

Cặp Kỳ lân đá xanh và Bộ lư hương - chân đèn đồng năm Đồng Trị thứ 4 (1865)

Trước cửa chính Tiền điện có cặp tượng kỳ lân (sư tử đá) tạc bằng đá xanh nguyên khối (bên phải là con đực chân vờn cầu, bên trái là con cái chân vờn con nhỏ) và bên trong điện lưu giữ bộ lư hương đồng - chân đèn đồng lớn đều khắc niên hiệu Đồng Trị thứ 4 (Ất Sửu 1865).

Hệ thống Văn bia đá chữ Hán từ năm Gia Khánh thứ 7 (1802) đến năm 1903

Gắn dọc hai vách tường Tiền điện là hàng loạt tấm bia đá cổ khắc chữ Hán sắc nét, mở đầu bằng bia trùng tu năm Gia Khánh thứ 7 (1802, có ghi tên bà Đỗ Thị phu nhân Lê Văn Duyệt), bia năm Đạo Quang thứ 10 (1830), Đồng Trị thứ 5 (1866) và Quang Tự thứ 29 (1903).

Mái ngói ống thanh lưu ly và quần thể phù điêu gốm sứ trên bờ nóc

Bộ mái lợp ngói ống men xanh ngọc, trên đỉnh bờ nóc trang trí quần thể tượng gốm men nhiều màu thể hiện tích Lưỡng long chầu tháp (hoặc Lưỡng long tranh châu), cá hóa long, ông Nhật bà Nguyệt và các tiểu cảnh nhân vật cổ trang đặc sắc.

Hai bức phù điêu đắp nổi Tả Thanh Long và Hữu Bạch Hổ tại Tiền điện

Hai bên vách tường mặt trong cửa Tiền điện đắp nổi và vẽ màu hai bức phù điêu lớn: bên trái (phía đông) là Thanh Long ẩn hiện trong mây nước, bên phải (phía tây) là Bạch Hổ uy phong giữa núi rừng, trấn giữ không gian nội điện.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền dựa trên địa hình thủy đạo vùng Đề Ngạn - Chợ Lớn xưa và phương vị thực tế của công trình, không phải điều chép trong văn bia của hội quán. Thư viện nói rõ để quý vị phân biệt giữa tư liệu lịch sử và kiến giải phong thủy.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ địa hình đô thị cổ Sài Gòn - Chợ Lớn tại tọa độ khoảng vĩ bắc 10,75365 độ và kinh đông 106,66213 độ, Hội quán Nghĩa An (Chùa Ông Chợ Lớn) tọa lạc trên dải đất cao dọc theo trục đường Nguyễn Trãi (xưa là con đường huyết mạch Rue des Marins chạy song song ở phía bắc rạch Bến Nghé - kênh Tàu Hủ). Trong cấu trúc địa lý thủy văn của vùng Đề Ngạn thế kỷ 18 - 19, kênh Tàu Hủ và hệ thống rạch Chợ Lớn ở phía nam chính là đại thủy đạo giao thương nơi hàng trăm thương thuyền từ biển Đông, miền Tây và Đồng Nai đổ về neo đậu. Việc các bậc tiền nhân người Triều Châu và người Hẹ chọn vị trí dựng miếu theo thế tọa Bắc hướng Nam (lưng tựa vào dải đất nội thị vững chãi ở phía bắc làm hậu chẩm, mặt chính mở thẳng về hướng Nam nhìn ra trục đường Nguyễn Trãi và hướng về dòng kênh Tàu Hủ ở phía nam làm đại minh đường tụ thủy) hoàn toàn tuân thủ nguyên tắc vàng tọa thực triều hư, bối sơn diện thủy của phong thủy truyền thống phương Đông.

Đặc biệt hơn, xét theo bố cục ngũ hành và phương vị thần điện, hướng Nam thuộc quẻ Ly, hành Hỏa, sắc Đỏ. Vị thần chủ của Hội quán Nghĩa An là Quan Thánh Đế Quân (người có gương mặt đỏ hồng như quả táo tàu, cưỡi chiến mã Xích Thố đỏ rực như than hồng, biểu trưng cho hào khí chính dương và ngọn lửa trung nghĩa rực sáng). Đặt ngôi miếu thờ vị thần mang sắc Đỏ (Hỏa) quay mặt chính về phương Nam (Ly Hỏa) và đón nhận thủy khí dồi dào từ kênh Tàu Hủ ở phía trước chính là cách cục Thủy Hỏa ký tế, Đắc vị đắc hướng: thủy khí của thương cảng nuôi dưỡng tài lộc thương mại (Thủy quản tài), còn hỏa khí trung nghĩa của Quan Đế ở phương Nam tỏa rạng để trấn áp tà ma, giữ vững chữ Tín và quy tụ nhân tâm. Ở bên trong công trình, khoảng sân Thiên tỉnh (giếng trời) nằm đúng trung cung giữa Tiền điện và Bái đình đóng vai trò như một nội minh đường nạp khí: khi khói hương trầm từ bộ lư đồng năm Đồng Trị (1865) cuộn bay lên khoảng giếng trời gặp ánh nắng phương Nam rọi xuống, dòng khí dương luân chuyển thông suốt từ cổng tam quan qua bức phù điêu Tả Thanh Long (phía đông) - Hữu Bạch Hổ (phía tây) rồi tụ lại nơi khám thờ Quan Thánh Đế Quân, tạo nên một trường khí uy nghiêm và thịnh vượng suốt hơn hai trăm năm qua.

