VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Khổng Miếu Đài Nam

Tainan Confucian Temple, 臺南孔子廟, 全臺首學, Toàn Đài Thủ Học, Văn miếu Đài Nam, Tiên Sư Thánh Miếu

Văn miếu Nho giáo và trường Quốc học đầu tiên trên đảo Đài Loan khởi dựng năm Vĩnh Lịch thứ 19 (1665) tại phủ Thừa Thiên theo kiến nghị của Tham quân Trần Vĩnh Hoa, nơi lưu giữ quy thức Tả học hữu miếu chuẩn mực cùng tám bức hoành phi ngự bút của tám vị hoàng đế triều Thanh.

Khởi dựng
Năm Ất Tỵ (1665)
Niên hiệu Vĩnh Lịch thứ 19, hoàn thành đầu năm 1666
Bố cục
Tả học hữu miếu
Quốc học Minh Luân Đường bên đông, Đại Thành Điện bên tây
Xếp hạng
Di tích Quốc định
Di tích cấp 1 Quốc gia năm 1983, định danh năm 1997

Dạo bước dưới hàng cây cổ thụ rợp bóng trên đường Nam Môn thuộc quận Trung Tây, thành phố Đài Nam, quý vị sẽ bắt gặp bức tường gạch đỏ chu sa dài trầm mặc dẫn tới cổng Đông Đại Thành Phường. Ngay phía trên vòm cổng trắng viền mái ngói cong hình đuôi chim én là bức hoành phi sơn son thếp vàng khắc nổi bốn chữ Toàn Đài Thủ Học (全臺首學, nghĩa là Trường học đầu tiên của toàn Đài Loan), còn dưới chân tường bên phải là tấm bia Hạ Mã khắc song ngữ Mãn và Hán nhắc nhở mọi quan viên văn võ cùng quân dân đi qua đều phải xuống ngựa để tỏ lòng tôn kính bậc Vạn Thế Sư Biểu.

Được khởi dựng từ năm Vĩnh Lịch thứ 19 (1665) dưới thời Thế tử Trịnh Kinh theo lời tấu của Tư nghị Tham quân Trần Vĩnh Hoa, Khổng Miếu Đài Nam là văn miếu đầu tiên đồng thời là cái nôi khai mở nền giáo dục Nho học chính quy trên đảo Đài Loan. Trải qua hơn ba thế kỷ rưỡi biến thiên lịch sử từ thời Minh Trịnh, thời Thanh tới thời hiện đại, quần thể mười lăm tòa kiến trúc cổ kính này vẫn giữ trọn quy thức Tả học hữu miếu (bên trái là trường học, bên phải là miếu thờ) cùng bộ sưu tập tám tấm hoành phi ngự bút của tám vị hoàng đế nhà Thanh đầy đủ bậc nhất thế giới Hoa ngữ ngoài cố hương Khúc Phụ.

Khổng Miếu Đài Nam
Khổng Miếu Đài Nam. Ảnh: Chainwit., giấy phép CC BY 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IToàn Đài Thủ Học Và Hệ Thống Phối Thờ Bậc Thánh Hiền Nho Gia

Vào đầu thập niên 1660, sau khi Quốc tính gia Trịnh Thành Công qua đời và Thế tử Trịnh Kinh (鄭經) kế vị cai quản vùng đất Đông Ninh (Đài Loan), vị mưu sĩ trụ cột được tôn xưng là Gia Cát của họ Trịnh là Tư nghị Tham quân Trần Vĩnh Hoa (陳永華, 1634 tới 1680) đã dâng kế sách mười năm sinh trưởng, mười năm giáo dưỡng, mười năm thành tụ. Ông khẳng định rằng muốn đất nước bền vững thì phải lập Thánh miếu và mở trường học để đào tạo nhân tài. Tháng 8 âm lịch năm Vĩnh Lịch thứ 19 (1665), Trịnh Kinh chuẩn tấu và giao cho Trần Vĩnh Hoa chọn đất tại gò Quế Tử Phố thuộc phường Ninh Nam, phủ Thừa Thiên (nay là quận Trung Tây, Đài Nam) để khởi công dựng Tiên Sư Thánh Miếu (先師聖廟), tới tháng Giêng năm Vĩnh Lịch thứ 20 (tháng 2 năm 1666) thì hoàn thành.

