Đi dọc theo con phố cổ Trung Sơn nhộn nhịp hương vị bánh ngọt truyền thống và mùi trầm hương của trấn Lộc Cảng (huyện Chương Hóa), quý vị sẽ bước tới quảng trường rộng lớn mở ra dưới cổng tam quan năm nhịp đồ sộ của Cung Thiên Hậu Lộc Cảng. Tiến qua cửa Ao Thọ (凹壽, cửa chính lùi sâu vào trong tạo khoảng hiên đón gió) của Tam Xuyên Điện và ngước mắt nhìn lên vòm trần, bất cứ ai cũng phải sững sờ trước chiếc lồng tảo tỉnh bát quái hai tầng kết từ hàng trăm thanh đấu củng gỗ mộng khít khao không dùng đinh sắt, nơi những pho tượng Bát Tiên và Tứ Ái bằng gỗ chạm lộng như đang bay lượn giữa tầng không.
Trong câu ngạn ngữ lịch sử Nhất Phủ, nhị Lộc, tam Mạnh Giáp (thứ nhất là phủ thành Đài Nam, thứ nhì là thương cảng Lộc Cảng, thứ ba là bến thuyền Mạnh Giáp ở Đài Bắc), Lộc Cảng từng là cửa ngõ giao thương đường biển sầm uất bậc nhất miền Trung Đài Loan suốt thế kỷ 18 và 19. Đứng ở vị trí trái tim tâm linh của thương cảng ấy suốt hơn bốn trăm năm qua chính là Cung Thiên Hậu Lộc Cảng, ngôi đền duy nhất tại Đài Loan và trên thế giới còn lưu giữ được pho tượng Mi Châu Khai Cơ Nhị Ma Tổ (tượng Ma Tổ mặt đen) thỉnh trực tiếp từ tổ miếu đảo Mi Châu từ năm Khang Hy thứ 22 (1683), đồng thời là bảo tàng sống động của nghệ thuật kiến trúc mộc thần Vương Ích Thuận, Ngô Hải Đồng và thạch điêu họ Tưởng.

ITín Ngưỡng Thiên Thượng Thánh Mẫu Và Bảo Tượng Mi Châu Khai Cơ Nhị Ma Tổ
Trong tâm thức của những thế hệ cư dân Phúc Kiến và Quảng Đông vượt eo biển Đài Loan đầy sóng dữ (xưa gọi là Hắc Thủy Câu, rãnh nước đen hiểm trở với câu truyền miệng mười người đi thì sáu người chết, ba người ở lại, một người quay về), Thiên Thượng Thánh Mẫu (天上聖母, nhân dân tôn gọi một cách thân thương là Ma Tổ 媽祖 hay Ma Tổ Bà) là vị nữ thần từ bi tối thượng che chở cho tàu thuyền vượt biển bình an. Theo sử sách và Thiên Phi Hiển Thánh Lục, nguyên mẫu lịch sử của Thánh Mẫu là người con gái thứ sáu của ông Lâm Nguyện tên là Lâm Mặc (林默, tục gọi là Lâm Mặc Nương vì lúc mới sinh ra suốt một tháng không hề khóc), sinh ngày 23 tháng 3 âm lịch năm Kiến Long nguyên niên triều Bắc Tống (960) tại đảo Mi Châu (湄洲嶼), huyện Phổ Điền, phủ Hưng Hóa, tỉnh Phúc Kiến.
Sinh thời, nàng Lâm Mặc tinh thông thiên văn, khí tượng biển và y lý, thường mặc áo đỏ đứng trên bờ đảo dẫn đường cho thuyền đánh cá vượt qua bão tố, tới ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch năm Ung Hy thứ 4 (987) thì hóa tiên trên đỉnh núi đảo Mi Châu ở tuổi 28. Qua các triều Tống, Nguyên, Minh, Thanh, bà liên tục được hoàng triều sắc phong từ Thuận Tế Phu Nhân, Thiên Phi, Thiên Thượng Thánh Mẫu cho tới tước hiệu cao nhất là Thiên Hậu (天后, Hoàng hậu trên Trời, do vua Khang Hy sắc phong năm 1684). Năm 2009, Tín ngưỡng và tập tục Ma Tổ đã được UNESCO chính thức ghi danh vào Danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể Đại diện của Nhân loại.