VTết Nguyên Tiêu, Lễ Vía Quan Thánh Đế Quân Và Tục Chui Bụng Ngựa Xích Thố Cầu May

Trong đời sống văn hóa tâm linh của cộng đồng người Hoa và người Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội quán Nghĩa An (Chùa Ông Chợ Lớn) là một trong những trung tâm lễ hội sôi động và giàu bản sắc truyền thống nhất, đặc biệt là vào dịp Tết Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng) và Lễ vía Quan Thánh Đế Quân (24 tháng 6 âm lịch).

Các kỳ lễ hội truyền thống trọng đại trong năm tại Di tích quốc gia Hội quán Nghĩa An (Chùa Ông Chợ Lớn, Thành phố Hồ Chí Minh). Nguồn: Tổng hợp từ Hồ sơ di tích Sở Văn hóa và Thể thao TP. Hồ Chí Minh và Cổng thông tin Quận 5 / Phường Chợ Lớn (quan5xinchao.vn)..
Thời gian âm lịchTên kỳ lễ và sự kiệnNghi thức cổ truyền và sinh hoạt văn hóa đặc sắc
Rằm tháng Giêng (từ ngày 12 đến 18 tháng Giêng)Lễ hội Nguyên tiêu và Lễ vía Ông đầu năm (Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia)Kỳ lễ hội lớn nhất đầu xuân tại Hội quán Nghĩa An: tổ chức lễ tế Quan Thánh Đế Quân, biểu diễn ca kịch Triều Châu (hát Tiều) liên tục nhiều ngày đêm trên sân khấu dựng tại sân trước, đấu giá đèn lồng phát tài gây quỹ từ thiện, thỉnh lộc quýt vàng, thỉnh lồng đèn chữ Phúc và tục chui qua bụng ngựa Xích Thố cầu một năm mới bình an, hanh thông.
Ngày 23 tháng Ba âm lịchLễ vía Thiên Hậu Thánh MẫuCộng đồng tín đồ dâng hương, lễ phẩm tại gian phối thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở bên hữu Chính điện để tưởng niệm ngày đản sinh của vị nữ thần bảo hộ người đi biển.
Ngày 13 tháng Năm âm lịchLễ vía Quan Bình Thái Tử (và ngày Quan Đế đơn đao phó hội)Ngày lễ tưởng niệm nghĩa tử Quan Bình và kỷ niệm điển tích Quan Vân Trường một mình một đao vượt sông dự tiệc ở Lục Khẩu (trong dân gian thường gọi là ngày mưa mài đao của Quan Công), thu hút đông đảo thương nhân tới dâng hương cầu bình an.
Ngày 24 tháng Sáu âm lịchLễ vía chính Quan Thánh Đế Quân (Quan Đế Thánh Đản)Đại lễ kỷ niệm ngày đản sinh của Đức Quan Thánh Đế Quân với nghi thức tế lễ cổ truyền trang nghiêm của Ban quản trị Hội quán Nghĩa An, dâng hương đăng, trà rượu, múa lân sư rồng và phát lộc bình an cho bá tánh.

Nét văn hóa dân gian độc đáo nhất tại Hội quán Nghĩa An mỗi dịp đầu xuân và Tết Nguyên tiêu chính là nghi thức vuốt bờm, rung chuông cổ ngựa và chui qua bụng ngựa Xích Thố cùng tục thỉnh lộc Vay - Trả. Hàng vạn người dân và du khách xếp hàng trật tự tại gian bên đông của Tiền điện để lần lượt cúi mình chui qua dưới bụng pho tượng gỗ ngựa Xích Thố cao hơn hai mét, rồi chạm tay rung chiếc chuông đồng đeo ở cổ ngựa với niềm tin rằng sức mạnh bền bỉ, tốc độ phi thường và lòng trung thành của chiến mã Xích Thố sẽ truyền sang cho mình sức khỏe dồi dào, vượt qua mọi chướng ngại trong năm mới. Cùng với đó, người đi lễ còn xin các gói lộc (gồm cặp quýt tươi mang âm đọc Đại Cát trong tiếng Hoa, bao lì xì tiền lộc và bánh phát tài) theo lệ năm nay vay một, sang năm làm ăn khấm khá thì mang lễ tới trả gấp đôi, tạo nên một nét đẹp văn hóa tâm linh gắn kết niềm tin vào sự chăm chỉ và chữ Tín trên mảnh đất Sài Gòn - Chợ Lớn.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 678 đường Nguyễn Trãi, phường Chợ Lớn (trước tháng 7/2025 là Phường 11, Quận 5 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh
Đường tới
Từ khu vực chợ Bến Thành (trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh), quý vị đi theo đại lộ Trần Hưng Đạo về phía tây khoảng 4,5 km sang khu vực Chợ Lớn, rẽ phải vào đường Triệu Quang Phục rồi rẽ trái vào đường Nguyễn Trãi một đoạn ngắn là tới Hội quán Nghĩa An tại số 678 Nguyễn Trãi, phường Chợ Lớn.
Toạ độ
10.75365, 106.66213
Khi tới nơi

