VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Bảo An Cung Đại Long Động, Đài Bắc

Dalongdong Baoan Temple, 大龍峒保安宮, 臺北保安宮, Đại Lãng Bơm Cung, Đại Đạo Công Miếu, Taipei Baoan Temple

Ngôi cổ miếu Đạo giáo danh tiếng tại vùng Đại Long Động thuộc quận Đại Đồng, thành phố Đài Bắc phụng thờ vị thần y học Bảo Sinh Đại Đế, nơi kết tinh nghệ thuật chạm gỗ đối tràng Đông - Tây, bích họa truyền thống của Phan Lệ Thủy và chuẩn mực trùng tu di sản được UNESCO vinh danh năm 2003.

Khởi dựng
Năm 1742 và 1804
Dựng miếu gỗ năm 1742, đại kiến thiết năm 1804 tới 1830
Bản tôn
Bảo Sinh Đại Đế
Thần y Ngô Bản (979 tới 1036) quê ở Đồng An, Phúc Kiến
Vinh danh
UNESCO (2003)
Giải thưởng Bảo tồn Di sản Châu Á - Thái Bình Dương, Di tích Quốc định 2018

Nằm trên phố Cáp Mật (Hami Street) tĩnh lặng ngay sát vách Khổng Miếu Đài Bắc thuộc quận Đại Đồng, Bảo An Cung Đại Long Động hiện ra với vẻ trầm mặc cổ kính của những tảng đá xanh Đồng An và đá núi Quan Âm nhuốm màu thời gian hơn hai thế kỷ. Bước qua khoảng sân rộng dưới bóng mái Tam Xuyên Điện cong vút gắn gốm Giao Chỉ và mảnh sứ cắt màu rực rỡ, quý vị sẽ bắt gặp đôi sư tử đá cả con đực lẫn con cái đều há miệng cười hiền hậu, cùng cặp cột đá bát giác chạm rồng uốn lượn từ năm Gia Khánh thứ 9 (1804) dẫn vào tòa Chính điện thơm dịu mùi gỗ sam và trầm hương.

Khởi thủy từ một ngôi miếu gỗ nhỏ dựng năm Càn Long thứ 7 (1742) và được đại kiến thiết suốt hai mươi lăm năm từ năm Gia Khánh thứ 9 (1804) tới năm Đạo Quang thứ 10 (1830) bởi cộng đồng di dân huyện Đồng An (phủ Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến), ngôi đền mang tên Bảo An Cung với ước nguyện bảo hộ người quê hương Đồng An luôn được bình an nơi đất mới. Cùng với Chùa Long Sơn Mạnh Giáp và Chùa Tổ Sư Thanh Thủy, nơi đây hợp thành Đài Bắc tam đại miếu môn (ba ngôi đền chùa danh giá nhất của thành phố Đài Bắc) và là công trình tôn giáo tiêu biểu của Đài Loan được trao Giải thưởng Danh dự về Bảo tồn Di sản Văn hóa Châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO năm 2003 trước khi thăng hạng Di tích Quốc định năm 2018.

Bảo An Cung Đại Long Động, Đài Bắc
Bảo An Cung Đại Long Động, Đài Bắc. Ảnh: Daniel Aguilera Sánchez, giấy phép CC BY-SA 2.0, nguồn Wikimedia Commons.

IThần Y Bảo Sinh Đại Đế (Ngô Bản) Và Cội Nguồn Di Dân Huyện Đồng An

Vùng đất Đại Long Động (大龍峒, âm tiếng Phúc Kiến đọc là Tōa-lông-pōng) ở phía bắc thành phố Đài Bắc vốn là địa bàn cư trú cổ xưa của tộc người bản địa Ketagalan với tên gọi Paronpon, ban đầu được người Hán phiên âm thành Đại Lãng Bơm (大浪泵). Sang giữa thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, những di dân từ huyện Đồng An (同安縣, thuộc phủ Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, nay thuộc thành phố Hạ Môn và Chương Châu) sau khi sang Đài Loan đã tập trung khai khẩn dải đất màu mỡ nằm gần nơi hợp lưu của sông Cơ Long và sông Đạm Thủy này. Vì phía đông khu đất có ngọn núi Đại Đồn và núi Viên Sơn uốn lượn như mình rồng lớn, các bậc nho sĩ địa phương đã đổi tên chữ Hán từ Đại Lãng Bơm thành Đại Long Động (Động Rồng Lớn), gửi gắm kỳ vọng mảnh đất linh kiệt sẽ sản sinh nhiều bậc long phụng khoa bảng.

Khi mới sang mở đất giữa vùng đầm lầy nóng ẩm ven sông Đạm Thủy, cư dân Đồng An thường xuyên phải đối mặt với dịch bệnh sốt rét và chướng khí hoành hành trong khi thiếu thầy thiếu thuốc. Vì vậy, vào năm Càn Long thứ 7 (1742), các bậc bô lão đã vượt eo biển Đài Loan trở về quê hương ở thôn Bạch Tiêu, huyện Đồng An để cung thỉnh phân linh Bảo Sinh Đại Đế từ tổ miếu Bạch Tiêu Từ Tế Cung (白礁慈濟宮) sang lập ngôi miếu gỗ thờ phụng. Kể từ khi rước thần y về trấn giữ, dịch bệnh trong vùng dần lắng dịu, nhân đinh và buôn bán ngày một hưng vượng.