Ngay bên cạnh Thánh miếu, Trần Vĩnh Hoa lập giảng đường Minh Luân Đường làm Quốc học (tương đương Quốc Tử Giám), đặt chức Học viện do chính Trần Vĩnh Hoa đảm nhiệm và chức Quốc Tử Giám Trợ giáo do danh nho Diệp Hanh coi sóc. Trẻ em trai đủ tám tuổi vào Xã học ở địa phương, sau khi vượt qua ba kỳ thi Châu thí, Phủ thí và Viện thí sẽ được tuyển vào Thái học tại Minh Luân Đường ăn học bằng lương bổng nhà nước (gọi là lẫm thiện sinh), cứ ba năm mở đại thí một lần để bổ nhiệm vào Lục quan. Sang đầu thời Thanh năm Khang Hy thứ 24 (1685), Phân tuần Đài Hạ đạo Chu Xương và Tri phủ Tưởng Dục Anh cải tổ nơi đây thành Đài Loan Phủ Học. Vì suốt buổi đầu nhà Thanh đây là trường học cấp phủ duy nhất của cả hòn đảo để học trò dự thi nhập học, danh hiệu Toàn Đài Thủ Học đã ra đời và gắn liền với Khổng Miếu Đài Nam từ đó.

Theo giáo nghĩa

Khác hoàn toàn với các ngôi chùa Phật giáo hay cung quán Đạo giáo vốn tôn trí tượng tạc hình nhân, Khổng Miếu Đài Nam tuân thủ nghiêm ngặt điển chế Nho giáo từ thời Minh (năm Gia Tĩnh thứ 9, tức năm 1530): tuyệt đối không tạc tượng thờ mà chỉ phụng thờ thần vị bằng gỗ (mộc chủ) sơn đỏ viết chữ vàng nhằm đề cao đạo lý và nhân cách tinh thần thay vì hình tướng bề ngoài. Tại gian chính giữa của Đại Thành Điện (大成殿, chữ Đại Thành lấy từ lời Mạnh Tử ca ngợi đức Khổng Tử là bậc tập đại thành, gom tụ mọi đức hạnh của thánh nhân xưa như tiếng chuông đồng mở đầu và tiếng khánh ngọc kết thúc bản nhạc), khám thờ trung tâm tôn trí thần vị Chí Thánh Tiên Sư Khổng Tử Thần Vị (至聖先師孔子神位).

Hệ thống phối hưởng trong Đại Thành Điện và hai dãy hành lang Đông Vũ, Tây Vũ phản ánh trọn vẹn dòng truyền thừa Đạo thống của Nho gia qua hơn hai thiên niên kỷ. Ngay hai bên tả hữu khám thờ đức Khổng Tử là thần vị của Tứ Phối (bốn bậc đại hiền phối hưởng gồm Phục Thánh Nhan Tử, Tông Thánh Tăng Tử, Thuật Thánh Tử Tư và Á Thánh Mạnh Tử), tiếp đến ở hai đầu đông tây trong điện là Thập Nhị Triết (mười hai bậc hiền triết gồm Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Ung, Đoan Mộc Tứ tức Tử Cống, Trọng Do tức Tử Lộ, Bốc Thương tức Tử Hạ, Hữu Nhược, Nhiễm Bá Ngưu, Tể Ngã, Nhiễm Hữu, Ngôn Yển tức Tử Du, Chuyên Tôn Sư tức Tử Trương và đại nho thời Nam Tống là Chu Hy). Bước ra hai dãy trường lang Đông Vũ và Tây Vũ ở hai bên sân, Đông Vũ phụng thờ 41 vị Tiên hiền cùng 39 vị Tiên nho, còn Tây Vũ phụng thờ 40 vị Tiên hiền cùng 38 vị Tiên nho. Phía sau Đại Thành Điện là Sùng Thánh Tự (崇聖祠, xưa gọi là Khải Thánh Tự) chuyên thờ phụng năm đời tổ tiên của đức Khổng Tử cùng thân phụ của Tứ Phối và các bậc Tiên hiền.

