Khi đi tàu hỏa xuyên qua vùng Đông Bắc nước Anh hoặc đứng từ bờ tây dòng sông Wear nhìn lên vách đá dốc đứng phủ kín rừng cây sồi, quý vị sẽ thấy một cảnh tượng làm sững sờ mọi thế hệ lữ khách suốt chín thế kỷ qua. Trên đỉnh bán đảo đá sa thạch cao vút được dòng sông Wear uốn một vòng móng ngựa ôm trọn ba mặt, Nhà thờ chính tòa Durham (Durham Cathedral) cùng Lâu đài Durham đứng sóng đôi như một pháo đài của đức tin và quyền lực. Bước qua cánh cửa bắc gắn chiếc vòng đồng gõ cửa xin tị nạn hình đầu sư tử từ thế kỷ 12 để vào trong lòng nhà thờ, du khách lập tức choáng ngợp trước hai hàng cột trụ đá tròn khổng lồ khắc rãnh hình thoi, răng cưa và xoắn ốc nâng đỡ hệ thống vòm sườn đá cao hơn hai mươi hai mét.
Tên hiến định đầy đủ của thánh đường là Nhà thờ chính tòa Chúa Kitô, Đức Trinh Nữ Maria và Thánh Cuthbert tại Durham (Cathedral Church of Christ, Blessed Mary the Virgin and St Cuthbert of Durham). Thuộc Giáo hội Anh trong hệ thống Tin Lành và Anh giáo của thư viện nhưng mang trọn vẹn di sản đan viện dòng Biển Đức thời Trung cổ, nơi đây vừa là thánh địa hành hương lớn nhất miền Bắc nước Anh bên mộ Thánh Cuthbert và Thánh Bêđa Khả Kính, vừa là cột mốc cách mạng trong lịch sử kiến trúc thế giới được UNESCO ghi danh là Di sản Thế giới ngay trong đợt đầu tiên của Vương quốc Anh năm 1986.

IThánh Cuthbert Thành Lindisfarne, Thánh Bêđa Và Quyền Thân Vương Giám Mục
Lý do tồn tại của cả thành phố Durham lẫn ngôi đại thánh đường này gắn liền với cuộc hành trình thiên di kỳ lạ kéo dài hơn một thế kỷ của một vị thánh đã qua đời: Thánh Cuthbert thành Lindisfarne (khoảng năm 634 tới ngày 20 tháng 3 năm 687), vị thánh bổn mạng và tông đồ thiêng liêng nhất của vương quốc cổ Northumbria miền Bắc nước Anh.
Sinh thời, Thánh Cuthbert là tu sĩ, ẩn sĩ và Giám mục của đảo thánh Lindisfarne, nổi tiếng với đời sống cầu nguyện khổ hạnh trên đảo đá hoang vu Inner Farne, lòng bác ái chữa lành bệnh tật cho dân nghèo và sự hòa hợp kỳ diệu với chim biển cùng rái cá. Mười một năm sau khi ngài qua đời năm 687, khi các đan sĩ Lindisfarne mở quan tài đá năm 698 để nâng hài cốt ngài lên bàn thờ, họ phát hiện thi hài của Thánh Cuthbert vẫn hoàn toàn nguyên vẹn không mục nát như người đang ngủ. Khi các cuộc tấn công của người Viking Đan Mạch tàn phá đảo Lindisfarne, vào năm 875 cộng đoàn đan sĩ quyết định rời bỏ tu viện, mang theo chiếc quan tài gỗ đựng linh cữu Thánh Cuthbert, hộp đựng thủ cấp của vị vua tử đạo là Thánh Oswald xứ Northumbria (mất năm 642) và bộ sách Phúc Âm Lindisfarne đi lưu lạc khắp miền Bắc nước Anh và miền Nam Scotland suốt 120 năm.
