VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Thiên Đàn, Bắc Kinh

Tiantan, 天坛, 天壇, Thiên Đàn Bắc Kinh, Thiên Địa Đàn, Temple of Heaven, Altar of Heaven

Quần thể đàn tế Trời rộng hơn cả Tử Cấm Thành ở phía nam cố đô Bắc Kinh, nơi các hoàng đế hai triều Minh và Thanh cử hành đại lễ tế Thượng Đế ngày Đông chí và cầu mùa đầu xuân suốt năm thế kỷ.

Khởi dựng
1406 tới 1420
triều Vĩnh Lạc nhà Minh, đổi tên Thiên Đàn năm 1534
Quy mô và điện chính
273 ha, cao 38 m
Kỳ Niên Điện 28 cột gỗ không đinh, Viên Khâu Đàn 3 tầng đá
Xếp hạng
Di sản Thế giới UNESCO
ghi danh năm 1998 theo các tiêu chí (i), (ii) và (iii)

Bước qua cổng Chiêu Hanh ở phía nam hay cổng Đông Thiên Môn của quận Đông Thành, quý vị không gặp ngay những dãy điện ngói vàng san sát như ở Tử Cấm Thành, mà đi vào một rừng bách cổ thụ rộng tới 273 héc ta, nơi hơn ba nghìn rưỡi cây tùng bách hàng trăm năm tuổi tỏa bóng mát rượi trên những lối đá phẳng lì. Giữa khoảng xanh mênh mông ấy, một con đường gạch đá tôn cao dài 360 mét gọi là Đan Bệ Kiều dẫn thẳng từ nam lên bắc, nối ba công trình hình tròn lợp ngói lưu ly xanh thẫm như sắc da trời: đài đá trắng Viên Khâu lộ thiên, tòa điện Hoàng Khung Vũ có bức tường vang tiếng thì thầm, và trên cùng là Kỳ Niên Điện ba tầng mái tròn vươn cao 38 mét giữa nền đá cẩm thạch ba cấp.

Đây là Thiên Đàn (Tiantan, 天壇) tại thủ đô Bắc Kinh, đàn tế Trời hoàng gia lớn nhất còn lại của Trung Hoa và được UNESCO ghi danh Di sản Thế giới năm 1998. Trong trật tự lễ giáo Nho gia của vương triều xưa, hoàng đế mang danh Thiên Tử, tức người con của Trời, nên nơi nhà vua quỳ xuống dâng lễ vật lên Hoàng Thiên Thượng Đế buộc phải rộng hơn nơi nhà vua ngồi thiết triều. Vì lẽ ấy mà khuôn viên Thiên Đàn rộng gần gấp bốn lần Tử Cấm Thành.

Thiên Đàn, Bắc Kinh
Thiên Đàn, Bắc Kinh. Ảnh: Shujianyang, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

ITín Ngưỡng Kính Thiên, Lễ Chế Thiên Tử Và Tên Gọi Thiên Đàn

Trong hệ thống phân loại của thư viện, Thiên Đàn thuộc mạch Nho giáo, cụ thể là nhánh lễ chế tế tự quốc gia được điển chế hóa từ Chu Lễ và Kinh Lễ. Khác với Khổng Miếu Khúc Phụ là nơi tôn thờ bậc Tiên Thánh Tiên Sư đã mở đường đạo học, Thiên Đàn là nơi cử hành Giao tự (tế Nam Giao), nghi lễ tối cao của nhà nước quân chủ Trung Hoa. Đối tượng được phụng thờ ở vị trí chính trung là Hoàng Thiên Thượng Đế (Thiên Đế, đấng tối cao cai quản bầu trời và vạn vật), phối hưởng cùng bài vị liệt tổ liệt tông của hoàng tộc, các thần Mặt Trời (Đại Minh), Mặt Trăng (Dạ Minh), Bắc Đẩu Thất Tinh, Ngũ Tinh cùng các thần Mây, Mưa, Gió, Sấm.