Điểm làm nên vị thế độc tôn của Cung Thiên Hậu Lộc Cảng trong hàng nghìn ngôi đền thờ Ma Tổ thuộc hệ thống Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian Đài Loan chính là pho tượng Mi Châu Khai Cơ Nhị Ma Tổ (湄洲開基二媽) ngự tại khám thờ trung tâm của Chính điện. Theo tư liệu của nhà đền và Cục Di sản Văn hóa Đài Loan, tổ miếu Thiên Hậu Cung trên đảo Mi Châu (Phúc Kiến) thuở xưa vốn có sáu pho tượng Khai Cơ Ma Tổ cổ kính nhất. Vào năm Khang Hy thứ 22 (1683), khi Thủy sư Đề đốc Phúc Kiến là Tĩnh Hải Tướng quân Thi Lang (施琅, 1621 tới 1696) thống lĩnh hạm đội vượt biển sang Đài Loan, bộ tướng của ông là Du kích Lam Lý (藍理, người Chương Châu) cùng Tổng binh Ngô Anh, Lâm Hiền đã đích thân lên tổ miếu đảo Mi Châu cung thỉnh pho tượng Khai Cơ Nhị Ma Tổ rước lên chiến thuyền để hộ trì đoàn quân vượt sóng bình an.
Sang năm 1684, khi Thi Lang chuẩn bị rút quân trở về đại lục, người cháu tộc điệt của ông là danh sĩ Thi Thế Bảng (施世榜, người về sau đã bỏ tiền của đào con kênh thủy lợi vĩ đại Bát Bảo Tuấn dài hàng chục cây số tưới tiêu cho toàn bộ đồng bằng Chương Hóa từ năm 1709 tới 1719) cùng các bậc phụ lão và thương nhân vùng Lộc Cảng đã khẩn khoản xin Thi Lang cho phép lưu lại pho tượng Mi Châu Khai Cơ Nhị Ma Tổ tại ngôi miếu ở Lộc Cảng để bá tánh bốn phương phụng thờ. Do biến cố lịch sử giữa thế kỷ 20 khiến các pho tượng Khai Cơ còn lại ở tổ miếu Mi Châu và Ninh Ba bị hủy hoại hoặc thất lạc, pho tượng Nhị Ma Tổ tại Cung Thiên Hậu Lộc Cảng đã trở thành pho tượng Mi Châu Khai Cơ Ma Tổ cổ duy nhất còn tồn tại nguyên vẹn trên thế giới. Trải qua hơn ba trăm năm mươi năm đón nhận khói hương trầm quyện đặc của hàng triệu tín đồ, khuôn mặt hiền từ của pho tượng đã chuyển sang màu đen bóng uy nghiêm, vì vậy nhân dân khắp Đài Loan thành kính gọi ngài là Hắc Diện Ma (黑面媽, Mẹ Ma Tổ mặt đen) hay Hương Yên Ma, và gọi ngôi đền là Cựu Tổ Cung (舊祖宮) để khẳng định vị thế tổ đình lâu đời nhất tại Lộc Cảng.
Từ chiếc nôi Cựu Tổ Cung ở Lộc Cảng, hương hỏa phân linh của Đức Mi Châu Khai Cơ Ma Tổ đã lan tỏa ra hơn 2.000 ngôi đền và cung miếu trên khắp đảo Đài Loan cũng như hải ngoại, tiêu biểu như Thuận Thiên Cung ở Thổ Khố, Thiên Hậu Cung ở Kỳ Sơn, Hằng Cát Cung ở Phố Lý, Phúc Ninh Cung ở Viên Lâm, Tuệ Tụ Thiên Hậu Cung ở Côn Sơn (Giang Tô), cùng các phân cung tại Hirado (Nagasaki, Nhật Bản), Melbourne (Úc), bang Colorado (Hoa Kỳ) và Malaysia. Năm 2007, khi tổ miếu đảo Mi Châu tổ chức đại hội Thiên hạ Ma Tổ hồi nương gia quy tụ hơn 300 tôn tượng Ma Tổ từ hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ, pho tượng Khai Cơ Nhị Ma Tổ của Cung Thiên Hậu Lộc Cảng đã được suy tôn ngồi ở vị trí Thủ tọa (ngôi vị danh dự cao nhất) của đại lễ.
Ngoài tôn tượng Thiên Thượng Thánh Mẫu ở Chính điện cùng hai vị thần tướng hộ vệ là Thiên Lý Nhãn (mắt nhìn xa ngàn dặm) và Thuận Phong Nhĩ (tai nghe thấu theo gió), hệ thống phối thờ của Cung Thiên Hậu Lộc Cảng còn phản ánh trọn vẹn đời sống tâm linh của cư dân thương cảng cổ. Phía sau Chính điện là tòa Linh Tiêu Bảo Điện hai tầng nguy nga: tầng trên phụng thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Tam Quan Đại Đế, Văn Xương Đế Quân và Ngũ Đẩu Tinh Quân, còn tầng dưới phối thờ Quan Âm Bồ Tát, Chú Sinh Nương Nương và Nguyệt Hạ Lão Nhân. Đặc biệt, tại dãy hành lang bên phải (phía tây) có thiết lập Thi Diệu Đức Đường (施耀德堂, tức Lộc Vị Công Sảnh), nơi người dân Lộc Cảng phụng thờ bài vị trường sinh của ân nhân hiến đất xây đền là Thi Thế Bảng, Tổng lý trùng tu Vương Vạn Xuân cùng tòa sen của các vị hòa thượng trụ trì qua các thế kỷ (Trường Tính sư, Diệu Lai sư, Diệu Giang sư, Phổ Cầm sư và Tịnh Phương sư), thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn và truyền thống gắn bó giữa tăng đoàn Phật giáo với cung miếu Ma Tổ tại Đài Loan.