Theo sử biên niên của Symeon xứ Durham (đầu thế kỷ 12), vào năm 995 khi đoàn rước của Giám mục Aldhun đi ngang qua vùng Durham, chiếc xe chở quan tài Thánh Cuthbert bỗng nhiên nặng trịch không thể nhúc nhích được nữa. Qua ba ngày ăn chay cầu nguyện, vị thánh báo mộng rằng ngài muốn an nghỉ tại nơi có tên là Dunholme, rồi một người phụ nữ đi tìm con bò cái màu nâu bị lạc trên sườn đồi bên dòng sông Wear đã tình cờ gọi tên vùng đất ấy. Cộng đoàn liền rước linh cữu ngài lên đỉnh bán đảo đá dựng nhà thờ đầu tiên, biến Durham thành trung tâm thiêng liêng của cả miền Bắc.
Bên cạnh Thánh Cuthbert ở đầu phía đông, đầu phía tây của Nhà thờ chính tòa Durham trong Nhà nguyện Galilee là nơi lưu giữ phần mộ của Thánh Bêđa Khả Kính (The Venerable Bede, khoảng năm 672 hoặc 673 tới năm 735), tu sĩ bác học của tu viện đôi Wearmouth và Jarrow, người được tôn phong là Tiến sĩ Hội Thánh và được mệnh danh là Cha đẻ của lịch sử nước Anh nhờ bộ sách Lịch sử Giáo hội của dân tộc Anh (Historia ecclesiastica gentis Anglorum, hoàn thành năm 731) đồng thời là người xác lập hệ thống tính năm Công nguyên (Anno Domini) cho toàn bộ phương Tây. Hài cốt của Thánh Bêđa được đan sĩ Elfred Westou rước từ Jarrow về đặt cùng quan tài Thánh Cuthbert vào khoảng năm 1020, sau đó được Giám mục Hugh de Puiset tách ra đặt vào ngôi mộ đá riêng tại Nhà nguyện Galilee từ thế kỷ 14 với dòng chữ Latinh nổi tiếng khắc trên mặt đá cẩm thạch đen: Hac sunt in fossa Baedae venerabilis ossa (Trong ngôi mộ này là hài cốt của Bêđa Khả Kính).
Về mặt lịch sử thể chế, sau cuộc chinh phạt của người Norman năm 1066, để bảo vệ vùng biên giới phía bắc nước Anh trước các cuộc tấn công từ Scotland, các vị vua Norman đã trao cho Giám mục Durham danh hiệu và quyền hạn độc nhất vô nhị tại Anh là Thân vương Giám mục (Prince-Bishop) cai trị lãnh địa Hành cung Durham (County Palatine of Durham, duy trì quyền tự trị rộng lớn tới tận năm 1836). Vị Thân vương Giám mục vừa cầm gậy mục tử làm chủ chăn tinh thần trong Nhà thờ chính tòa, vừa cầm gươm ngự trị trong Lâu đài Durham đối diện: ngài có nghị viện riêng, tòa án riêng, quân đội riêng, quyền đúc tiền xu riêng và quyền phong tước hiệp sĩ.
Nhiều người thường nghĩ rằng trong cuộc Cải cách Tôn giáo thời vua Henry VIII năm 1538 tới 1540, khi các đền thờ thánh nhân khắp nước Anh (như đền Thánh Thomas Becket ở Nhà thờ chính tòa Canterbury) bị đập phá và thiêu hủy hài cốt, thì hài cốt của Thánh Cuthbert tại Durham cũng bị tiêu hủy. Thực tế hoàn toàn ngược lại: vào năm 1537 và 1542, các ủy viên của triều đình Henry VIII sau khi đập vỡ ngôi đền đá cẩm thạch nạm ngọc bên trên đã cho chôn cất lại nguyên vẹn hài cốt của Thánh Cuthbert ngay dưới nền đá phẳng phía sau bàn thờ chính. Các cuộc mở mộ khảo cổ học vào năm 1827 và năm 1899 đã xác nhận bộ hài cốt của Thánh Cuthbert cùng hộp sọ có vết chém tử đạo của Thánh Vua Oswald vẫn nằm yên dưới tấm đá khắc chữ Cuthbertus, đồng thời thu hồi được những bảo vật vô giá từ thế kỷ 7 gồm Cây Thánh Giá Ngực bằng vàng nạm ngọc hồng lựu của Thánh Cuthbert, chiếc lược ngà voi, bàn thờ di động bọc bạc và chiếc quan tài gỗ sồi chạm khắc năm 698 (bản gỗ có chạm hình khắc cổ nhất nước Anh), nay được trưng bày ngay tại bảo tàng Open Treasure trong khuôn viên tu viện.