Theo giáo nghĩa

Theo học thuyết Thiên mệnh của Nho gia, quyền cai trị muôn dân không phải của riêng một dòng họ mà do Trời trao cho người có đức. Mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt là dấu hiệu Trời thuận lòng, còn hạn hán, mất mùa hay dịch bệnh là lời cảnh cáo từ trên cao. Bởi chỉ có Thiên Tử mới được phép trực tiếp thông đạt với Thượng Đế thay cho thiên hạ, việc tế Trời vừa là đặc quyền độc tôn của hoàng đế, vừa là bổn phận đạo đức nặng nề nhất của ngôi vua. Khi bước vào Thiên Đàn, hoàng đế không xưng Trẫm trước Thượng Đế mà tự xưng là Thần (bề tôi), mặc áo cổn đội mũ miện và thực hiện đầy đủ các tuần quỳ lạy trên nền đá lộ thiên dưới cái lạnh cắt da của tiết Đông chí.

Chữ Đàn (壇) trong cổ ngữ Hán chỉ một nền đất hoặc nền đá đắp cao ngoài trời để tế thần linh, phân biệt với chữ Miếu hay Điện là nhà có mái che để thờ tổ tiên hoặc tiên hiền. Quần thể ở Bắc Kinh kết hợp cả hai: phía nam là Viên Khâu Đàn lộ thiên không mái để làm lễ đại tế ngày Đông chí, còn phía bắc là Kỳ Niên Điện có ba tầng mái tròn để làm lễ cầu ngũ cốc được mùa vào tháng Giêng đầu xuân.

Theo sử liệu

Theo hồ sơ Di sản Thế giới số 881 của UNESCO và Encyclopædia Britannica, khi vua Vĩnh Lạc (Chu Đệ) nhà Minh dời đô từ Nam Kinh lên Bắc Kinh và cho dựng công trình từ năm 1406 tới 1420, nơi này mang tên Thiên Địa Đàn (Đàn tế chung cả Trời và Đất) theo đúng cổ lệ đầu thời Minh ở Nam Kinh, với tòa Đại Tự Điện hình chữ nhật ở giữa. Tới năm Gia Tĩnh thứ chín (1530), hoàng đế Gia Tĩnh nghe theo tấu sớ của các đại thần lễ bộ, khôi phục cổ lễ phân giao trong sách Chu Lễ: tách việc tế Trời và tế Đất ra hai nơi riêng biệt. Nhà vua cho xây thêm Viên Khâu Đàn ở phía nam để chuyên tế Trời, dựng Phương Trạch Đàn (Địa Đàn) ở phía bắc kinh thành để tế Đất, Nhật Đàn ở phía đông để tế Mặt Trời và Nguyệt Đàn ở phía tây để tế Mặt Trăng. Năm Gia Tĩnh thứ mười ba (1534), quần thể phía nam chính thức đổi tên thành Thiên Đàn.

Chỗ hay hiểu lầm

Người đọc phương Tây và du khách quốc tế quen gọi công trình qua tên tiếng Anh Temple of Heaven nên đôi khi hình dung đây là một ngôi chùa Phật giáo hoặc đạo quán Đạo giáo mở cửa cho bá tánh vào cầu phúc quanh năm. Thực tế, suốt hơn năm trăm năm dưới hai triều Minh và Thanh, Thiên Đàn là cấm địa hoàng gia tuyệt đối nghiêm ngặt, chỉ mở cửa cho đoàn ngự giá của hoàng đế và các quan bồi tế trong những kỳ đại điển quốc gia. Dân thường tự ý bước qua tường đàn đều bị khép vào trọng tội theo luật triều đình. Phải tới năm 1918, sau khi chế độ quân chủ chấm dứt, khu đàn tế mới được mở thành công viên công cộng cho người dân vào chiêm ngưỡng.

IIHơn Năm Thế Kỷ Kiến Thiết Từ Triều Vĩnh Lạc Nhà Minh Tới Triều Càn Long Nhà Thanh

Lịch sử xây dựng của Thiên Đàn gắn chặt với lịch sử định đô Bắc Kinh của vương triều Minh và sự kế thừa lễ chế của vương triều Thanh. Trải qua sáu thế kỷ, từ một khu đàn hợp tự Trời Đất năm 1420, quần thể đã được cải tạo qua hai cuộc cải cách kiến trúc lớn nhất dưới triều vua Gia Tĩnh thế kỷ 16 và triều vua Càn Long thế kỷ 18 để có diện mạo hoàn chỉnh như ngày nay.