Theo giáo nghĩa

Trong hệ thống thần điện của Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian vùng Mân Nam (Phúc Kiến và Đài Loan), Bảo Sinh Đại Đế (保生大帝, nhân dân quen gọi một cách gần gũi là Đại Đạo Công 大道公 hoặc Ngô Chân Nhân) là vị thần bảo hộ tối cao về y dược, sức khỏe và trừ dịch lệ. Ngài vốn là một danh y có thật trong lịch sử thời Bắc Tống tên là Ngô Bản (吳夲, chữ Bản viết là 夲 đọc âm Hán Việt là Thao hoặc Bản), sinh ngày 15 tháng 3 âm lịch năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 4 (979) tại thôn Bạch Tiêu, hương Tích Thiện, huyện Đồng An, phủ Tuyền Châu. Từ thuở thiếu thời, ông đã nổi tiếng thông tuệ, ăn chay trường, không màng danh lợi quan trường mà chuyên tâm nghiên cứu y lý kỳ thư, thuật châm cứu, bốc thuốc thảo dược và phép tu luyện nội đan Đạo giáo.

Theo sử sách địa phương và Từ Tế Cung Bi của Dương Chí thời Nam Tống, sinh thời danh y Ngô Bản chữa bệnh không phân biệt sang hèn giàu nghèo, chỉ cần chẩn mạch và châm một mũi kim hoặc kê vài vị thuốc nam giản dị là cứu sống người bệnh hiểm nghèo. Năm Cảnh Hựu thứ 3 (1036), khi đang trèo lên vách đá cheo leo trên núi Thanh Tiêu để tìm hái thuốc quý cứu bệnh nhân, ông không may trượt chân rơi xuống vực sâu và hóa tiên vào ngày mồng 2 tháng 5 âm lịch, hưởng dương 58 tuổi. Lòng biết ơn của bá tánh đã lập đền thờ ông ngay tại quê nhà Bạch Tiêu và Thanh Tiêu. Trải qua các triều Tống, Nguyên, Minh, ông liên tục được triều đình sắc phong: vua Tống Cao Tông ban hiệu Đại Đạo Chân Nhân, và tới thời vua Minh Nhân Tông (năm Hồng Hy nguyên niên, 1425) sau khi truyền thuyết kể rằng thần linh Ngô Bản đã hiển hóa chữa khỏi chứng sưng vú hiểm nghèo cho Văn Hoàng hậu (vợ vua Minh Thành Tổ), triều đình đã sắc phong tước hiệu cao quý nhất là Ân Chủ Hạo Thiên Kim Khuyết Ngự Sử Từ Tế Y Linh Diệu Đạo Chân Quân Vạn Thọ Vô Cương Bảo Sinh Đại Đế.

Theo sử liệu

Tại Chính điện của Bảo An Cung Đại Long Động, có tới ba pho tượng Bảo Sinh Đại Đế cổ kính gắn liền với lịch sử di cư của người Đồng An gồm tượng Lão Tổ (tượng Khai cơ thỉnh từ Bạch Tiêu sang từ thời Càn Long, vận chuyển qua cửa sông Đạm Thủy), tượng Nhị Tổ và tượng Tam Tổ (tượng Trấn điện kích thước lớn đặt ở chính giữa ngai thờ, chế tác theo lối nhuyễn thân thần tượng có các khớp tay chân bằng gỗ nối linh hoạt để mặc triều phục). Hầu cận hai bên tả hữu thần khám Bảo Sinh Đại Đế là bốn vị Hộ pháp Nguyên soái gồm Ôn Nguyên soái, Cao Nguyên soái ở bên trái và Khang Nguyên soái, Triệu Nguyên soái ở bên phải, cùng Ba mươi sáu vị Quan tướng (Tam thập lục quan tướng) do danh tượng phái Tuyền Châu là Hứa Nghiêm (許嚴) chạm gỗ kết hợp kỹ thuật đắp chỉ sơn (tất tuyến mộc điêu) từ năm Đạo Quang thứ 9 (1829).

Không gian phối thờ ở các điện phụ của Bảo An Cung thể hiện trọn vẹn bức tranh Tam giáo đồng nguyên và tín ngưỡng nông nghiệp, y dược cổ truyền. Tại Lầu Chuông bên đông phối thờ Thiên Thượng Thánh Mẫu (Mazu), Phúc Đức Chính Thần và Hổ Gia, còn tại Lầu Trống bên tây phối thờ Chú Sinh Nương Nương (vị nữ thần bảo hộ thai sản), Trì Đầu Phu Nhân và Thập Nhị Bà Thư (mười hai bà mụ chăm sóc trẻ nhỏ). Bước ra Hậu điện (Thần Nông Điện), chính giữa phụng thờ Thần Nông Đại Đế (Ngũ Cốc Tiên Đế, vị thủy tổ nghề nông và nghề thuốc bắc với tạo hình cổ sơ mình trần quấn váy lá cây, tay cầm bó lúa mạch), hai bên phối thờ Đức Khổng Tử, Quan Thánh Đế Quân, Huyền Thiên Thượng Đế và Bảo Ân Đường. Tới cuối thế kỷ 20, tòa lầu bốn tầng phía sau Hậu điện được xây thêm để thiết lập Đại Hùng Bảo Điện ở tầng 3 (thờ Tam Bảo Phật cùng Văn Thù, Phổ Hiền) và Linh Tiêu Bảo Điện ở tầng 4 (thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Tam Quan Đại Đế, Đẩu Mẫu Nguyên Quân và Thái Tuế Tinh Quân).