IIMột Nghìn Năm Từ Nhà Thờ Trắng Anglo-Saxon Tới Kiệt Tác Norman
Khác với hầu hết các nhà thờ chính tòa lớn của nước Anh thường bị xây đi sửa lại qua nhiều thế kỷ khiến mỗi gian mang một phong cách khác nhau, phần thân chính của Nhà thờ chính tòa Durham được xây dựng liền một mạch chỉ trong vòng đúng bốn mươi năm (từ năm 1093 đến năm 1133) theo một bản thiết kế thống nhất.
- 995 tới 1018Định cư trên bán đảo Durham và xây Nhà thờ TrắngGiám mục Aldhun cùng cộng đoàn đan sĩ Lindisfarne rước linh cữu Thánh Cuthbert lên định cư trên bán đảo đá sông Wear năm 995, dựng một nhà thờ gỗ tạm thời rồi xây dựng Nhà thờ Trắng (White Church) bằng đá theo phong cách Anglo-Saxon hoàn thành năm 1018.
- 1083Thiết lập Đan viện dòng Biển ĐứcGiám mục người Norman là William xứ St Calais (William de St-Calais) cải tổ cộng đoàn giáo sĩ tại Durham thành một đan viện chính quy theo tu luật Thánh Biển Đức (Benedictine Priory).
- 1093 tới 1133Khởi công và hoàn thành đại thánh đường NormanNgày 11 tháng 8 năm 1093, Giám mục William xứ St Calais và Tu viện trưởng Turgot (cùng sự hiện diện của Vua Malcolm III của Scotland) đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà thờ Norman mới. Năm 1104, linh cữu Thánh Cuthbert được rước vào hậu cung mới, đến năm 1133 dưới thời Giám mục Ranulf Flambard, toàn bộ vòm đá gian giữa hoàn thành.
- Khoảng 1175 tới 1189Xây dựng Nhà nguyện Galilee ở đầu phía tâySau khi nỗ lực xây nhà nguyện Đức Mẹ ở đầu phía đông bị nứt tường (người thời ấy tin rằng Thánh Cuthbert không muốn phụ nữ tới gần mộ mình), Giám mục Hugh de Puiset xây dựng Nhà nguyện Galilee lộng lẫy ngay trên vách đá đầu phía tây.
- 1242 tới 1280Kiến tạo Nhà nguyện Chín Bàn Thờ (Chapel of the Nine Altars)Giám mục Richard Poore (người vừa xây Nhà thờ chính tòa Salisbury) cho phá dỡ hậu cung bán nguyệt Norman cũ ở đầu đông để mở rộng thành một gian ngang phía đông rộng lớn theo phong cách Gothic Anh Sơ kỳ gồm chín bàn thờ đón khách hành hương.
- 1465 tới 1490Dựng lại Tháp Trung tâm cao 66 métSau khi tháp trung tâm cũ bị sét đánh cháy năm 1429, nhà thờ xây dựng lại ngọn tháp vuông hai tầng theo phong cách Gothic Vuông góc (Perpendicular Gothic) cao 66 mét thống trị bầu trời thành phố.
- 1539 tới 1541 và 1650Giải thể tu viện và biến cố tù binh ScotlandNăm 1539, vua Henry VIII giải thể đan viện Biển Đức và đến năm 1541 tái lập thành Nhà thờ chính tòa do Trưởng kinh sĩ (Dean) và Hội đồng kinh sĩ quản lý. Năm 1650, sau trận chiến Dunbar, Oliver Cromwell giam giữ khoảng 3.000 chiến binh Scotland trong nhà thờ, những người tù đã phải đốt toàn bộ ghế gỗ cung thánh để sưởi ấm nhưng chừa lại chiếc Đồng hồ của Tu viện trưởng Castell và ngai tòa Giám mục.