IIHơn Bốn Thế Kỷ Từ Thiên Phi Miếu Bến Thuyền Tới Quốc Định Cổ Tích
Hành trình lịch sử của Cung Thiên Hậu Lộc Cảng song hành cùng sự trỗi dậy của thương cảng Lộc Cảng và các thương hội Bát Giao, trải qua cuộc dời đền năm 1725 và cuộc đại trùng tu kéo dài một thập niên từ năm 1927 tới năm 1936.
- 1591Khởi dựng Lộc Cảng Thiên Phi Miếu tại bến Thuyền Tử ĐầuNăm Vạn Lịch thứ 19 nhà Minh (1591), ngư dân và thương thuyền giao thương giữa Lộc Cảng với bờ biển Phúc Kiến góp tiền dựng ngôi miếu nhỏ gọi là Lộc Cảng Thiên Phi Miếu (hay Bắc Đầu Thánh Mẫu Miếu) tại khu bến Thuyền Tử Đầu (nay là ngõ Tam Điều ở phía bắc đền hiện tại).
- 1683 - 1684Thủy sư Đề đốc Thi Lang và tướng Lam Lý rước tượng Ma Tổ Mi Châu sang Lộc CảngNăm Khang Hy thứ 22 (1683), Tĩnh Hải Tướng quân Thi Lang và bộ tướng Lam Lý cung thỉnh pho tượng Khai Cơ Nhị Ma Tổ từ tổ miếu đảo Mi Châu theo chiến thuyền sang Đài Loan. Năm 1684, theo lời thỉnh cầu của cháu ruột là Thi Thế Bảng và nhân dân địa phương, pho tượng được lưu lại phụng thờ vĩnh viễn tại Lộc Cảng.
- 1725Thân hào Thi Thế Bảng hiến đất dời đền về vị trí hiện nayNăm Ung Chính thứ 3 (1725), do nền miếu cũ ở bến thuyền chật hẹp, đại điền chủ Thi Thế Bảng đã hiến khu đất rộng ở vị trí hiện nay (số 430 đường Trung Sơn) để bá tánh quyên tiền xây dựng ngôi đền gạch ngói quy mô lớn, xoay cửa chính nhìn thẳng về hướng tổ miếu đảo Mi Châu.
- 1814 - 1815Tám thương hội lớn (Bát Giao) của Lộc Cảng hợp sức đại tuNăm Gia Khánh thứ 19 và 20 (1814 tới 1815), tám thương hội xuất nhập khẩu lớn nhất cảng Lộc Cảng (Tuyền giao, Hạ giao, Nam giao, Đường giao, Du giao, Cảm giao, Bố giao và Nhiễm giao) cùng góp tiền đại trùng tu đền và khắc tấm bia lịch sử Trùng Tu Lộc Khê Thánh Mẫu Cung.
- 1869 - 1875Trùng tu thời Đồng Trị do Tiến sĩ Thái Đức Phương khởi xướngNăm Đồng Trị thứ 8 (1869), Đồng tri Tôn Thọ Minh và vị Tiến sĩ người Lộc Cảng là Thái Đức Phương vận động các thương hội và chủ thuyền quyên tiền trùng tu toàn diện từ năm 1870 tới 1875.
- 1927 - 1936Đại kiến thiết bởi Vương Ích Thuận, Ngô Hải Đồng và Tưởng HinhSau khi lập Ban Cải Trúc Tổng Đại năm 1926 gồm 96 vị nhân sĩ do Cố Hiển Vinh và Trần Hoài Trừng đứng đầu, công cuộc đại kiến thiết diễn ra từ năm 1927 tới 1936 dưới bàn tay các đại sư mộc chạm Vương Ích Thuận, Vương Thụ Phát, Ngô Hải Đồng, thạch điêu Tưởng Hinh - Tưởng Hình Lai và danh họa Quách Tân Lâm, tạo nên kiệt tác kiến trúc hiện tồn.
- 1959 - 1970 và 1990Xây dựng Linh Tiêu Bảo Điện và thành lập Bảo tàng Văn vật Ma TổNhân kỷ niệm 1.000 năm ngày sinh Thiên Thượng Thánh Mẫu (1960), nhà đền khởi công xây dựng lại khu Hậu điện thành tòa Linh Tiêu Bảo Điện nguy nga, và tới năm 1990 chính thức mở Bảo tàng Văn vật Ma Tổ trưng bày hơn 6.000 cổ vật quý.