Theo sử liệu

Một giá trị lịch sử đặc biệt của Khổng Miếu Đài Nam là sự hiện diện của bốn từ đường phụ trợ nằm ở hai bên cổng Đại Thành Môn gồm Danh Hoàn Tự kiêm Hương Hiền Tự ở bên đông và Tiết Hiếu Tự kiêm Hiếu Tử Tự ở bên tây. Tại Danh Hoàn Tự và Hương Hiền Tự, người dân Đài Nam phụng thờ mười vị quan lại có công lớn mở mang giáo dục, thủy lợi và an dân trên đảo như Tư nghị Tham quân Trần Vĩnh Hoa, Tuần phủ Phúc Kiến kiêm Đài Hạ đạo Trần Bân (陳璸, vị quan thanh liêm đã ban bố quy chế giáo hóa Mười điều khuyên răn và tự bỏ bổng lộc trùng tu Khổng Miếu năm 1712), Tri phủ Tưởng Dục Anh, Tưởng Nguyên Khu cùng hai vị danh sĩ bản địa là Vương Phượng Lai và Trần Chấn Diệu. Tại Hiếu Tử Tự và Tiết Hiếu Tự, miếu thờ người con hiếu thảo Hầu Thụy Trân cùng hơn hai trăm liệt nữ tiết hạnh của vùng phủ thành xưa.

Chỗ hay hiểu lầm

Khi đi qua cổng Đại Thành Môn, nhiều du khách ngạc nhiên khi thấy trên các cánh cửa gỗ lim sơn đỏ không hề vẽ hình thần giữ cửa (Môn thần Tần Thúc Bảo, Uất Trì Cung hay Thần Đồ, Uất Lũy) như ở các ngôi đền chùa thông thường, mà chỉ đóng những hàng đinh đồng đầu tròn mạ vàng gọi là môn đinh (門釘). Theo cổ lệ Nho gia, đức Khổng Tử từng dạy trong sách Luận Ngữ rằng Tử bất ngữ quái, lực, loạn, thần (Thầy không bàn chuyện quái dị, bạo lực, phản loạn và quỷ thần), vả lại trước bậc Chí Thánh Tiên Sư thì không một vị võ tướng hay thần linh nào dám đứng gác cửa. Thay vào đó, mỗi bộ cửa hai cánh của Đại Thành Môn được đóng đúng 108 chiếc đinh cửa (mỗi cánh gồm 9 hàng ngang nhân 6 đinh bằng 54 đinh, hai cánh cộng lại là 108 đinh), biểu trưng cho con số Cửu Ngũ chí tôn ($9 \times 12 = 108$) của bậc Đế vương mà các triều đại phong kiến dành riêng để tôn vinh Văn Tuyên Vương Khổng Tử.

IIHơn Ba Trăm Năm Mươi Năm Bồi Đắp Văn Mạch Qua Các Triều Đại

Từ ngôi Tiên Sư Thánh Miếu giản dị lợp ngói đất nung thời Minh Trịnh năm 1665, Khổng Miếu Đài Nam đã trải qua hơn ba mươi đợt mở rộng, trùng tu dưới thời Thanh, thời Nhật trị và sau năm 1945 để định hình nên quần thể di tích Quốc định như ngày nay.