- 1986Di sản Thế giới UNESCOUNESCO ghi danh Nhà thờ chính tòa và Lâu đài Durham vào danh sách Di sản Thế giới theo các tiêu chí (ii), (iv) và (vi) với mã số 370. Công trình được xếp hạng Bảo tồn Cấp I (Grade I) từ năm 1952 theo hồ sơ số 1161023.
Trong lịch sử kiến trúc học châu Âu, có một cuộc thảo luận học thuật nổi tiếng xoay quanh vai trò tiên phong của vòm sườn đá nhọn tại Durham. Trước đây, nhiều sử gia kiến trúc Pháp thế kỷ 19 thường lấy việc xây dựng Vương cung thánh đường Saint-Denis ở ngoại ô Paris dưới thời Viện phụ Suger (hoàn thành năm 1144) làm điểm khởi phát đầu tiên của hệ kết cấu Gothic gồm vòm sườn đan chéo, vòm nhọn và trụ bay. Tuy nhiên, các khảo cứu cấu trúc hiện đại của Giáo sư Kenneth John Conant, Alec Clifton-Taylor và hồ sơ thẩm định của UNESCO đều chỉ rõ rằng ngay từ năm 1093 đến năm 1133 (tức sớm hơn Saint-Denis từ 10 đến 40 năm), vị kiến trúc sư vô danh của Nhà thờ chính tòa Durham đã lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại kết hợp thành công cả ba yếu tố kỹ thuật này trên quy mô đại công trình: vòm sườn đá bảy múi ở gian giữa sử dụng cung nhọn để cân bằng đỉnh vòm, kết hợp với các cung vòm chống ẩn bên dưới mái hành lang tầng hai đóng vai trò chính xác như những trụ bay sơ khai (concealed flying buttresses). Do đó, dù mang diện mạo tường dày và cột trụ tròn đồ sộ của phong cách Romanesque Norman, Durham chính là phòng thí nghiệm kỹ thuật đã khai sinh ra kiến trúc Gothic châu Âu.
IIIHàng Cột Trụ Khổng Lồ Chạm Hoa Văn Hình Học Và Nhà Nguyện Galilee
Với tổng chiều dài nội thất lên tới 143 mét (469 feet), Nhà thờ chính tòa Durham được xây bằng đá sa thạch màu vàng mật ong khai thác ngay tại địa phương. Bước vào gian giữa, ấn tượng mạnh mẽ nhất là tỷ lệ quyền lực tuyệt đối giữa những khối đá chịu lực và ánh sáng chiếu xiên từ tầng cửa sổ cao.
Gian giữa dài 61 mét, rộng 12 mét và cao 22 mét, được thiết kế theo hệ thống nhịp đôi xen kẽ (alternating piers): cứ một trụ cột ghép nhiều bán trụ chạy thẳng lên đỡ sườn vòm lại xen kẽ với một cột trụ tròn khổng lồ có đường kính hơn 2 mét và chu vi tới 6,6 mét. Trên thân các cột trụ tròn này, thợ đá thế kỷ 11 đã đục sâu những đường rãnh hình học mạnh mẽ đối xứng nhau qua trục ngang gồm rãnh xoắn ốc, hình thoi đan lưới, đường gấp khúc chữ V (chevron) và rãnh dọc như cột cổ điển.
Trần đá của cung thánh, hai cánh ngang và gian giữa (hoàn thành khoảng năm 1128 tới 1133) gồm các nhịp vòm đá chia làm bảy phần bởi hai đường sườn chéo trang trí họa tiết răng cưa Norman (zigzag) giao nhau. Việc dùng sườn đá chịu lực và vòm nhọn cho phép mở cao tầng cửa sổ lấy sáng mà không làm sập tường.
Nằm sát mép vách đá đầu phía tây (xây dựng năm 1175 tới 1189 dưới thời Giám mục Hugh de Puiset), nhà nguyện có mặt bằng năm gian dọc giống như một đại sảnh Hồi giáo ở Córdoba thu nhỏ nhờ các vòm tròn chạm răng cưa thanh mảnh tựa trên những cụm bốn cột đá cẩm thạch Purbeck thon thả. Nơi đây lưu giữ ngôi mộ đá đen của Thánh Bêđa Khả Kính cùng những bức bích họa thế kỷ 12 vẽ hình Thánh Cuthbert và Thánh Vua Oswald.