- 1985 và 01/10/2019Xếp hạng Di tích cấp 3 và thăng hạng Di tích Quốc định Đài LoanĐược xếp hạng Di tích lịch sử năm 1985, tới ngày 1 tháng 10 năm 2019 (công bố hồ sơ ngày 11 tháng 12 năm 2019), Bộ Văn hóa chính thức nâng cấp Cung Thiên Hậu Lộc Cảng lên bậc Di tích Quốc định của Đài Loan.
Đợt đại trùng tu kéo dài từ năm 1927 tới năm 1936 tại Cung Thiên Hậu Lộc Cảng đã để lại một câu phương ngôn dân gian thú vị lưu truyền khắp vùng Chương Hóa: Long Sơn Tự Quan Âm Ma khỉ hộ long, Ma Tổ khỉ bái đình (nghĩa là Đức Quan Âm ở chùa Long Sơn thì đứng tạm bên dãy hành lang hộ long, còn Đức Ma Tổ ở cung Thiên Hậu thì đứng tạm ngoài đình bái). Nguyên do là vào năm 1927, khi Cung Thiên Hậu bắt đầu tháo dỡ tòa Chính điện để xây mới, pho tượng Ma Tổ đã được rước ra an vị tạm tại gian Bái đình và Tam Xuyên Điện phía trước, và trùng hợp thay đúng thời điểm ấy, khu Hậu điện của Chùa Long Sơn Lộc Cảng cũng bị hỏa hoạn nên pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát phải dời sang thờ tạm ở dãy hộ long bên cạnh. Hai đại công trình tâm linh lớn nhất trấn Lộc Cảng cùng đồng loạt trùng tu trong một thập niên, quy tụ những nghệ nhân tài hoa nhất từ Tuyền Châu, Triều Châu và bản địa về tranh tài, biến cả thị trấn Lộc Cảng thành một công trường điêu khắc nghệ thuật rực rỡ.
IIIKiệt Tác Tảo Tỉnh Bát Quái Vương Ích Thuận, Chính Điện Ngô Hải Đồng Và Thạch Điêu Họ Tưởng
Cung Thiên Hậu Lộc Cảng được quy hoạch theo quy thức tam tiến, lưỡng lang, lưỡng hộ long (ba lớp điện chính gồm Tam Xuyên Điện, Chính điện và Hậu điện Linh Tiêu Bảo Điện, nối liền bởi hai dãy hành lang và bao bọc ở hai bên tả hữu bởi hai dãy nhà hộ long dài). Điểm đặc biệt hiếm thấy trong kiến trúc đền miếu Đài Loan là ngay từ tòa tiền điện (Tam Xuyên Điện rộng 5 gian), công trình đã sử dụng kiểu mái trùng diêm yết sơn (hai tầng mái chồng diêm có đầu hồi vát) vốn chỉ dành cho tòa chính điện bậc cao, tạo nên dáng vẻ uy nghi như một cung điện hoàng gia.
Giá trị kiến trúc vô giá của ngôi đền nằm ở sự phối hợp giữa hai trường phái đại mộc sư danh tiếng trong đợt trùng tu năm 1927 tới 1936: tòa Tam Xuyên Điện và hai hành lang Đông Tây do đại mộc sư phái Khê Đỉnh (Tuyền Châu) là Vương Ích Thuận (王益順, người trước đó đã thiết kế Chùa Long Sơn Mạnh Giáp ở Đài Bắc) vẽ đồ bản thiết kế và giao cho cháu ruột kiêm truyền nhân là Vương Thụ Phát (王樹發) trực tiếp cầm thước mực thi công, trong khi tòa Chính điện lại do đại mộc sư phái Triều Châu là Ngô Hải Đồng (吳海桐) thiết kế và chuẩn bị cấu kiện gỗ, sau đó được Vương Thụ Phát tiếp nối lắp dựng hoàn chỉnh. Nhờ vậy, khách thưởng ngoạn vừa được chiêm ngưỡng nét tinh xảo, quy củ của hệ đấu củng mắt lưới phái Tuyền Châu ở Tiền điện, vừa cảm nhận được vẻ cao rộng, khoáng đạt của kết cấu khung gỗ phái Triều Châu ở Chính điện.
Tòa tiền điện rộng 5 gian với cửa chính giữa lùi vào trong tạo thành thế Ao Thọ (凹壽) tụ khí, hai bên mở hai cổng hình bát giác. Dưới mái hiên trước là hệ thống võng mục đấu củng (đấu củng đan chéo hình mắt lưới như ý) đặc trưng của trường phái Khê Đỉnh do Vương Ích Thuận và Vương Thụ Phát chế tác.