  • 1406 tới 1420Khởi dựng Thiên Địa Đàn thời Vĩnh Lạc
    Vua Minh Thành Tổ (Vĩnh Lạc) hạ chiếu xây dựng Thiên Địa Đàn ở phía đông nam ngoại thành Bắc Kinh cùng đợt với Tử Cấm Thành, khởi công năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406) và hoàn thành năm Vĩnh Lạc thứ 18 (1420) với tòa Đại Tự Điện hình chữ nhật.
  • 1530Xây Viên Khâu Đàn và tách lễ tế Trời Đất
    Năm Gia Tĩnh thứ 9, vua Minh Thế Tông thực hiện chế độ phân giao, cho xây Viên Khâu Đàn ba tầng lộ thiên ở phía nam trục chính để chuyên tế Trời ngày Đông chí và nhà Hoàng Khung Vũ để cất giữ thần bài.
  • 1534 tới 1545Đổi tên Thiên Đàn và dựng Đại Hưởng Điện tròn
    Năm 1534 khu đàn chính thức mang tên Thiên Đàn. Tới năm 1540, vua Gia Tĩnh cho phá dỡ Đại Tự Điện hình chữ nhật để dựng Đại Hưởng Điện hình tròn ba tầng mái lợp ngói ba màu xanh, vàng, lục (hoàn thành năm 1545), tượng trưng cho Minh Đường cổ đại.
  • 1749 tới 1752Đại trùng tu thời Càn Long nhà Thanh
    Hoàng đế Càn Long cho mở rộng Viên Khâu Đàn và thay toàn bộ gạch lưu ly xanh bằng đá cẩm thạch trắng Hán Bạch Ngọc năm 1749. Năm 1751 tới 1752, nhà vua đổi tên Đại Hưởng Điện thành Kỳ Niên Điện và cho lợp lại cả ba tầng mái bằng một màu ngói lưu ly xanh thẫm đồng nhất.
  • 1889 tới 1896Tái thiết Kỳ Niên Điện sau vụ sét đánh
    Tháng 8 năm Quang Tự thứ 15 (1889), Kỳ Niên Điện bị sét đánh trúng và thiêu rụi hoàn toàn. Triều đình nhà Thanh khởi công dựng lại nguyên mẫu từ năm 1890 và hoàn tất năm 1896 bằng gỗ thông Oregon nhập từ Bắc Mỹ thay cho gỗ nam mộc Tứ Xuyên đã cạn kiệt.
  • 1961Đơn vị Bảo hộ Văn vật Trọng điểm Toàn quốc đợt 1
    Ngày 4 tháng 3 năm 1961, Quốc vụ viện Trung Quốc xếp hạng Thiên Đàn vào danh sách Đơn vị Bảo hộ Văn vật Trọng điểm Toàn quốc đợt đầu tiên.
  • 1998Ghi danh Di sản Thế giới UNESCO
    Tại kỳ họp lần thứ 22 ở Kyoto, UNESCO công nhận Thiên Đàn: Đàn tế Hoàng gia ở Bắc Kinh là Di sản Thế giới số 881 theo các tiêu chí (i), (ii) và (iii).
Theo sử liệu

Khảo cứu các nguồn tư liệu chính thức cho thấy một vài sự khác biệt về thông số đo đạc cần được ghi rõ để người đọc đối chiếu. Về kích thước Kỳ Niên Điện, UNESCO và nhiều tài liệu tổng quan ghi điện cao 38 mét và đường kính 36 mét, trong khi cổng thông tin Chính quyền thành phố Bắc Kinh (beijing.gov.cn) và các bản vẽ trắc đạc kiến trúc ghi chiều cao chính xác tới đỉnh bảo đính là 38,2 mét, đường kính thân điện gỗ là 24,2 mét (hoặc 32,7 mét tính tới mép hiên tầng dưới), còn con số 36 mét là đường kính mặt tầng trên cùng của nền đá cẩm thạch Kỳ Cốc Đàn. Về đường kính Hồi Âm Bích quanh Hoàng Khung Vũ, Travel China Guide và một số cẩm nang ghi 65 mét (chu vi 193,2 mét), trong khi bản đo đạc của Ban quản lý công viên Thiên Đàn ghi đường kính trong là 61,5 mét. Thư viện dẫn giải cả hai cách tính để giữ trọn độ chuẩn xác học thuật.