  • 1665 - 1666Khởi dựng Tiên Sư Thánh Miếu và Minh Luân Đường thời Minh Trịnh
    Tháng 8 âm lịch năm Vĩnh Lịch thứ 19 (1665), Thế tử Trịnh Kinh nghe theo kiến nghị của Tham quân Trần Vĩnh Hoa cho khởi công xây dựng Tiên Sư Thánh Miếu và Quốc học Minh Luân Đường tại phường Ninh Nam, phủ Thừa Thiên, hoàn thành vào tháng Giêng năm Vĩnh Lịch thứ 20 (đầu năm 1666).
  • 1685Đổi thành Đài Loan Phủ Học và nhận biển Vạn Thế Sư Biểu của vua Khang Hy
    Năm Khang Hy thứ 24 (1685), Phân tuần Đài Hạ đạo Chu Xương và Tri phủ Tưởng Dục Anh mở rộng miếu thành Đài Loan Phủ Học, dựng thêm Đông Tây lưỡng vũ, Khải Thánh Tự, Linh Tinh Môn và treo bức ngự biển Vạn Thế Sư Biểu do vua Khang Hy ban năm 1684.
  • 1712 - 1719Đài Hạ đạo Trần Bân quy hoạch tổng thể và nâng cấp Đại Thành Điện
    Năm Khang Hy thứ 51 (1712), Đài Hạ đạo Trần Bân cho xây tường bao hình bán nguyệt, dựng Văn Xương Các, Lễ Môn, Nghĩa Lộ, Đại Thành Phường và đào hồ Phán Trì. Năm 1719, Tuần đạo Lương Văn Huyên nâng Đại Thành Điện lên kiểu mái trùng diêm yết sơn.
  • 1749 - 1777Thời kỳ hoàng kim cực thịnh dưới triều Càn Long
    Năm Càn Long thứ 14 tới 16 (1749 tới 1751), Tuần Đài ngự sử Dương Khai Đỉnh mở rộng quy mô Đại Thành Điện gấp đôi và dựng cổng đá Phán Cung Phường. Năm 1777, Tri phủ Tưởng Nguyên Khu hoàn thiện toàn bộ Phủ học và khắc tấm bia Đài Loan Phủ Học Toàn Đồ.
  • 1835 và 1891Chấn hưng Nhạc cục và thành lập Dĩ Thành Thư Viện
    Năm Đạo Quang thứ 15 (1835), Học chính Lưu Hồng Tường cho bổ sung nhạc khí và mời nhạc sư từ đại lục sang truyền dạy nhạc tế. Năm Quang Tự thứ 17 (1891), thân hào Trần Hồng Thương chính thức lập Dĩ Thành Thư Viện (do tiến sĩ Hứa Nam Anh làm Xã trưởng) để gìn giữ cổ nhạc Bát âm.
  • 1917 - 1918Trùng tu giải thể định hình bố cục kiến trúc hiện đại
    Sau khi trường Công học Đài Nam dời khỏi khuôn viên miếu, Sảnh trưởng Đài Nam Chi Đức Nhị cùng các thân hào Hứa Đình Quang, Dương Bằng Đoàn phát động đợt đại trùng tu giải thể từ tháng 7 năm 1917 tới tháng 3 năm 1918, định hình 15 tòa kiến trúc hiện tồn.
  • 1945 - 1948Sơ tán bảo vật trong Thế chiến thứ hai và phục dựng năm 1948
    Trước trận không kích ngày 1 tháng 3 năm 1945 làm hư hại Đại Thành Điện, quản lý miếu Phương Diệu Khôn cùng em trai đã kịp thời đưa thần vị Khổng Tử, 8 tấm ngự biển nhà Thanh và lễ nhạc khí đi sơ tán về vùng Ngọc Tỉnh nên bảo toàn nguyên vẹn, tới năm 1948 toàn bộ điện vũ được trùng tu.
  • 1983, 1985 - 1989 và 1997Xếp hạng Di tích Quốc định và đại trùng tu toàn diện
    Ngày 28 tháng 12 năm 1983, Khổng Miếu Đài Nam được công nhận là Di tích cấp 1 Quốc gia (năm 1997 đổi thành Di tích Quốc định). Từ năm 1985 tới 1989, chính quyền tiến hành đợt đại tu lớn nhất thế kỷ 20 bằng gỗ sam Phúc Châu và gỗ pơ-mu Đài Loan.
Theo sử liệu