Đặt ngay dưới mái gian trung tâm Tam Xuyên Điện, được tôn vinh là một trong những vòm tảo tỉnh gỗ đẹp nhất Đài Loan. Vòm trần chia làm hai tầng với 24 cụm đấu củng vươn ra theo hình bát giác hội tụ về tấm gương Đỉnh Tâm Minh Kính vẽ hình Thái Cực Bát Quái ở chính giữa. Bốn góc chạm nổi điển tích Tứ Ái (Chu Đôn Di yêu sen, Đào Uyên Minh yêu cúc, Lâm Hòa Tĩnh yêu mai hạc, Vương Hy Chi yêu ngỗng) cùng các trụ treo chạm Bát Tiên và Ngư Tiều Canh Độc của danh tượng Lý Tùng Lâm.
Toàn bộ các bức tường đá, cột rồng và phù điêu đá tại Tam Xuyên Điện cùng Chính điện đều do bậc thầy thạch điêu Huệ An là Tưởng Hinh (蔣馨) và con rể Tưởng Hình Lai (tức Tưởng Lai Vị) chạm khắc từ đá xanh Ngọc Xương Hồ và đá xanh lục Ấn Độ (Ấn Độ thạch). Nổi bật nhất là đôi cột rồng một rồng một phượng quấn cột ở Chính điện và bốn bức phù điêu đá chạm lộng tích Bác Cổ và Tứ Quý.
Tòa Chính điện nối liền với sân Bái đình có mái che, kết hợp thiết kế khung gỗ cao vút của Ngô Hải Đồng với bàn tay lắp dựng của Vương Thụ Phát. Các mảng chạm gỗ lộng nhiều lớp trên bức bình phong thần khám, lồng đèn gỗ và xà ngang do đại sư mộc điêu bản địa Lý Tùng Lâm (李松林) cùng các nghệ nhân Ngô Thanh Nhữ, Thi Kim Phúc chạm khắc tỉ mỉ từng sợi râu rồng và cánh hoa.
Các bức tranh màu trên cánh cửa gỗ, xà nhà và bức bích họa Bá Nha gảy đàn cho Tử Kỳ nghe (Bá Nha túng cầm) trong đền là tác phẩm để đời của danh họa Lộc Cảng Quách Tân Lâm (郭新林) và đại sư Kha Hoán Chương, xen kẽ cùng các bức thư pháp của các văn nhân lừng danh như Vương Lan Sinh, La Tú Huệ và Trịnh Hồng.
Trong đền hiện lưu giữ ba tấm hoành phi ngự bút quý giá của ba vị hoàng đế nhà Thanh ban tặng gồm: Thần Chiêu Hải Biểu (神昭海表, vua Ung Chính ban năm 1726), Hữu Tế Hậu Nhân (佑濟昭靈, vua Càn Long ban năm 1788) và Bác Hậu Cao Minh (薄海蒙庥, vua Quang Tự ban năm 1888), cùng hơn 6.000 hiện vật tại Bảo tàng Văn vật Ma Tổ, trong đó có hai bảo vật cổ đăng lục chính thức là Đôi chân nến hình người Hồ gánh nặng (Hồ nhân phụ trọng chúc đài) và chiếc Kiệu Phượng (Phượng liễn) chạm gỗ thếp vàng đầu thế kỷ 20.
Khi đứng dưới vòm Tảo tỉnh Bát quái ở Tam Xuyên Điện và nhìn xuống nền đá ngay chính giữa bên dưới đỉnh vòm, quý vị sẽ thấy một phiến đá chạm khắc hoa văn tinh xảo nằm đúng trên đường trục thần đạo nối với khám thờ Đức Thiên Thượng Thánh Mẫu. Các bậc nghệ nhân xưa thiết kế vòm tảo tỉnh bát quái phía trên và tâm điểm dưới đất tạo thành thế Thiên địa giao thái, nơi người hành hương đứng chắp tay khấn nguyện sẽ cảm nhận được âm thanh ngân vang trầm ấm vọng lại từ lồng gỗ bát giác phía trên đầu. Quý vị muốn đối chiếu thêm với kiệt tác tảo tỉnh khác của cùng đại mộc sư Vương Ích Thuận có thể xem bài viết về Chùa Long Sơn Mạnh Giáp tại thành phố Đài Bắc.
IVThế Đất Và Hướng
Trong truyền thống kiến trúc các cung miếu thờ Thiên Thượng Thánh Mẫu dọc bờ biển phía tây đảo Đài Loan, hướng mặt của ngôi đền bên cạnh phép lý khí phong thủy thông thường còn tuân thủ một quy tắc tâm linh thiêng liêng gọi là hướng hải triều tổ (ngoảnh mặt ra biển lớn để nhìn thẳng về tổ miếu đảo Mi Châu ở quê hương Phúc Kiến). Phần dưới đây kết hợp giữa tư liệu lịch sử về việc chọn hướng năm 1725 và cách đọc hình thế thực địa của thư viện theo phép phong thủy cổ truyền.