IIIBố Cục Thiên Viên Địa Phương, Phép Số Chín Và Ba Tuyệt Tác Trên Trục Thần Đạo

Toàn bộ mặt bằng 273 héc ta của Thiên Đàn là sự hiện thực hóa bằng gạch đá và gỗ lim cho vũ trụ quan cổ đại Trung Hoa. Khu đàn được bao bọc bởi hai vòng tường đồng tâm là Ngoại Đàn và Nội Đàn. Ở cả hai vòng tường, phía bắc đều xây uốn cong hình bán nguyệt còn phía nam xây vuông góc, thể hiện triết lý thiên viên địa phương (Trời tròn Đất vuông). Trục thần đạo chạy dọc từ nam lên bắc xuyên qua Nội Đàn được kết nối bởi Đan Bệ Kiều (còn gọi là Hải Mạn Đại Đạo), một con đường gạch đá dài 360 mét, rộng gần 30 mét, nâng cao dần từ 1 mét ở đầu nam lên 3 mét ở đầu bắc như chiếc cầu đưa bước chân người tế lễ đi từ mặt đất lên tới cõi trời. Mặt đường chia làm ba làn: làn giữa là Thần Đạo dành riêng cho kiệu rước bài vị Thượng Đế, làn bên đông là Ngự Đạo dành cho hoàng đế, làn bên tây là Vương Đạo dành cho các hoàng thân quốc thích và đại thần bồi tế.

Sắc màu và con số trong quần thể đều tuân theo quy luật âm dương. Trái với Tử Cấm Thành dùng toàn ngói lưu ly vàng tượng trưng cho hoàng quyền hành Thổ ở trung ương, các điện chính của Thiên Đàn kể từ thời Càn Long (1751) đều lợp ngói lưu ly xanh thẫm tượng trưng cho bầu trời bao la. Mọi bậc thang, phiến đá lát nền và trụ lan can tại Viên Khâu Đàn đều lấy số 9 (con số Cửu, cực số của số lẻ thuộc Dương) làm gốc nhân lên, tạo thành một đồ hình toán học khổng lồ bằng đá trắng.

Kỳ Niên Điện và nền Kỳ Cốc Đàn

Tòa điện gỗ hình tròn ba tầng mái ngói xanh ở cực bắc trục chính, nơi hoàng đế làm lễ cầu ngũ cốc được mùa đầu xuân. Điện đứng trên nền đá cẩm thạch trắng ba tầng cao 6 mét (diện tích 5.900 mét vuông), tổng chiều cao 38 mét (38,2 mét). Toàn bộ kết cấu mái được đỡ bởi 28 cột gỗ lớn liên kết hoàn toàn bằng mộng đố củng không dùng một chiếc đinh sắt nào: 4 cột Long Tỉnh ở trung tâm cao 19,2 mét tượng trưng cho 4 mùa, vòng giữa 12 cột Kim Trụ tượng trưng cho 12 tháng trong năm, vòng ngoài 12 cột Diêm Trụ tượng trưng cho 12 canh giờ trong ngày (hai vòng ngoài cộng lại thành 24 tiết khí).