Câu chuyện bảo vệ cổ vật của Khổng Miếu Đài Nam vào mùa xuân năm 1945 là một trang sử đáng nhớ của giới văn nhân phủ thành. Khi chiến sự Thái Bình Dương bước vào giai đoạn ác liệt đầu năm 1945, khu vực trung tâm Đài Nam quanh Tòa thị chính Châu Đài Nam liên tục nằm trong tầm ngắm oanh tạc. Lo sợ những báu vật gần ba trăm năm của Văn miếu bị lửa đạn thiêu hủy, người quản lý Thánh miếu lúc bấy giờ là ông Phương Diệu Khôn (方燿堃) đã cùng em trai âm thầm tháo dỡ bài vị Chí Thánh Tiên Sư Khổng Tử, tám tấm hoành phi ngự bút khổng lồ của tám hoàng đế nhà Thanh cùng các bộ chuông biên chung, khánh biên khánh bằng đồng và ngọc cổ, chất lên xe bò chở về vùng núi Ngọc Tỉnh và thôn Hòa Thuận Liệu ở An Nam để cất giấu. Ngay trên đường vận chuyển, đoàn xe từng bị máy bay tiêm kích sà xuống bắn phá, hai anh em họ Phương vẫn lấy thân mình che chở cho các hòm cổ vật. Nhờ hành động dũng cảm ấy, khi bom rơi trúng Đại Thành Điện và Sùng Thánh Tự vào ngày 1 tháng 3 năm 1945, toàn bộ thần vị, ngự biển và lễ nhạc khí cốt lõi của Khổng Miếu Đài Nam đã thoát nạn kỳ diệu và được rước trở về treo lại nguyên vị sau đợt trùng tu năm 1948.

IIIQuy Thức Tả Học Hữu Miếu, Đại Thành Điện Và Tám Bức Ngự Biển Hoàng Đế Nhà Thanh

Khổng Miếu Đài Nam tọa lạc trên khu đất rộng 9.007 mét vuông với tổng diện tích sàn xây dựng 2.169,9 mét vuông, bao gồm 15 tòa kiến trúc gỗ cổ truyền được bố trí theo nguyên tắc Tả học hữu miếu, tiền điện hậu các (bên trái tức phía đông là khu trường Quốc học với giảng đường Minh Luân Đường ở phía trước và lầu Văn Xương Các ở phía sau, còn bên phải tức phía tây là khu Văn miếu ba lớp gồm Đại Thành Môn, Đại Thành Điện và Sùng Thánh Tự). Bao bọc quanh khuôn viên là bức tường gạch đỏ đặc trưng của vùng Mân Nam (gọi là vạn nhận cung tường, lấy điển tích Tử Cống ví đạo học của thầy Khổng Tử cao như bức tường cung điện vạn trượng mà người ngoài nếu không tìm được cửa bước vào thì không thể thấy vẻ đẹp của tông miếu và bá quan bên trong).

Không giống như các ngôi đền dân gian chạm trổ rồng phượng sặc sỡ khắp rường cột, kiến trúc của Khổng Miếu Đài Nam đề cao vẻ trang nghiêm, giản phác và chuẩn mực lễ chế: hệ cột gỗ và xà ngang đều sơn màu đỏ sẫm hoặc màu nâu hạt dẻ thuần khiết, không chạm khắc hoa văn rườm rà và không khắc câu đối trên cột Đại Thành Điện (tương truyền vì không ai dám múa văn chương trước cửa bậc Thánh師).

Đông Đại Thành Phường, bia Hạ Mã và cổng đá Phán Cung Phường

Lối vào chính ở phía đông dựng năm Khang Hy thứ 54 (1715), treo biển Toàn Đài Thủ Học và đặt bia Hạ Mã năm 1687 khắc chữ Mãn - Hán. Đối diện bên kia đường Nam Môn là cổng đá Phán Cung Phường 4 trụ 3 gian dựng năm Càn Long thứ 14 (1749) bằng đá trắng Hoa Cương chạm tám con sư tử đá.

Hồ Phán Trì bán nguyệt, Lễ Môn và Nghĩa Lộ

Phía nam sân miếu là hồ nước hình bán nguyệt gọi là Phán Trì (mô phỏng泮水 của trường học nước Lỗ thời Chu), trên tường gạch khảm tấm bia cổ Tư Lạc Phán Thủy. Trước khi vào Đại Thành Môn, khách phải đi qua hai cổng nhỏ đối xứng là Lễ Môn ở phía đông và Nghĩa Lộ ở phía tây, hàm ý người quân tử lấy Lễ và Nghĩa làm đường đi.

Đại Thành Môn với 108 đinh cửa và cặp cột chạm hoa mẫu đơn

Cổng tam quan dẫn vào nội viện Văn miếu, rộng 3 gian, mỗi bộ cửa hai cánh đóng đúng 108 chiếc đinh đồng mạ vàng theo quy chế Đế vương. Điểm độc đáo là đôi cột đá trước hiên chạm chim trĩ và hoa mẫu đơn (thay vì chạm rồng) cùng các thanh chắn gỗ ở ngưỡng cửa cao gọi là thiết ngân.