Tại cung thánh, Giám mục Thomas Hatfield (1345 tới 1381) đã cho xây dựng ngai tòa của mình ngay trên nóc lăng mộ cá nhân cao vút lên sát vòm đá: để khẳng định quyền uy của Thân vương Giám mục Durham, ngai tòa này được làm cao hơn cả ngai của Giáo hoàng tại Rôma vài phân. Ngăn cách cung thánh và đền thờ phía sau là bức bình phong bàn thờ đá Neville Screen (năm 1380) chạm trổ như đăng ten bằng đá Caen vận chuyển từ Pháp sang.
Ngay phía sau bức bình phong Neville là nền đá cao nơi đặt mộ Thánh Cuthbert. Mở rộng ở tận cùng đầu phía đông là Nhà nguyện Chín Bàn Thờ (hoàn thành năm 1280) mang phong cách Gothic Anh Sơ kỳ với những cột đá cẩm thạch Frosterley màu đen bóng chứa đầy hóa thạch san hô trắng 300 triệu năm tuổi và cửa sổ hoa hồng đường kính 27 mét (Rose Window) trên tường đông.
Trên cánh cửa gỗ phía bắc là bản sao chiếc vòng gõ cửa bằng đồng đúc năm 1140 mang hình đầu một con quái thú dữ tợn (bản gốc trưng bày trong bảo tàng): thời Trung cổ, bất kỳ kẻ phạm trọng tội nào chạy tới nắm được chiếc vòng đồng này sẽ được các tu sĩ trên gác chuông mở cửa cho hưởng quyền bất khả xâm phạm trong 37 ngày trước khi chọn ra tòa hoặc rời khỏi nước Anh. Phía nam nhà thờ là hành lang tu viện bốn cạnh hoàn chỉnh cùng phòng đại hội đồng (Chapter House) và nhà bếp bát giác (Monks' Kitchen) năm 1366.
Ngay trên sàn đá của gian giữa gần cửa phía bắc, du khách sẽ nhìn thấy một đường kẻ liền mạch ghép bằng những phiến đá cẩm thạch Frosterley màu đen chạy cắt ngang toàn bộ chiều rộng của nhà thờ. Đường ranh giới này có từ thời Trung cổ, đánh dấu giới hạn tối đa mà phụ nữ thời bấy giờ được phép bước vào trong lòng nhà thờ chính tòa (họ chỉ được đứng ở phía tây của vạch đá đen này hoặc lui xuống cầu nguyện tại Nhà nguyện Galilee). Tục lệ nghiêm ngặt ấy bắt nguồn từ truyền thuyết trung cổ cho rằng Thánh Cuthbert vốn quen đời sống tu viện biệt lập nên không cho phép nữ giới tiến lại gần khu vực cung thánh và phần mộ của ngài.
IVThế Đất Và Hướng
Giáo hội Kitô giáo Trung cổ và Giáo hội Anh hiện nay không áp dụng học thuyết phong thủy Á Đông. Việc chọn bán đảo Durham và định hướng nhà thờ xuất phát từ nhu cầu phòng thủ quân sự chiến lược của vùng biên ải phía bắc, linh ứng tôn giáo gắn với linh cữu Thánh Cuthbert và quy tắc phụng vụ đặt bàn thờ chính hướng về phương Đông Mặt Trời mọc. Phần phân tích dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép hình thế cổ truyền của thư viện Vạn Đạo Đường.