Hoàng Khung Vũ và Hồi Âm Bích

Tòa điện tròn một tầng mái hình nón cao 19,5 mét, đường kính 15,6 mét nằm phía bắc Viên Khâu Đàn, dùng làm nơi tôn trí bài vị Hoàng Thiên Thượng Đế và tổ tiên ngoài ngày đại tế. Bao quanh điện là bức tường tròn Hồi Âm Bích cao 3,72 mét, dày 0,9 mét, đường kính 61,5 mét (hoặc 65 mét tính ngoài), chu vi 193,2 mét. Nhờ mặt gạch mài nhẵn khít mạch và mái ngói cong hắt âm vào trong, người đứng áp tai vào tường ở phía đông có thể nghe rõ tiếng nói thầm từ người đứng ở phía tây cách đó hàng trăm mét. Trên trục đường trước điện còn có Tam Âm Thạch, đứng ở phiến đá thứ nhất vỗ tay nghe một tiếng vang, phiến thứ hai nghe hai tiếng và phiến thứ ba nghe ba tiếng vang.

Viên Khâu Đàn (Đàn tế Trời lộ thiên)

Đàn tế ba tầng tròn bằng đá cẩm thạch trắng Hán Bạch Ngọc ở cực nam, cao tổng cộng hơn 5 mét. Tầng trên cùng đường kính 30 mét, tâm đàn là phiến đá tròn Thiên Tâm Thạch, bao quanh bởi 9 vòng đá hình quạt: vòng thứ nhất 9 phiến, vòng thứ hai 18 phiến, tăng dần theo bội số của 9 cho tới vòng thứ chín là 81 phiến (9 lần 9). Tầng giữa từ vòng thứ 10 tới 18 (162 phiến ở vòng ngoài), tầng dưới từ vòng 19 tới 27 (243 phiến ở vòng ngoài). Bốn lối lên ở bốn phương đều có đúng 9 bậc thang mỗi tầng.

Trai Cung (Cung Chay Tịnh)

Khu cung điện nhỏ rộng khoảng 40.000 mét vuông nằm ở phía tây nam Nội Đàn, quay hướng đông, có hai lớp tường thành và hào nước bao bọc như một Tử Cấm Thành thu nhỏ. Tại Chính điện không dùng rường cột (Vô Lương Điện), hoàng đế phải tới cư trú ba ngày trước đại lễ để trai giới: không ăn thịt, không uống rượu, không nghe nhạc, không gần nữ sắc và không xử việc hình ngục nhằm giữ thân tâm thanh tịnh trước khi đối diện với Trời.

Thần Nhạc Thự và Hy Sinh Sở

Nằm ở phía tây nam Ngoại Đàn là Thần Nhạc Thự (khởi lập năm 1420), cơ quan chuyên quản lý, huấn luyện hơn 600 nhạc công và vũ sinh biểu diễn nhạc lễ Trung Hòa Thiều Nhạc trong các kỳ đại tế, cùng khu Hy Sinh Sở nuôi dưỡng các con sinh (bò tơ thuần sắc, dê, lợn) phục vụ lễ hiến tế.

Bảng tổng hợp thông số kiến trúc và con số biểu tượng tại Thiên Đàn. Nguồn: Hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO số 881, Chính quyền thành phố Bắc Kinh (beijing.gov.cn), Encyclopædia Britannica..
Hạng mụcThông sốNguồn đối chiếu
Tổng diện tích quần thể273 ha (2.730.000 m2)UNESCO (hồ sơ 881), Britannica, Chính quyền Bắc Kinh
Chiều cao và đường kính Kỳ Niên ĐiệnCao 38 m (38,2 m), đường kính thân điện 24,2 m, nền đàn 36 mUNESCO, beijing.gov.cn, Travel China Guide
Hệ thống cột gỗ Kỳ Niên Điện28 cột (4 cột mùa + 12 cột tháng + 12 cột canh giờ)beijing.gov.cn, Britannica
Chiều dài và rộng Đan Bệ KiềuDài 360 m, rộng 29,4 m, cao từ 1 m tới 3 mTravel China Guide, hồ sơ UNESCO
Chu vi và đường kính Hồi Âm BíchChu vi 193,2 m, đường kính 61,5 m (hoặc 65 m)Ban quản lý Thiên Đàn, Travel China Guide
Viên Khâu Đàn3 tầng đá trắng, 9 bậc mỗi tầng, 9 vòng đá mỗi tầng (tối đa 243 phiến)beijing.gov.cn, UNESCO