Chỗ hay hiểu lầm

Một di sản y học dân gian đặc sắc được lưu giữ tại Bảo An Cung là bộ Dược thiêm (藥籤, thẻ xâm thuốc) cổ truyền của Bảo Sinh Đại Đế gồm 120 phương thuốc Nội khoa, 26 phương thuốc Nhi khoa và 36 phương thuốc Ngoại khoa, tổng cộng 182 bài thuốc rút ra từ các bộ y thư kinh điển như Thương Hàn Luận, Kim Quỹ Yếu Lược của Trương Trọng Cảnh, Tế Sinh Phương và Tiểu Nhi Dược Chứng Trực Quyết. Trong các năm 1995 và 1996, Ban quản trị Bảo An Cung đã mời giáo sư Lỗ Triệu Lân của Đại học Trung Y Dược Bắc Kinh khảo đính từng phương thuốc trong bộ Dược thiêm để biên chú rõ nguồn gốc, công dụng và triệu chứng tương ứng, đồng thời chủ động loại bỏ khỏi thẻ xâm những vị thuốc có nguồn gốc từ động vật hoang dã quý hiếm nhằm hưởng ứng công ước bảo tồn thiên nhiên quốc tế.

IIHơn Hai Trăm Tám Mươi Năm Lịch Sử Và Cuộc Đại Trùng Tu Được UNESCO Vinh Danh

Lịch sử của Bảo An Cung Đại Long Động gắn liền với sự hình thành phố cổ Tứ Thập Tứ Khảm, cuộc thi tài chạm khắc đối tràng năm 1917 và đặc biệt là công cuộc trùng tu khoa học kéo dài bảy năm (1995 tới 2002) đã đưa ngôi đền trở thành hình mẫu bảo tồn di sản của toàn khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

  • 1742Khởi dựng ngôi miếu gỗ thờ Bảo Sinh Đại Đế tại Đại Lãng Bơm
    Năm Càn Long thứ 7 (1742), di dân huyện Đồng An (phủ Tuyền Châu, Phúc Kiến) rước hương hỏa phân linh Bảo Sinh Đại Đế từ tổ miếu Bạch Tiêu Từ Tế Cung sang vùng Đại Lãng Bơm (Đại Long Động) dựng ngôi miếu gỗ ban đầu để cầu bình an và trừ dịch bệnh.
  • 1802 - 1830Lập phố Tứ Thập Tứ Khảm và đại kiến thiết Bảo An Cung bằng đá - gỗ
    Năm Gia Khánh thứ 7 (1802), phú thương Vương Trí Ký cùng 21 hộ gia đình xây dãy phố buôn 44 cửa hiệu gọi là Tứ Thập Tứ Khảm. Năm Gia Khánh thứ 9 và thứ 10 (1804 tới 1805), thương dân phát động quyên góp khởi công xây dựng Bảo An Cung quy mô tam điện tứ hợp viện ở đầu phía đông phố, chạm đôi cột rồng đá năm 1804 và hoàn thành toàn bộ vào năm Đạo Quang thứ 10 (1830).
  • 1868 - 1873 và 1888Hai đợt trùng tu lớn thời Đồng Trị và Quang Tự
    Từ năm Đồng Trị thứ 7 tới thứ 12 (1868 tới 1873), trụ trì Trí Thanh pháp sư cùng các thân hào Trần Duy Tinh, Thái Phi Cơ tổ chức đại tu lần thứ nhất. Năm Quang Tự thứ 14 (1888), thân hào Trương Quốc Du quyên tiền tu bổ mái và kết cấu gỗ.
  • 1917 - 1919Đại trùng tu Đối tràng giữa hai danh sư Trần Ứng Bân và Quách Tháp
    Thân hào Thẩm Trư, Trịnh Vạn Dật vận động quyên góp 32.000 yên trùng tu toàn diện, mời hai đại mộc sư Trần Ứng Bân (phái Chương Châu) và Quách Tháp (phái Tuyền Châu) chia đôi trục đông tây thi tài chạm khắc đối tràng (đối tràng tác), đồng thời tổ chức thi câu đối toàn đảo Đài Loan để khắc lên cột đá.
  • 1966 - 1973Giải tỏa các hộ cư ngụ tạm và danh họa Phan Lệ Thủy vẽ bích họa Chính điện
    Sau khi vận động di dời hơn 200 hộ gia đình cư ngụ tạm trong khuôn viên miếu sau Thế chiến thứ hai vào năm 1966, nhà đền tiến hành chỉnh trang và năm 1973 mời đại sư hội họa truyền thống Phan Lệ Thủy (1914 tới 1995) vẽ bảy bức bích họa lớn trên tường hành lang Chính điện cùng tranh Môn thần.
  • 1985 và 1995 - 2002Xếp hạng Di tích cấp 2 và 7 năm trùng tu khoa học tự túc kinh phí
    Được công nhận là Di tích cấp 2 năm 1985, từ năm 1995 tới 2002 Ban quản trị Bảo An Cung tự huy động 260 triệu Đài tệ tiến hành đại trùng tu theo nguyên tắc sửa cũ như cũ, kết hợp kỹ thuật vôi gạo nếp truyền thống với kiểm định khoa học hiện đại.
  • 2003 và 12/11/2018Nhận Giải thưởng Bảo tồn Di sản UNESCO và thăng hạng Di tích Quốc định
    Năm 2003, UNESCO trao tặng Bảo An Cung Giải thưởng Danh dự về Bảo tồn Di sản Văn hóa Châu Á - Thái Bình Dương. Ngày 12 tháng 11 năm 2018, Bộ Văn hóa chính thức nâng cấp Bảo An Cung Đại Long Động lên bậc Di tích Quốc định của Đài Loan.
Theo sử liệu