Xét về tổng cục sơn thủy và thế nước Ngọc đái hoàn yêu tại tọa độ 54,77361 độ vĩ Bắc và 1,57611 độ kinh Tây, hiếm có một thánh đường nào tại châu Âu sở hữu cục diện sông núi kỳ vĩ và chuẩn mực theo sách địa lý phương Đông như Nhà thờ chính tòa Durham. Dòng sông Wear từ phía đông chảy tới đã đột ngột uốn một vòng cung gần như khép kín (hơn 300 độ) ôm trọn lấy ba mặt đông, nam và tây của một bán đảo đá sa thạch cao vút hơn 30 mét so với mặt nước sông, chỉ chừa lại một cổ đất hẹp ở phía bắc nơi đặt quảng trường Palace Green và Lâu đài Durham. Trong phép xem hình thế cổ truyền, thế đất vươn cao trên dải đá có dòng sông lớn uốn vòng ôm lấy ba mặt như chiếc đai ngọc thắt ngang lưng quan đại thần được gọi là đại quý cách thủy nhiễu huyệt trường, kim thành ngọc đái (nước uốn như tường thành vàng và đai ngọc ôm lấy huyệt), đồng thời hình dáng bán đảo thắt cổ bầu ở phía bắc rồi phình rộng ở giữa hệt như hình chiếc hồ lô hoặc đầu rồng uống nước (Hồi long cố tổ).
Xét về phối vị Âm Dương giữa Lâu đài và Nhà thờ trên cùng một long mạch, sống núi đá của bán đảo Durham chạy từ bắc xuống nam rồi kết huyệt trên một bình đài bằng phẳng. Ở ngay cổ họng phía bắc của bán đảo (nơi duy nhất đường bộ có thể tiếp cận), người Norman dựng Lâu đài Durham trên gò cao để làm trấn sơn và hộ vệ huyệt trường, chắn giữ toàn bộ luồng gió lạnh phương Bắc và sát khí ngoại lai, đại diện cho quyền lực thế tục (Vương quyền, thuộc Dương cương). Phía nam quảng trường Palace Green, ở vị trí trung tâm rộng rãi và tĩnh tại nhất của bán đảo là Nhà thờ chính tòa Durham đại diện cho quyền năng tâm linh (Thần quyền, thuộc Âm tĩnh). Giữa Lâu đài ở phía bắc và Nhà thờ ở phía nam là thảm cỏ phẳng rộng của Palace Green đóng vai trò nội minh đường điều hòa sinh khí cho cả hai đại công trình.
Xét về sơn hướng và tọa độ trục công trình, Nhà thờ chính tòa Durham được kiến tạo theo trục chính Tây sang chính Đông chuẩn xác (gần như nằm đúng trên tuyến tọa Đoài hướng Chấn, mặt tiền phía tây và Nhà nguyện Galilee nhìn xuống vách đá dựng đứng bên bờ đông dòng sông Wear, còn bàn thờ chính và Nhà nguyện Chín Bàn Thờ vươn về phương Đông đón ánh bình minh). Ở đầu phía tây, Nhà nguyện Galilee nhô hẳn ra sát mép vực đá ngay bên trên mặt nước sông Wear chảy êm đềm bên dưới, tạo nên thế lâm thủy tụ khí. Ở giữa thân nhà thờ, ngọn tháp trung tâm cao 66 mét vươn thẳng lên bầu trời làm trung ương chủ phong, thu hút tầm nhìn từ mọi ngọn đồi bao quanh thành phố Durham và giữ cho khí lực của toàn bộ bán đảo hội tụ vững chắc suốt gần một thiên niên kỷ.
VCác Ngày Lễ Kính Thánh Cuthbert, Thánh Bêđa Và Phụng Vụ Anh Giáo
Là nhà thờ chính tòa của Giáo phận Durham thuộc Giáo hội Anh (đứng thứ tư trong thứ bậc hàng giáo phẩm Anh giáo chỉ sau Tổng giám mục Canterbury, Tổng giám mục York và Giám mục Luân Đôn), Nhà thờ chính tòa Durham duy trì nhịp kinh phụng vụ hàng ngày không gián đoạn, đặc biệt là giờ Kinh Chiều hát xướng (Choral Evensong) do ca đoàn danh tiếng của nhà thờ phụ trách, cùng các đại lễ kỷ niệm các vị thánh Bắc Anh.