Xét về đại cục sơn thủy và hướng vọng tổ, tại tọa độ thực địa 24,05934 độ vĩ Bắc và 120,43138 độ kinh Đông, toàn bộ trục kiến trúc của Cung Thiên Hậu Lộc Cảng được định vị theo thế tọa Đông Nam hướng Tây Bắc (chính xác là tọa Thìn hướng Tuất kiêm Tốn Càn, khoảng 300 độ Tây Tây Bắc). Sử liệu của đền ghi rõ khi thân hào Thi Thế Bảng hiến đất dời miếu về vị trí hiện nay vào năm Ung Chính thứ 3 (1725), các bậc tiền nhân đã chủ ý xoay cổng đền nhìn thẳng về hướng Tây Bắc: trước hết là để mặt đền hướng ra cửa biển Lộc Cảng (nơi dòng sông Lộc Cảng 鹿港溪 đổ ra eo biển Đài Loan) nhằm đón thuyền buôn cập bến và phóng tầm mắt che chở cho ngư dân ngoài khơi, và thứ hai là vì kéo dài đường thẳng từ trục cổng đền vượt qua eo biển Đài Loan về phía Tây Bắc sẽ chỉ thẳng tới đảo Mi Châu (Phổ Điền, Phúc Kiến), nơi có tổ miếu Thiên Hậu Cung quê hương của Đức Lâm Mặc Nương.
Xét về minh đường, thủy pháp và Tả Thanh Long - Hữu Bạch Hổ, phía trước cổng Tam Xuyên Điện mở ra một quảng trường lớn lát đá rất khoáng đạt kết hợp cùng cổng đại bài phường năm nhịp và hai lầu Long Phượng Khuyết làm ngoại minh đường và tiền án, giúp thu nạp trọn vẹn gió biển và sinh khí từ hướng Tây Bắc (quẻ Càn, tượng trưng cho Trời và quyền uy che chở). Giữa khoảng sân trong nối giữa Chính điện và Hậu điện Linh Tiêu Bảo Điện, nhà đền kiến tạo Thiên Long Trì (hồ Rồng Trời) với hình tượng rồng vàng lớn uốn lượn phun nước giữa hồ, đóng vai trò nội minh đường tụ thủy điều hòa trường khí giữa các tòa điện gỗ. Về hai cánh tả hữu (nhìn từ trong Chính điện ra hướng Tây Bắc), dãy hành lang và hộ long phía nam tạo thành vế Tả Thanh Long nối liền với trục phố cổ Trung Sơn sầm uất nhất trấn Lộc Cảng, còn dãy hộ long phía bắc (nơi có Thi Diệu Đức Đường và tòa nhà khách thập phương cao 10 tầng) tạo thành vế Hữu Bạch Hổ ôm giữ lấy cung điện, hình thành thế tàng phong tụ khí vững chãi suốt gần ba thế kỷ.
VMùa Tiến Hương Tháng Ba, Lễ Rước Cầu Mưa Mười Hai Trang Và Đại Lễ Vía Ma Tổ
Hằng năm, từ tháng Giêng cho tới hết tháng Ba âm lịch (dân gian Đài Loan gọi là tháng Ba cuồng nhiệt vì Ma Tổ), Cung Thiên Hậu Lộc Cảng trở thành tâm điểm hành hương lớn bậc nhất toàn đảo khi hàng nghìn đoàn kiệu từ hơn hai nghìn ngôi đền phân linh khắp nơi nối đuôi nhau trở về Cựu Tổ Cung làm lễ Yết tổ tiến hương (về thăm nhà mẹ và xin lửa hương). Đặc biệt, lễ rước Ma Tổ tuần du cầu mưa qua mười hai làng vùng Đồng An Liệu đã được chính quyền huyện Chương Hóa ghi danh là Di sản Văn hóa Phi vật thể cấp huyện.