Khi tới tham quan và chiêm bái Hội quán Nghĩa An (Chùa Ông Chợ Lớn), xin quý vị mặc trang phục lịch sự, kín đáo. Hiện nay để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và giữ gìn các mảng chạm gỗ thếp vàng hơn một thế kỷ khỏi bị ám khói đen, Ban quản trị hội quán hướng dẫn khách hành hương thắp nhang và cắm tại lư hương lớn ở khu vực sân ngoài hoặc sân Thiên tỉnh, không cầm nhang đang cháy đi vào sâu trong Chính điện. Khi thực hiện nghi thức chui qua bụng ngựa Xích Thố vào những ngày lễ đông người, quý vị vui lòng xếp hàng theo thứ tự hướng dẫn và không tự ý trèo lên bệ thờ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Hội quán Nghĩa An (Chùa Ông Chợ Lớn / Miếu Quan Đế)

Contribute photos, information or video for Nghĩa An Assembly Hall (Chùa Ông Chợ Lớn / Quan Đế Temple)

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Hội quán Nghĩa An (Chùa Ông Chợ Lớn) do nhóm người Hoa nào xây dựng và thờ vị thần nào là chính?

Hội quán Nghĩa An do cộng đồng người Hoa gốc phủ Triều Châu (người Tiều) và người Hẹ (Khách Gia) di cư sang vùng Đề Ngạn - Chợ Lớn khởi dựng từ cuối thế kỷ 18 (tên gọi Nghĩa An lấy theo cổ danh Nghĩa An quận thời Đông Tấn của vùng Triều Châu - Gia Ứng). Ngôi miếu thờ chính là Quan Thánh Đế Quân (Quan Công), phối thờ Phúc Đức Chính Thần (Ông Bổn) ở bên tả và Thiên Hậu Thánh Mẫu ở bên hữu Chính điện.

Tấm bia đá cổ nhất tại Hội quán Nghĩa An có niên đại năm nào và ghi nhận sự kiện lịch sử gì đặc biệt?

Tấm bia đá cổ nhất còn lưu giữ nguyên vẹn tại Tiền điện Hội quán Nghĩa An là bia trùng tu lập ngày mùng 7 tháng 11 năm Gia Khánh thứ 7 (tức năm Nhâm Tuất 1802, đồng niên với năm Gia Long nguyên niên). Đặc biệt, văn bia tại miếu ghi nhận bà Đỗ Thị, chuẩn phu nhân của Tả quân Lê Văn Duyệt (Tổng trấn Gia Định thành), từng quyên cúng 200 quan tiền để góp phần trùng tu miếu.

Vì sao người dân khi đi lễ Chùa Ông Chợ Lớn lại có tục chui qua bụng ngựa Xích Thố?

Tại gian bên phải (phía đông) của Tiền điện có tôn trí pho tượng gỗ ngựa Xích Thố cao hơn 2 mét đứng cạnh Mã Đầu Tướng Quân. Trong tâm thức dân gian, chiến mã Xích Thố của Quan Thánh Đế Quân là biểu tượng của lòng trung thành, sức khỏe dẻo dai và khả năng vượt qua mọi hiểm nguy (quá ngũ quan trảm lục tướng). Vì vậy người dân thường chui qua bụng ngựa và rung chuông đồng ở cổ ngựa dịp đầu năm để cầu sức khỏe, may mắn và vạn sự hanh thông.

Kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc của Hội quán Nghĩa An có điểm gì nổi bật nhất?

Công trình được bố cục theo kiểu nội công ngoại quốc trên khuôn viên khoảng 4.000 mét vuông, nổi bật nhất với nghệ thuật chạm khắc gỗ lộng nhiều lớp sơn son thếp vàng của nghệ nhân Triều Châu cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20 (đợt đại trùng tu 1902 - 1903). Hàng loạt bao lam, khám thờ, thành vọng và lồng đèn gỗ chạm khắc sống động các điển tích Tam Quốc diễn nghĩa, Phong thần, Bát tiên quá hải, cùng cặp kỳ lân đá xanh và bộ lư đồng đúc năm Đồng Trị thứ 4 (1865).

Hội quán Nghĩa An được xếp hạng di tích quốc gia vào năm nào và hiện nay thuộc đơn vị hành chính nào?

Hội quán Nghĩa An được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 43-VH/QĐ ngày 7 tháng 11 năm 1993. Theo Nghị quyết số 1685/NQ-UBTVQH15 năm 2025 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của Thành phố Hồ Chí Minh (có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025), di tích tọa lạc tại số 678 đường Nguyễn Trãi, thuộc phường Chợ Lớn mới (hợp nhất từ các Phường 11, 12, 13, 14 của Quận 5 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.

›Đọc Tiếp