| Ngày lễ | Theo lịch nào | Tên lễ | Nội dung phụng vụ và truyền thống |
|---|---|---|---|
| Ngày 20 tháng 3 | Dương lịch, lịch Giáo hội Anh | Đại lễ Thánh Cuthbert thành Lindisfarne (St Cuthbert's Day) | Ngày lễ bổn mạng trọng đại nhất trong năm kỷ niệm ngày qua đời của Thánh Cuthbert năm 687. Có đoàn rước trang trọng và lễ ban phép lành tại khu vực đền mộ Feretory phía sau bàn thờ chính, cùng cuộc hành hương đi bộ từ Chester-le-Street và Finchale về nhà thờ. |
| Ngày 25 tháng 5 | Dương lịch, lịch Giáo hội Anh | Lễ Thánh Bêđa Khả Kính (Feast of the Venerable Bede) | Kính nhớ vị Tiến sĩ Hội Thánh và sử gia vĩ đại của nước Anh. Phụng vụ đặc biệt và nghi thức đặt hoa, cầu nguyện được cử hành tại ngôi mộ đá của ngài trong Nhà nguyện Galilee ở đầu phía tây. |
| Ngày 5 tháng 8 | Dương lịch, lịch Giáo hội Anh | Lễ Thánh Vua Oswald xứ Northumbria | Kính nhớ vị quốc vương Kitô giáo tử đạo năm 642 mà hộp sọ của ngài được lưu giữ chung trong mộ của Thánh Cuthbert tại Durham. |
| Ngày 4 tháng 9 | Dương lịch, lịch Giáo hội Anh | Lễ dời linh cữu Thánh Cuthbert (Translation of St Cuthbert) | Tưởng niệm ngày linh cữu Thánh Cuthbert được rước về Durham năm 995 và ngày rước vào cung thánh nhà thờ Norman mới năm 1104. |
| Thứ Bảy thứ hai của tháng 7 | Dương lịch (Truyền thống vùng Đông Bắc) | Lễ ban phép lành cho cờ hiệu Thợ mỏ Durham (Durham Miners' Gala Service) | Nghi thức cộng đồng đặc sắc có từ thế kỷ 19, khi hàng nghìn thợ mỏ than vùng County Durham cùng các ban nhạc kèn đồng rước những lá cờ hiệu thêu tay truyền thống vào thẳng gian giữa Nhà thờ chính tòa để Giám mục Durham làm phép lành. |
Trong lễ đăng quang của các vị Quốc vương và Nữ vương Anh tại Tu viện Westminster ở thủ đô Luân Đôn (từ lễ đăng quang của Vua Richard I năm 1189 cho tới lễ đăng quang của Vua Charles III năm 2023), theo đúng cổ lệ ngàn năm, vị Giám mục của Nhà thờ chính tòa Durham luôn là người đứng ngay bên tay phải của nhà vua để hộ giá suốt buổi lễ, khẳng định vị thế lịch sử cao quý của tòa giám mục miền Bắc này.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đường tới
- Nhà thờ tọa lạc trên đồi Palace Green ngay trung tâm thành phố lịch sử Durham ở vùng Đông Bắc nước Anh. Từ thủ đô Luân Đôn, quý vị có thể đi tàu cao tốc trên tuyến đường sắt bờ Đông (East Coast Main Line) từ ga London King's Cross thẳng tới ga Durham mất khoảng 2 giờ 45 phút, hoặc đi tàu từ Edinburgh (Scotland) xuống mất khoảng 1 giờ 45 phút, ngay khi tàu qua cầu cạn Durham, quý vị đã thấy toàn cảnh nhà thờ hiện ra trên vách đá và chỉ mất 15 phút đi bộ hoặc đi xe buýt con thoi Cathedral Bus từ nhà ga lên tới cửa nhà thờ.