| Thời gian (Âm lịch) | Tên lễ hội / Nghi thức | Hoạt động và nghi tiết cổ truyền tiêu biểu |
|---|---|---|
| Đêm Giao thừa và mồng 1 tới Rằm tháng Giêng | Lễ Khai Xuân Cầu Phúc, Chui chân kiệu (Ngoạn kiều cước) và Hội Hoa đăng | Đêm Giao thừa mở cửa đền dâng nén hương đầu năm, và suốt dịp Tết Nguyên đán và Nguyên Tiêu, hàng vạn tín chúng xếp hàng chui qua bên dưới chiếc kiệu thần của Đức Ma Tổ (tục chuẩn kiều cước) đặt trước sân để cầu tiêu tai giải ách và nhận lộc bình an. |
| Tháng Giêng tới tháng Ba (cao điểm tháng 3 âm lịch) | Mùa Yết tổ Tiến hương (Cắt lửa hương phân linh) | Hàng trăm đoàn rước kiệu từ hơn 2.000 ngôi đền phân linh khắp Đài Loan và hải ngoại cùng các đội múa trận đầu (陣頭), kèn trống Bắc Quản rầm rộ tiến vào sân đền làm lễ cắt lửa hương (cắt hương) từ lư hương Cựu Tổ Cung. |
| Trước ngày 23 tháng 3 (thường vào giữa tháng 3 âm lịch) | Lễ rước Ma Tổ tuần du Đồng An Liệu Thập Nhị Trang (Di sản phi vật thể) | Di sản văn hóa phi vật thể của huyện Chương Hóa bắt nguồn từ một trận hạn hán lớn thời Thanh: cư dân 12 làng (nay là 15 làng) vùng Đồng An Liệu thuộc hai hương Phúc Hưng và Phố Diêm cung thỉnh kiệu Ma Tổ của Cung Thiên Hậu Lộc Cảng về tuần du khắp các làng để cầu mưa thuận gió hòa. |
| Ngày 23 tháng 3 (Âm lịch) | Đại lễ kỷ niệm ngày Đản sinh Thiên Thượng Thánh Mẫu (Vía Bà Thiên Hậu) | Quốc lễ tâm linh lớn nhất trong năm tại Lộc Cảng: cử hành đại lễ Cổ thức Tam Hiến Lễ trang nghiêm, dâng bàn tiệc Yến Vương và biểu diễn hát tuồng truyền thống suốt nhiều ngày đêm. |
| Tháng 7 (cao điểm Rằm tháng Bảy âm lịch) | Pháp hội Trung Nguyên Phổ Độ và Thả đèn hoa đăng | Cử hành đại đàn siêu độ cho các bậc tiền nhân đã khuất khi vượt biển khai hoang vùng Lộc Cảng và cúng thí thực chúng sinh. |
| Ngày 9 tháng 9 (Âm lịch, Tết Trùng Cửu) | Đại lễ kỷ niệm ngày Ma Tổ Đắc Đạo Thăng Thiên | Tưởng nhớ ngày Đức Lâm Mặc Nương hóa tiên trên đỉnh núi đảo Mi Châu (9/9/987), tổ chức lễ dâng hương tạ ơn và các hoạt động giao lưu văn hóa Ma Tổ quốc tế. |
Phong tục Lễ rước Ma Tổ tuần du Đồng An Liệu Thập Nhị Trang (同安寮十二庄請媽祖遶境) là một minh chứng sống động cho mối gắn kết giữa Cung Thiên Hậu Lộc Cảng với đời sống nông nghiệp vùng đồng bằng Chương Hóa. Tương truyền vào thời Đạo Quang nhà Thanh, vùng mười hai làng Đồng An Liệu bị hạn hán khô cằn suốt nhiều tháng liền khiến lúa màu chết cháy, nên các bậc bô lão đã thành tâm đến Cung Thiên Hậu Lộc Cảng thỉnh pho tượng Tiến Hương Ma Tổ về rước quanh mười hai làng để cầu đảo, và ngay khi kiệu Bà vừa đi qua thì mây đen kéo tới trút xuống cơn mưa cam lâm (甘霖) cứu sống cả vùng. Từ đó về sau, cứ mỗi độ tháng Ba âm lịch trước ngày vía Bà, mười lăm thôn trang vùng Đồng An Liệu lại tề tựu về Lộc Cảng rước kiệu Thánh Mẫu đi tuần du suốt hai ngày một đêm.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- No. 430, Zhongshan Road, Yushun Village, Lukang Township, Changhua County 505, Taiwan (彰化縣鹿港鎮玉順里中山路430號)
- Đường tới
- Tọa lạc tại số 430 đường Trung Sơn, trấn Lộc Cảng, huyện Chương Hóa. Từ ga đường sắt cao tốc Đài Trung (HSR Taichung Station) hoặc ga đường sắt Chương Hóa (Changhua Railway Station), quý vị đón tuyến xe buýt du lịch Đài Loan Lộc Cảng Tuyến 6936 (Taiwan Tourist Shuttle Lukang Route) hoặc xe buýt Chương Hóa số 6900, 6909, 6933 đi thẳng tới bến cuối Lộc Cảng, sau đó đi bộ dọc theo phố cổ Trung Sơn khoảng 10 phút là tới trước cổng đền.