Trong lịch sử bảo tồn kiến trúc cổ tại Đài Loan, cuộc đại trùng tu Bảo An Cung từ năm 1995 tới năm 2002 được giới học giả đánh giá là một kỳ tích hiếm có. Thay vì trông chờ ngân sách nhà nước hoặc giao phó cho các nhà thầu xây dựng thông thường vốn hay dùng xi-măng và sơn tổng hợp làm hỏng di tích, Ban quản trị Bảo An Cung dưới sự điều hành trực tiếp của Phó Chủ tịch (sau là Chủ tịch) Liệu Vũ Trị (廖武治) đã tự xuất quỹ 260 triệu Đài tệ do tín chúng đóng góp để chủ trì công trình. Khi phát hiện một nửa hệ thống rường cột Tam Xuyên Điện bị mối ăn rỗng từ bên trong, nhà đền đã mời chuyên gia Nhật Bản sang thiết lập hệ thống lá chắn diệt mối sinh học lần đầu tiên áp dụng tại Đài Loan.

Để giữ đúng nguyên tắc chỉnh cựu như cựu (sửa cũ như cũ), đoàn công tác của đền đã trực tiếp sang Phúc Kiến tìm mua gỗ sam Phúc Châu tự nhiên, đá xanh Tuyền Châu và gạch đỏ Tấn Giang, đồng thời yêu cầu các nghệ nhân phục chế phù điêu trên mái dùng vữa vôi trộn cháo gạo nếp và mật đường đen cổ truyền thay vì keo hóa học hay mảnh nhựa hiện đại. Toàn bộ đường dây điện, ống nước, điều hòa và hệ thống báo cháy đều được hạ ngầm dưới nền đá để không một sợi dây cáp nào làm vướng tầm mắt trước các bức chạm cổ. Chính sự nghiêm cẩn ấy đã thuyết phục hội đồng giám khảo UNESCO trao Giải thưởng Bảo tồn Di sản Văn hóa Châu Á - Thái Bình Dương năm 2003 cho Bảo An Cung.

IIINghệ Thuật Chạm Gỗ Đối Tràng Trần Ứng Bân - Quách Tháp Và Bích Họa Phan Lệ Thủy

Tổng thể Bảo An Cung Đại Long Động rộng hơn 3.000 bình (khoảng 10.000 mét vuông tính cả vườn cảnh phía trước), được quy hoạch theo bố cục tam điện hồi tự hình (ba lớp điện chính gồm Tam Xuyên Điện, Chính điện và Hậu điện nối liền với hai dãy Đông Tây hộ thất tạo thành hình chữ Hồi 回 vuông vức, phía sau có thêm tòa lầu bốn tầng Hậu sơn). Điểm khác biệt dễ nhận thấy về vật liệu của Bảo An Cung so với các ngôi đền thế kỷ 18 là việc sử dụng kết hợp đá xanh huyện Đồng An (Phúc Kiến) với đá núi Quan Âm khai thác ngay tại miền Bắc Đài Loan, tạo nên sắc độ xám xanh trầm tĩnh và cổ phác.

Tinh hoa kiến trúc hấp dẫn nhất của Bảo An Cung nằm ở nghệ thuật Đối tràng tác (對場作, hai toán thợ đứng đầu hai trường phái chia đôi công trình theo trục bắc nam để thi tài chạm khắc đối xứng) diễn ra trong đợt đại trùng tu năm 1917 tới 1919. Toàn bộ nửa phía đông (bên trái từ trong nhìn ra, tức vế Thanh Long) do đại mộc sư trường phái Chương Châu là Trần Ứng Bân (陳應彬, 1864 tới 1944) đảm trách, còn toàn bộ nửa phía tây (bên phải từ trong nhìn ra, tức vế Bạch Hổ) do mộc sư trường phái Tuyền Châu là Quách Tháp (郭塔) chỉ huy. Từ hệ đấu củng, con sơn, bức chạm gỗ trên xà ngang Tam Xuyên Điện cho tới hình dáng cột trụ của Lầu Chuông và Lầu Trống, hai bên Đông và Tây đều có kích thước tổng thể ăn khớp nhau nhưng chi tiết chạm trổ lại biến hóa hoàn toàn khác biệt để phân tài cao thấp.