IVThế Đất Và Hướng

Nho giáo và lễ chế vương triều Trung Hoa định vị các đàn tế quốc gia dựa trên quy phạm kinh lễ và lý học Dịch kinh (như phép Tả Tổ Hữu Xã và phép Nam Giao tế Thiên, Bắc Giao tế Địa trong sách Chu Lễ), chứ không đơn thuần dùng thuật phong thủy dân gian tìm mộ trạch. Tuy nhiên, chính các kiến trúc sư cung đình thời Vĩnh Lạc và Gia Tĩnh khi quy hoạch thành Bắc Kinh đã vận dụng triệt để lý thuyết âm dương, ngũ hành, Bát quái và hình thế sơn thủy đại cuộc của vùng đồng bằng Hoa Bắc. Phần dưới đây là cách đọc thế đất Thiên Đàn theo phép hình thế cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét trên đại cuộc long mạch của kinh đô Bắc Kinh, dãy núi Yên Sơn (Yanshan) hùng vĩ ở phía bắc và dãy Thái Hàng Sơn (Tây Sơn) ở phía tây bắc kết thành bức bình phong hậu chẩm che chắn gió bấc từ thảo nguyên Mông Cổ, mở ra vùng đồng bằng bồi tụ của hệ thống sông Vĩnh Định (Yongding) và sông Triều Bạch làm minh đường rộng lớn ở phía nam. Trong bố cục tổng thể kinh thành lấy Tử Cấm Thành làm huyệt trung cung, Thiên Đàn được đặt ở phương Nam hơi chếch Đông (bên trái trục chính tuyến Vĩnh Định Môn của kinh thành, đối xứng với Tiên Nông Đàn ở bên phải phía tây nam). Trong Hậu Thiên Bát Quái và Dịch lý, phương Nam thuộc quẻ Ly (hành Hỏa, ánh sáng rực rỡ, đại diện cho cực Dương), còn phương Đông Nam thuộc quẻ Tốn (nơi khí Dương sinh trưởng mạnh mẽ). Đặt đàn tế Trời ở phương Nam kinh thành là thuận theo nguyên lý lấy cực Dương dưới đất để nghênh đón khí Dương của Thượng Đế trên trời, đối ứng hoàn hảo với Địa Đàn (Phương Trạch Đàn) đặt ở phương Bắc thuộc quẻ Khảm (cực Âm) để tế Đất.

Đi sâu vào nội cục tại tọa độ 39,8822 độ vĩ Bắc, 116,4066 độ kinh Đông, dòng khí hành lễ tại Thiên Đàn có một sự đảo chiều đặc biệt so với cung điện thông thường. Nếu ở Tử Cấm Thành, hoàng đế ngồi tại điện Thái Hòa tọa bắc hướng nam (Nam diện nhi vương) để nhìn xuống bá quan, thì trên trục Đan Bệ Kiều dài 360 mét của Thiên Đàn, địa hình được đắp thấp ở phía nam và nâng cao dần lên phía bắc (từ Viên Khâu Đàn cao hơn 5 mét tới nền Kỳ Niên Điện cao 6 mét cùng thân điện cao 38 mét). Khi tế lễ tại Viên Khâu Đàn, bài vị Hoàng Thiên Thượng Đế được đặt ở chính bắc quay mặt về nam, còn hoàng đế phải đứng ở phía nam quay mặt về bắc để bái lạy. Thế đất nâng cao dần từ nam lên bắc tạo thành bước thang thu tụ dương khí, biến tòa Kỳ Niên Điện ở cực bắc thành đỉnh tụ huyệt kết nối trực tiếp trục đất với sao Bắc Cực (Tử Vi Viên) trên bầu trời. Riêng khu Trai Cung ở phía tây lại xoay mặt về hướng chính Đông (mặt trời mọc, hành Mộc sinh khí), có hào nước (Thủy) bao bọc bốn phía để giữ cho khí trường nơi nhà vua tịnh tâm luôn tĩnh lặng và kín đáo.