- Toạ độ
- 24.05934, 120.43138
Khi tới viếng Cung Thiên Hậu Lộc Cảng, quý vị nhớ tuân thủ quy tắc vào cửa bên phải (Long Môn ở phía nam, tính từ ngoài nhìn vào là bên tay phải) và ra cửa bên trái (Hổ Môn ở phía bắc). Sau khi dừng lại dưới vòm Tảo tỉnh Bát quái ở Tam Xuyên Điện để chiêm ngưỡng kỹ thuật ghép mộng gỗ của đại sư Vương Ích Thuận và Vương Thụ Phát, quý vị tiến vào Chính điện lễ Đức Mi Châu Khai Cơ Nhị Ma Tổ, rồi đi vòng ra phía sau lên tòa Linh Tiêu Bảo Điện lễ Ngọc Hoàng Thượng Đế và ghé thăm Bảo tàng Văn vật Ma Tổ cùng Thi Diệu Đức Đường ở dãy hành lang bên tây.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Cung Thiên Hậu Lộc Cảng, Chương Hóa
Contribute photos, information or video for Lukang Mazu TempleThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao pho tượng Ma Tổ tại Cung Thiên Hậu Lộc Cảng lại có khuôn mặt màu đen (Hắc Diện Ma)?
Pho tượng Mi Châu Khai Cơ Nhị Ma Tổ tại Chính điện vốn được Thủy sư Đề đốc Thi Lang và tướng Lam Lý thỉnh trực tiếp từ tổ miếu đảo Mi Châu (Phúc Kiến) sang Đài Loan vào năm Khang Hy thứ 22 (1683). Trải qua hơn ba trăm năm mươi năm liên tục đón nhận khói hương trầm quyện đặc của hàng triệu tín đồ lễ bái, khuôn mặt pho tượng đã chuyển sang màu đen bóng trầm mặc, nên nhân dân tôn kính gọi là Hắc Diện Ma hay Hương Yên Ma.
Tại sao nói pho tượng Ma Tổ ở Lộc Cảng là pho tượng Khai Cơ Mi Châu duy nhất còn lại trên thế giới?
Theo tư liệu lịch sử, tổ miếu Thiên Hậu Cung trên đảo Mi Châu thuở xưa có sáu pho tượng Khai Cơ Ma Tổ cổ kính, phân bố tại Mi Châu, Ninh Ba (Chiết Giang), Malacca (Malaysia) và Lộc Cảng (Đài Loan). Do những biến động lịch sử vào thế kỷ 20 khiến các pho tượng ở đại lục bị hủy hoại hoặc thất lạc, pho tượng Khai Cơ Nhị Ma Tổ lưu giữ tại Cung Thiên Hậu Lộc Cảng từ năm 1683 đã trở thành pho tượng gốc duy nhất còn tồn tại nguyên vẹn.
Kiến trúc của Cung Thiên Hậu Lộc Cảng do những bậc thầy nào thiết kế và chạm khắc?
Diện mạo kiến trúc hiện nay được kiến tạo trong đợt đại trùng tu từ năm 1927 tới 1936 bởi những nghệ nhân đỉnh cao nhất thời kỳ ấy: Tam Xuyên Điện và vòm Tảo tỉnh Bát quái do đại mộc sư Vương Ích Thuận thiết kế và cháu là Vương Thụ Phát thi công, Chính điện do đại mộc sư Ngô Hải Đồng thiết kế, hệ thống cột rồng và phù điêu đá xanh do xưởng Tưởng Hinh và Tưởng Hình Lai chạm khắc, chạm gỗ do Lý Tùng Lâm chế tác và tranh tường do danh họa Quách Tân Lâm vẽ.
Ai là người đã hiến đất để dời Cung Thiên Hậu Lộc Cảng về vị trí hiện nay vào năm 1725?
Người hiến đất là đại điền chủ kiêm danh sĩ Thi Thế Bảng (cháu tộc điệt của tướng Thi Lang và là người khai đào kênh thủy lợi Bát Bảo Tuấn nổi tiếng của đồng bằng Chương Hóa). Năm Ung Chính thứ 3 (1725), thấy ngôi miếu cũ ở bến thuyền chật hẹp, ông đã hiến khu đất rộng lớn ở vị trí hiện nay để xây đền mới. Để tri ân công đức ấy, nhà đền lập Thi Diệu Đức Đường ở hành lang bên phải để thờ bài vị trường sinh của ông.
Vòm trần Tảo tỉnh Bát quái ở Tam Xuyên Điện có cấu tạo và ý nghĩa gì đặc biệt?
Vòm Tảo tỉnh Bát quái nằm ngay phía trên gian trung tâm Tam Xuyên Điện được lắp ghép hoàn toàn bằng mộng gỗ không dùng đinh sắt từ 24 cụm đấu củng xếp thành hai tầng tám cạnh hội tụ về Đỉnh Tâm Minh Kính vẽ hình Thái Cực Bát Quái. Bốn góc vòm chạm điển tích Tứ Ái và Bát Tiên, vừa có tác dụng nâng cao vòm mái và khuếch đại âm thanh khi tụng kinh, vừa biểu trưng cho sự giao hòa giữa Trời và Đất.