Tam Xuyên Điện 11 gian, cặp sư tử đá há miệng và cột rồng năm 1804

Tòa tiền điện gồm 5 gian Tam Xuyên Điện ở giữa nối với hai cổng Long Hổ Môn mỗi bên 3 gian, tạo thành mặt tiền rộng tới 11 gian. Trước cửa trung tâm đặt đôi sư tử đá khắc năm Gia Khánh thứ 9 (1804) có điểm lạ là cả sư tử đực lẫn sư tử cái đều há miệng (nhân dân gọi là sư tử nhân từ không giữ của riêng), cùng đôi cột đá bát giác chạm rồng lượn từ trên xuống dưới khắc niên hiệu Gia Khánh nguyên niên (1804), tác phẩm thạch điêu sớm nhất còn lưu giữ tại đền.

Dấu ấn Đối tràng Đông - Tây giữa Trần Ứng Bân và Quách Tháp

Đứng dưới hiên Tam Xuyên Điện và sân trong nhìn lên, khách sẽ thấy nửa phía đông của Trần Ứng Bân và nửa phía tây của Quách Tháp có số tầng đấu củng và đề tài chạm gỗ khác hẳn nhau. Do Quách Tháp bị chấm kém thế hơn trong cuộc thi tài, ông đã bí mật khắc lên thanh xà gỗ phía tây hai câu chữ ẩn ý: Hảo công thủ bất bổ tiếp (Thợ giỏi thật sự không cần chắp vá gỗ) và Giả sư phá chân sư (Sư tử giả lại thắng sư tử thật) để bày tỏ nỗi niềm nghệ nhân.

Phù điêu Bát Tiên Đại Náo Đông Hải chỉ khắc ba chữ Náo Đông Hải

Một giai thoại đối tràng thú vị khác nằm trên bức chạm gỗ Bát Tiên dưới hiên Chính điện: theo thỏa thuận ban đầu, bên tây của Quách Tháp khắc ba chữ Náo Đông Hải và bên đông của Trần Ứng Bân sẽ khắc hai chữ Bát Tiên. Khi Quách Tháp hoàn thành trước và khắc xong chữ Náo Đông Hải, Trần Ứng Bân cho rằng tám vị tiên chạm nổi đã quá sống động không cần đề thêm chữ, nên để trống, khiến bức chạm tới nay chỉ còn lại đúng ba chữ Náo Đông Hải.

Chính điện mái trùng diêm, 36 vị Quan tướng của Hứa Nghiêm và gốm Giao Chỉ Hồng Khôn Phúc

Tòa Chính điện uy nghi với mái trùng diêm yết sơn lợp ngói ván đỏ kết hợp các mảng gốm Giao Chỉ (Kochi) đắp nổi tích truyện cổ trên tường Thủy Xa Đổ do đại sư Hồng Khôn Phúc chế tác đầu thế kỷ 20 (bên đông của Hồng Khôn Phúc và bên tây của học trò Trần Thiên Khất cũng làm theo lối đối tràng). Trong điện bảo lưu 36 pho tượng Quan tướng chạm gỗ đắp chỉ sơn tinh xảo từ năm Đạo Quang thứ 9 (1829) của nghệ nhân Hứa Nghiêm.

Bảy bức bích họa hành lang Chính điện của danh họa Phan Lệ Thủy (1973)

Trên bốn mặt tường bao quanh hành lang Chính điện là bảy bức bích họa khổng lồ do bậc thầy hội họa truyền thống Đài Loan Phan Lệ Thủy (1914 tới 1995) trực tiếp cầm cọ vẽ vào mùa xuân năm Quý Sửu (1973), gồm các tích: Hàn Sơn Thập Đắc, Chung Quỳ đón em gái về nhà mẹ, Hoa Mộc Lan thay cha tòng quân, Bát Tiên đại náo Đông Hải, Tam Anh chiến Lữ Bố, Chu Công định lễ nhạc và Hổ Khê tam tiếu.

Đôi lò đốt giấy chữ Tích Tự Lô và dấu tích Thụ Nhân Thư Viện

Trước sân Hậu điện đặt đôi lò gạch hình tháp lục giác dùng để hóa giấy có viết chữ Hán gọi là Tích Tự Lô (hoặc Tập Tự Lô). Đây là di vật phục nguyên gợi nhắc lịch sử năm Hàm Phong (giữa thế kỷ 19), khi bậc danh nho cử nhân Trần Duy Anh (陳維英) từng mở Thụ Nhân Thư Viện ngay trong khuôn viên Bảo An Cung để dạy học trò vùng Đại Long Động biết kính trọng chữ nghĩa thánh hiền.

Trong số các tác phẩm hội họa của đại sư Phan Lệ Thủy tại Bảo An Cung, bức bích họa Hàn Sơn Thập Đắc (vẽ hai vị thiền tăng Hàn Sơn và Thập Đắc tươi cười phóng khoáng ở mảng tường chính giữa phía sau Chính điện) cùng bốn cặp tranh Môn thần (Thần Đồ - Uất Lũy, Tần Thúc Bảo - Uất Trì Cung, cùng các vị thái giám và cung nữ hầu lễ) trên cánh cửa gỗ Tam Xuyên Điện được giới mỹ thuật tôn vinh là đỉnh cao nhất trong sự nghiệp của ông. Quý vị muốn đối chiếu thêm với truyền thống đền miếu thờ Bảo Sinh Đại Đế và Thiên Hậu Thánh Mẫu của người Mân Nam có thể xem bài viết về Cung Thiên Hậu Lộc Cảng tại Chương Hóa hoặc Hội quán Ôn Lăng của người phủ Tuyền Châu tại Thành phố Hồ Chí Minh.