VTam Đại Lễ Tế Trời Của Hoàng Triều Và Các Hoạt Động Di Sản Ngày Nay

Dưới hai triều Minh và Thanh, mỗi năm hoàng đế thân chinh tới Thiên Đàn cử hành ba kỳ đại lễ lớn nhất của quốc gia, tính theo lịch âm dương cổ truyền (Nông lịch) và 24 tiết khí. Mỗi kỳ lễ huy động hàng nghìn quan viên, nhạc công, vũ sinh và binh lính hộ giá, bắt đầu từ rạng sáng trước khi mặt trời mọc trong tiếng chuông khánh của bộ nhạc lễ Trung Hòa Thiều Nhạc và điệu múa Bát Dật (64 vũ sinh chia làm 8 hàng). Ngày nay, các nghi thức tế Trời và nhã nhạc cung đình được phục dựng trình diễn định kỳ vào dịp Tết Nguyên Đán và ngày Đông chí như một di sản văn hóa phi vật thể.

Ba kỳ đại lễ lịch sử và hoạt động phục dựng di sản tại Thiên Đàn. Nguồn: Hồ sơ UNESCO số 881, Chính quyền thành phố Bắc Kinh (beijing.gov.cn), Travel China Guide..
Thời điểmTheo lịch nàoTên đại lễĐịa điểm và nghi thức chính
Ngày tiết Đông chí (khoảng 21 hoặc 22 tháng 12)Lịch 24 tiết khí (dương lịch và âm dương lịch Trung Hoa)Đại lễ Tế Thiên ngày Đông chí (Giao tự)Cử hành lúc rạng sáng tại Viên Khâu Đàn lộ thiên. Đông chí là thời khắc âm cực sinh dương (Nhất dương sinh). Hoàng đế làm lễ nghênh thần, dâng ngọc bích màu xanh, lụa, thịt bò tơ (thái lao), đọc chúc văn và đốt lễ vật tại lò Vọng Liệu để tạ ơn Trời năm cũ và đón dương khí năm mới.
Ngày Tân đầu tiên của tháng Giêng (Thượng Tân)Âm lịch cổ truyền (Nông lịch)Đại lễ Kỳ Cốc (Cầu ngũ cốc được mùa)Cử hành tại Kỳ Niên Điện vào đầu mùa xuân. Hoàng đế dâng lễ trước bài vị Hoàng Thiên Thượng Đế và các vị hoàng đế tiền triều, cầu cho một năm mới mưa thuận gió hòa, năm thứ lúa thóc (ngũ cốc) khắp thiên hạ đều bội thu.
Tháng Tư âm lịch (hoặc khi có hạn hán lớn)Âm lịch cổ truyền (Thường Vũ tự)Đại lễ Thường Vũ (Cầu mưa mùa hạ)Cử hành tại Viên Khâu Đàn vào đầu mùa hạ. Nếu gặp năm đại hạn kéo dài, hoàng đế phải ăn chay, đi bộ từ Trai Cung tới đàn tế dưới nắng để tự trách mình và khẩn cầu Thượng Đế ban mưa cứu dân.
Mùng 1 tới mùng 5 tháng GiêngÂm lịch (trình diễn văn hóa đương đại)Phục dựng Lễ Tế Thiên và Nhạc lễ Thần Nhạc ThựDiễn ra tại khu vực Đan Bệ Kiều, Kỳ Niên Điện và Thần Nhạc Thự vào dịp Tết Nguyên Đán hằng năm, tái hiện đoàn nghi trượng tế Trời thời Càn Long và hòa tấu nhạc lễ cổ.

Bên cạnh giá trị lễ nhạc cung đình, khu rừng bách cổ thụ ở Ngoại Đàn vào mỗi buổi sáng sớm còn là không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng sống động nhất của người dân Bắc Kinh, nơi các bậc cao niên luyện tập Thái cực quyền, khí công, viết thư pháp bằng nước trên nền gạch và hát kinh kịch dưới tán cây nhiều thế kỷ.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
1 Tiantan Dongli Jia, quận Dongcheng (Đông Thành), thành phố Bắc Kinh (北京市东城区天坛东里甲1号)
Đường tới
Nằm tại quận Đông Thành (Dongcheng), phía đông nam Quảng trường Thiên An Môn khoảng 3 km. Cách thuận tiện nhất là đi tàu điện ngầm Bắc Kinh tuyến số 5 tới ga Tiantan Dongmen (Cổng Đông Thiên Đàn, lối ra A) hoặc tuyến số 8 tới ga Tianqiao (gần cổng Tây).
Toạ độ
39.8822, 116.4066
Khi tới nơi