- Toạ độ
- 54.77361, -1.57611
Khi tới chiêm bái Nhà thờ chính tòa Durham, quý vị đang bước vào một thánh đường đang cử hành phụng vụ hàng ngày. Quý vị xin lưu ý ăn mặc lịch sự, bỏ mũ khi qua cửa bắc, giữ trật tự tuyệt đối tại khu vực Đền mộ Thánh Cuthbert phía sau bàn thờ chính và khu mộ Thánh Bêđa trong Nhà nguyện Galilee nơi luôn có tín hữu quỳ cầu nguyện. Vào giờ cử hành Thánh lễ hoặc giờ Kinh Chiều hát xướng (Choral Evensong), việc tham quan tự do và chụp ảnh tạm dừng để toàn bộ những người có mặt cùng hiệp thông trong không gian tĩnh lặng của thánh đường.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Nhà thờ chính tòa Chúa Kitô, Đức Trinh Nữ Maria và Thánh Cuthbert tại Durham
Contribute photos, information or video for Durham CathedralThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao Nhà thờ chính tòa Durham được coi là công trình mở đường cho kiến trúc Gothic thế giới?
Khởi công ngày 11 tháng 8 năm 1093 và hoàn thành vòm gian giữa năm 1133, Nhà thờ chính tòa Durham là công trình quy mô lớn đầu tiên trong lịch sử kiến trúc thế giới sử dụng đồng bộ hệ thống vòm sườn đá nhọn bảy múi (pointed seven-part ribbed vaults) kết hợp với các vòm chống ẩn dưới mái hành lang đóng vai trò như trụ bay sơ khai, sớm hơn Vương cung thánh đường Saint-Denis ở Pháp từ 10 đến 40 năm.
Những vị thánh nào được an táng bên trong Nhà thờ chính tòa Durham?
Nhà thờ là nơi lưu giữ hài cốt của ba nhân vật vĩ đại thời Anglo-Saxon. Phía sau bàn thờ chính ở đầu đông là phần mộ của Thánh Cuthbert thành Lindisfarne (634 tới 687, vị thánh bổn mạng miền Bắc nước Anh) cùng hộp sọ của Thánh Vua Oswald xứ Northumbria (mất năm 642). Ở đầu phía tây trong Nhà nguyện Galilee là phần mộ của Thánh Bêđa Khả Kính (672 tới 735, Tiến sĩ Hội Thánh và Cha đẻ của lịch sử nước Anh).
Danh hiệu Thân vương Giám mục Durham (Prince-Bishop) có ý nghĩa là gì?
Sau cuộc chinh phạt của người Norman năm 1066, để trấn giữ biên giới phía bắc giáp Scotland, các vị vua Anh đã trao cho Giám mục Durham quyền cai trị tự trị gần như một quốc vương trên lãnh địa Hành cung Durham. Cho tới năm 1836, các vị Thân vương Giám mục Durham vừa là lãnh đạo tinh thần tại Nhà thờ chính tòa, vừa cư ngụ tại Lâu đài Durham kế bên với quân đội, tòa án, nghị viện và xưởng đúc tiền riêng.
Đường kẻ bằng đá cẩm thạch đen cắt ngang sàn gian giữa của nhà thờ dùng để làm gì?
Đường kẻ bằng đá cẩm thạch Frosterley màu đen có chứa hóa thạch san hô chạy ngang qua gian giữa gần cửa phía bắc là ranh giới từ thời Trung cổ quy định giới hạn tối đa mà phụ nữ được phép bước vào trong nhà thờ đan viện dòng Biển Đức này. Thời ấy, phụ nữ chỉ được đứng ở phía tây vạch đá đen hoặc cầu nguyện trong Nhà nguyện Galilee do truyền thuyết Thánh Cuthbert giữ luật khổ hạnh biệt lập của đan sĩ.
Chiếc vòng đồng hình đầu sư tử trên cửa bắc của Nhà thờ Durham có công dụng gì?
Đó là chiếc vòng gõ cửa xin tị nạn (Sanctuary Knocker) đúc từ khoảng năm 1140. Theo luật tị nạn thời Trung cổ, bất kỳ người nào phạm trọng tội nếu chạy thoát tới cửa bắc và nắm được chiếc vòng đồng này sẽ được các đan sĩ trực trên buồng gác mở cửa cho vào hưởng quyền bất khả xâm phạm trong 37 ngày, được chu cấp ăn ở trước khi hòa giải hoặc mặc áo choàng trắng cầm thánh giá đi ra cảng biển rời khỏi nước Anh.