IVThế Đất Và Hướng

Các ngôi đền Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian Mân Nam của di dân Tuyền Châu, Chương Châu trên đảo Đài Loan luôn coi việc tầm long điểm huyệt, lập hướng thu thủy là bước tiên quyết khi khởi dựng công trình. Bản thân địa danh Đại Long Động (Động Rồng Lớn) đã xuất phát trực tiếp từ cách nhìn hình thế long mạch của các bậc tiền nhân huyện Đồng An đầu thế kỷ 19. Phần dưới đây phân tích thế đất thực địa của Bảo An Cung theo phép phong thủy cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét về đại cục sơn thủy và long mạch, Bảo An Cung tọa lạc tại tọa độ 25,07317 độ vĩ Bắc và 121,51556 độ kinh Đông, nằm ở cực bắc của vùng đồng bằng bồn địa Đài Bắc, ngay gần mũi đất giao hội giữa sông Cơ Long (Keelung River) chảy từ phía đông sang và sông Đạm Thủy (Tamsui River) chảy từ phía nam lên ở phía tây ngôi đền. Theo sử liệu địa phương vùng Đại Đồng, mạch núi từ dãy Đại Đồn Sơn và núi Viên Sơn (Yuanshan) ở phía đông bắc trườn xuống đồng bằng tạo thành hình thế một con rồng lớn (Đại Long) uốn mình tiến về phía ngã ba sông. Vị trí xây dựng Bảo An Cung và Khổng Miếu Đài Bắc nằm đúng vào phần đầu và ngực của mạch rồng ấy (tục gọi là Long đầu huyệt hoặc Long nhĩ huyệt), nơi hai dòng sông lớn hợp lưu tạo thành vòng đai ngọc đái thủy ôm bọc lấy cả vùng đất từ phía bắc sang phía tây.

Xét về sơn hướng và bố cục nội ngoại minh đường, toàn bộ ba lớp điện của Bảo An Cung được định vị theo thế tọa Bắc hướng Nam (chính xác là tọa Tý hướng Ngọ kiêm Quý Đinh, khoảng 182 độ chính Nam), lưng tựa vào tòa lầu bốn tầng Hậu sơn (Linh Tiêu Bảo Điện cao vút như ngọn hậu chẩm nhân tạo vững chắc ở phương Bắc Huyền Vũ), mặt nhìn thẳng ra phố Cáp Mật và khu vườn cảnh rộng hơn 1.000 bình ở phía nam. Trong khu vườn phía nam (ngoại minh đường), vào thập niên 1960 Ban quản trị đã cho kiến tạo một hồ nước lớn có cầu chữ Vạn và tượng một con Kim Long (Rồng Vàng) dài uốn lượn phun nước giữa hồ, vừa tiếp nối ý tượng Đại Long Động, vừa đóng vai trò tụ thủy minh đường giúp dẫn thủy khí từ sông Đạm Thủy về nuôi dưỡng chân huyệt. Về Tả Thanh Long và Hữu Bạch Hổ, ngay sát bên trái (phía đông) của Bảo An Cung là quần thể Khổng Miếu Đài Bắc uy nghiêm làm hộ sa Thanh Long chủ về văn quý, còn phía trước mặt bên phải (tây nam) xưa kia là dãy phố cổ Tứ Thập Tứ Khảm sầm uất làm Bạch Hổ tụ tài, tạo nên cục diện văn trị và phúc trạch song toàn.

VLễ Hội Văn Hóa Bảo Sinh, Nghi Thức Phóng Hỏa Sư Và Pháp Hội Khiên Thủy Tạng

Nếu kiến trúc gỗ đá của Bảo An Cung là di sản vật thể cấp Quốc định, thì Lễ hội Văn hóa Bảo Sinh (Baosheng Cultural Festival) mừng ngày đản sinh của Bảo Sinh Đại Đế (15 tháng 3 âm lịch) lại được Bộ Văn hóa và Chính quyền thành phố Đài Bắc công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể (Tục tín ngưỡng dân gian) tiêu biểu từ năm 2021, giữ sống trọn vẹn những nghi thức cổ truyền của người Đồng An từ hơn hai thế kỷ trước.