Thiên Đàn nay là quần thể di sản văn hóa thế giới mở cửa đón khách tham quan, nhưng cốt lõi vẫn là đàn tế thiêng liêng của cổ nhân. Quý vị tới thăm nên đi theo đúng trình tự lễ nghi cổ từ cổng Nam ngược theo trục Đan Bệ Kiều lên cổng Bắc (từ Viên Khâu Đàn qua Hoàng Khung Vũ rồi lên Kỳ Niên Điện) để cảm nhận trọn vẹn độ nâng của mặt đất. Tại Hồi Âm Bích và Thiên Tâm Thạch, xin giữ trật tự chung, không khắc vẽ hay cạo mặt gạch cổ, không leo trèo lên các đầu rồng đá thoát nước quanh chân nền đá cẩm thạch trắng.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thiên Đàn, Bắc Kinh

Contribute photos, information or video for Temple of Heaven

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Thiên Đàn ở Bắc Kinh thờ ai và thuộc tôn giáo nào

Thiên Đàn không thờ Phật hay thần tiên Đạo giáo mà thuộc hệ thống lễ chế quốc gia của Nho giáo Trung Hoa. Đàn thờ Hoàng Thiên Thượng Đế (đấng tối cao cai quản bầu trời), phối hưởng cùng bài vị tổ tiên hoàng gia và các thần Mặt Trời, Mặt Trăng, Tinh tú, Mây, Mưa, Gió, Sấm.

Vì sao Thiên Đàn có tường phía bắc hình tròn và tường phía nam hình vuông

Thiết kế này biểu đạt quan niệm vũ trụ cổ đại của người Trung Hoa là thiên viên địa phương (Trời tròn Đất vuông). Phía bắc tượng trưng cho Trời (Dương, cao hơn) nên hai vòng tường Nội Đàn và Ngoại Đàn đều xây uốn cong hình bán nguyệt, còn phía nam tượng trưng cho Đất (Âm, thấp hơn) nên tường xây vuông góc.

28 cây cột gỗ trong Kỳ Niên Điện mang ý nghĩa gì

Toàn bộ 28 cột gỗ của Kỳ Niên Điện được dựng hoàn toàn bằng mộng đố củng không dùng đinh và biểu thị lịch pháp thiên văn: 4 cột Long Tỉnh lớn nhất ở giữa tượng trưng cho 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông, vòng giữa 12 cột tượng trưng cho 12 tháng trong năm, và vòng ngoài 12 cột tượng trưng cho 12 canh giờ trong ngày (hai vòng ngoài gộp lại thành 24 tiết khí).

Vì sao mọi phiến đá và bậc thang ở Viên Khâu Đàn đều tính theo bội số của 9

Trong Dịch học Trung Hoa, các số lẻ thuộc Dương, số chẵn thuộc Âm, và số 9 là số lẻ lớn nhất có một chữ số nên được gọi là Cửu Dương (cực Dương), đại diện cho Trời và ngôi vị tối cao của Thiên Tử. Do đó mỗi tầng của Viên Khâu Đàn đều có 9 bậc thang và 9 vòng đá lát tăng dần từ 9, 18, 27 lên tới 81 và 243 phiến.

Hiện tượng âm thanh ở Hồi Âm Bích hoạt động như thế nào

Hồi Âm Bích là bức tường gạch tròn cao 3,72 mét, đường kính hơn 61,5 mét bao quanh Hoàng Khung Vũ. Nhờ mặt gạch trong được mài nhẵn và ghép khít bằng vữa vôi nếp không có khe hở, cộng với gờ mái ngói cong ở trên, sóng âm khi nói sát mặt tường sẽ phản xạ liên tục dọc theo đường cong mà hầu như không bị tiêu tán, giúp người ở đầu bên kia nghe rõ tiếng thì thầm.

›Đọc Tiếp