Các kỳ đại lễ và nghi thức phi vật thể truyền thống hằng năm tại Bảo An Cung Đại Long Động. Nguồn: Ban quản trị Bảo An Cung Đại Long Động (baoan.org.tw) và Cục Văn hóa thành phố Đài Bắc..
Thời gian (Âm lịch)Tên lễ hội / Nghi thứcHoạt động và nghi tiết cổ truyền tiêu biểu
Mồng 5 tới 28 tháng 3 (Âm lịch)Hội hát Gia tính hí (Tự tính hí) trong Lễ hội Văn hóa Bảo SinhCác dòng họ lớn gốc huyện Đồng An (mở đầu bằng họ Trương và kết thúc bằng họ Ngô cùng họ với Bảo Sinh Đại Đế) luân phiên mỗi ngày một dòng họ mời các đoàn hát tuồng cổ (Kịch Ca Tử, Bắc Quản) về biểu diễn trước sân đền để tạ ơn thần linh.
Ngày 14 tháng 3 (Âm lịch)Đại lễ tuần du Lực Sĩ Hội và Nghi thức Phóng Hỏa Sư (Đốt Sư tử lửa)Ban ngày 11 hội kiệu cổ gọi là Lực Sĩ Hội cùng các đoàn nghệ thuật dân gian diễu hành khắp khu Đại Long Động và Đại Đạo Trình, tới tối 14/3 đốt hình nộm Sư tử lửa (Hỏa Sư) kết bằng khung tre, giấy bồi và hàng vạn quả pháo ong trước sân đền để xua đuổi dịch lệ và chướng khí.
Ngày 15 tháng 3 (Âm lịch)Đại lễ Tam Hiến kỷ niệm ngày đản sinh Bảo Sinh Đại ĐếCử hành nghi thức Tam Hiến Lễ cổ truyền cực kỳ trang nghiêm (Sơ hiến, Á hiến, Chung hiến, đọc Chúc văn và Vọng liệu) theo đúng quy chế lễ nhạc Nho - Đạo kết hợp.
Ngày 26 tháng 4 (Âm lịch)Lễ vía Thần Nông Đại Đế (Ngũ Cốc Tiên Đế)Rước kiệu Thần Nông Đại Đế và Bảo Sinh Đại Đế tuần du qua phố thuốc bắc Địch Hóa (Dihua Street), Đại Đạo Trình và Đại Long Động, cầu mưa thuận gió hòa và dược thảo linh nghiệm.
Ngày 11 tới 15 tháng 7 (Âm lịch)Pháp hội Vu Lan Trung Nguyên và Nghi thức Khiên Thủy Tạng (Khiên Tạng)Dựng cột đèn Thụ Đăng Cao cao 50 thước vào ngày 12/7, tới ngày 14/7 (vía Trì Đầu Phu Nhân) dựng 49 trụ tre xoay tròn dán giấy đỏ và trắng gọi là Thủy Tạng và Huyết Tạng để đạo sĩ làm lễ siêu độ cho những người tử nạn vì đuối nước hoặc sinh nở khó khăn.
Mồng 6 tới 12 tháng Chạp (Âm lịch)Pháp hội Lương Hoàng Bảo Sám cuối nămKhóa lễ tụng kinh Lương Hoàng Bảo Sám kéo dài bảy ngày đêm tại Đại Hùng Bảo Điện để tạ ơn thần Phật và cầu bình an cho năm mới.

Nghi thức Phóng Hỏa Sư (放火獅, đốt Sư tử lửa) diễn ra vào đêm 14 tháng 3 âm lịch trước sân Bảo An Cung là một cảnh tượng độc nhất vô nhị tại Đài Bắc: con sư tử lớn cao hơn hai mét được nghệ nhân bồi giấy truyền thống (chỉ hồ) Lý Thanh Vinh chế tác thủ công từ nan tre và giấy màu, bên trong cài hàng vạn ống pháo ong và pháo hoa. Vì khu vực Đại Long Động nằm ngay dưới đường bay hạ cánh của sân bay Tùng Sơn (Songshan Airport), mỗi năm trước khi châm lửa đốt Hỏa Sư vào buổi tối, Ban quản trị Bảo An Cung đều phải hiệp đồng trước với đài kiểm soát không lưu sân bay Tùng Sơn để điều chỉnh lịch bay trong vòng ba mươi phút, cho thấy sự trân trọng đặc biệt của thành phố Đài Bắc đối với phong tục trừ dịch cầu an có từ thời khai hoang.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
No. 61, Hami Street, Bao'an Village, Datong District, Taipei City 103, Taiwan (臺北市大同區保安里哈密街61號)
Đường tới
Tọa lạc tại số 61 phố Cáp Mật (Hami Street), quận Đại Đồng, thành phố Đài Bắc (ngay cạnh Khổng Miếu Đài Bắc). Quý vị đi tàu điện ngầm Đài Bắc (Taipei Metro) tuyến Đạm Thủy - Tín Nghĩa (Tamsui-Xinyi Line, màu đỏ) tới ga Viên Sơn (Yuanshan Station, R14), ra cửa số 2 rồi đi bộ dọc theo ngõ 96 đường Khulun (Kulun Street) sang phố Cáp Mật khoảng 8 tới 10 phút là tới trước cổng đền.
Toạ độ
25.07317, 121.51556
Khi tới nơi

Khi tới viếng Bảo An Cung Đại Long Động, quý vị đi vào qua cửa bên phải của Tam Xuyên Điện (Long Môn ở phía đông, nhìn từ ngoài vào là bên tay phải) và đi ra qua cửa bên trái (Hổ Môn ở phía tây). Khi chiêm ngưỡng bảy bức bích họa của danh họa Phan Lệ Thủy dọc hành lang Chính điện cũng như các bức chạm gỗ đối tràng của Trần Ứng Bân và Quách Tháp, quý vị lưu ý không dùng tay chạm trực tiếp lên bề mặt màu vẽ hoặc gỗ chạm cổ, đồng thời không bật đèn flash máy ảnh chiếu thẳng vào tranh tường để bảo vệ lớp màu khoáng tự nhiên.

Những nơi gần đây trong thư viện

Chùa Long Sơn Mạnh GiápĐài Bắc · Ngôi cổ tự danh tiếng bậc nhất Đài Bắc do di dân ba huyện Tấn Giang, Nam An, Huệ An (phủ Tuyền Châu, Phúc Kiến) khởi dựng năm Càn Long thứ 3 (1738) để phụng thờ Quan Thế Âm Bồ Tát phân linh từ tổ đình Long Sơn Tự An Hải, nổi bật với kiến trúc tam tiến tứ hợp viện của đại mộc sư Vương Ích Thuận (1919 tới 1924), đôi cột đồng chạm rồng đúc năm 1920 và hệ thống phối thờ dung hợp Phật giáo với Thiên Hậu Thánh Mẫu, Văn Xương Đế Quân, Quan Thánh Đế Quân cùng Nguyệt Lão.Cung Thiên Hậu Lộc Cảng, Chương HóaChương Hóa · Trung tâm tín ngưỡng Thiên Thượng Thánh Mẫu (Ma Tổ - Lâm Mặc Nương) cổ kính bậc nhất Đài Loan tại thương cảng cổ Lộc Cảng (huyện Chương Hóa), khởi thủy từ năm 1591, đón tôn tượng Mi Châu Khai Cơ Nhị Ma Tổ (Hắc Diện Ma) do Thủy sư Đề đốc Thi Lang và tướng Lam Lý thỉnh từ tổ miếu đảo Mi Châu năm 1683, rồi dời về vị trí hiện nay năm 1725 trên đất hiến của Thi Thế Bảng.Khổng Miếu Đài NamĐài Nam · Văn miếu Nho giáo và trường đại học công lập đầu tiên trên đảo Đài Loan (mệnh danh Toàn Đài Thủ Học), khởi dựng năm 1665 (năm Vĩnh Lịch thứ 19 nhà Nam Minh) tại phủ Thừa Thiên (nay là quận Trung Tây, thành phố Đài Nam) dưới thời Trịnh Kinh theo kiến nghị của Tham quân Trần Vĩnh Hoa.

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Bảo An Cung Đại Long Động, Đài Bắc

Contribute photos, information or video for Dalongdong Baoan Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Bảo An Cung Đại Long Động thờ vị thần nào làm chính và tên gọi Bảo An có nghĩa là gì?

Bảo An Cung thờ chính Đức Bảo Sinh Đại Đế (dân gian gọi là Đại Đạo Công), tức danh y Ngô Bản (979 tới 1036) thời Bắc Tống quê ở huyện Đồng An, phủ Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến. Tên gọi Bảo An Cung do những người di cư từ huyện Đồng An đặt khi khởi dựng đền, mang ý nghĩa Bảo hộ người quê hương Đồng An luôn được bình an và khỏe mạnh.

Nghệ thuật chạm khắc Đối tràng (Đối tràng tác) tại Bảo An Cung có gì đặc biệt?

Trong đợt đại trùng tu năm 1917 tới 1919, nhà đền đã mời hai đại mộc sư danh tiếng là Trần Ứng Bân (trường phái Chương Châu) và Quách Tháp (trường phái Tuyền Châu) chia đôi trục trung tâm để thi tài chạm khắc đối xứng: Trần Ứng Bân làm nửa phía đông và Quách Tháp làm nửa phía tây. Nhờ đó, du khách đứng ở sân đền có thể so sánh trực tiếp hai phong cách đấu củng, chạm rồng và phù điêu gỗ khác nhau trên cùng một tòa điện.

Vì sao Bảo An Cung được UNESCO trao giải thưởng bảo tồn di sản vào năm 2003?

Từ năm 1995 tới 2002, Ban quản trị Bảo An Cung đã tự huy động 260 triệu Đài tệ kinh phí dân gian để tiến hành cuộc trùng tu toàn diện theo nguyên tắc sửa cũ như cũ: dùng gỗ sam Phúc Châu, đá xanh Tuyền Châu và vữa vôi gạo nếp đường đen truyền thống kết hợp kiểm định khoa học hiện đại và hạ ngầm toàn bộ điện nước. Công trình đã được trao Giải thưởng Danh dự Bảo tồn Di sản Văn hóa Châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO năm 2003.

Ai là tác giả của những bức bích họa nổi tiếng trên tường hành lang Chính điện?

Bảy bức bích họa lớn trên tường hành lang Chính điện cùng các bức vẽ Môn thần ở Tam Xuyên Điện được vẽ vào năm 1973 bởi đại sư hội họa truyền thống hàng đầu Đài Loan là Phan Lệ Thủy (1914 tới 1995). Các tác phẩm nổi tiếng nhất tại đây gồm Hàn Sơn Thập Đắc, Hoa Mộc Lan thay cha tòng quân, Chung Quỳ đón em gái và Bát Tiên đại náo Đông Hải.

Nghi thức Phóng Hỏa Sư (đốt Sư tử lửa) tại Bảo An Cung diễn ra vào dịp nào?

Nghi thức Phóng Hỏa Sư diễn ra vào tối ngày 14 tháng 3 âm lịch hằng năm (đêm trước ngày vía Bảo Sinh Đại Đế 15 tháng 3 âm lịch) trong khuôn khổ Lễ hội Văn hóa Bảo Sinh. Một hình nộm Sư tử lửa lớn làm bằng khung tre, giấy bồi và hàng vạn quả pháo ong được đốt sáng rực trước sân đền để cầu tiêu trừ dịch bệnh và đem lại bình an cho cộng đồng.

›Đọc Tiếp