Đại Thành Điện, sân Lộ Đài, đầu rồng Li Thủ và ống Tàng Kinh Đồng

Tòa điện trung tâm dựng trên nền đài đá cao có sân Lộ Đài vuông vức để cử hành vũ điệu Lục Dật hoặc Bát Dật, chính giữa bậc thềm là tảng đá Ngự Lộ chạm rồng mây, bốn góc nền vươn ra các đầu rồng thoát nước gọi là Li Thủ (Ngao đầu). Trên bờ nóc mái trùng diêm yết sơn đặt Bảo tháp 9 tầng ở giữa và hai ống Tàng Kinh Đồng (Thông Thiên Đồng) ở hai đầu hồi tượng trưng cho khí tiết bảo vệ kinh điển của nho sĩ.

Minh Luân Đường, cửa Nhập Đức Chi Môn và bia Đài Loan Phủ Học Toàn Đồ

Khu Quốc học nằm ở trục phía đông, bước vào qua cửa Nhập Đức Chi Môn (hai bên đề chữ Thánh Vực và Hiền Quan). Giảng đường Minh Luân Đường rộng 3 gian có hiên Bão Hiên phía trước, bên trong treo bức bình phong gỗ lớn chép thiên Đại Học tương truyền theo bút tích Triệu Mạnh Phủ và lưu giữ tấm bia đá khắc bản đồ Đài Loan Phủ Học Toàn Đồ năm 1777.

Văn Xương Các (Khôi Tinh Lâu) ba tầng ba hình khối

Ngôi lầu cao nhất khuôn viên nằm ở góc đông bắc sau lưng Minh Luân Đường, dựng năm Khang Hy thứ 51 (1712). Lầu được thiết kế theo triết lý dịch học: tầng một hình vuông (tượng Đất), tầng hai hình tròn (tượng Trời, thờ Văn Xương Đế Quân) và tầng ba hình bát giác (tượng Bát quái, thờ Khôi Tinh điểm đẩu).

Trọn bộ 8 tấm hoành phi ngự bút của 8 vị hoàng đế nhà Thanh treo trên rường mái Đại Thành Điện tại Khổng Miếu Đài Nam. Nguồn: Ban Quản lý Văn hóa Khổng Miếu Đài Nam (tn-confucius.org.tw) và Cục Di sản Văn hóa thuộc Bộ Văn hóa Đài Loan..
Niên đại ban tặngHoàng đế nhà ThanhBốn chữ ngự bút (Hán - Việt)Xuất xứ kinh điển và ý nghĩa
Năm 1684 (Khang Hy thứ 23)Khang Hy ĐếVạn Thế Sư Biểu (萬世師表)Trích Tam Quốc Chí (Ngụy thư): Tôn vinh đức Khổng Tử là bậc thầy mẫu mực của muôn đời.
Năm 1725 (Ung Chính thứ 3)Ung Chính ĐếSinh Dân Vị Hữu (生民未有)Trích sách Mạnh Tử (thiên Công Tôn Sửu thượng): Từ khi có loài người tới nay chưa từng có ai sánh bằng Phu tử.
Năm 1737 (Càn Long thứ 2)Càn Long ĐếDữ Thiên Địa Tham (與天地參)Trích sách Trung Dung: Đạo đức của bậc chí thành giúp vào sự hóa dục của trời đất nên sánh ngang cùng Trời và Đất.
Năm 1799 (Gia Khánh thứ 4)Gia Khánh ĐếThánh Tập Đại Thành (聖集大成)Trích sách Mạnh Tử (thiên Vạn Chương hạ): Đức Khổng Tử gom tụ trọn vẹn mọi trí tuệ và thánh đức xưa nay.
Năm 1821 (Đạo Quang nguyên niên)Đạo Quang ĐếThánh Hiệp Thời Trung (聖協時中)Trích sách Trung Dung: Bậc thánh nhân hành xử hoàn toàn hòa hợp với đạo Trung dung tùy theo từng thời điểm (mặt sau biển còn khắc bốn chữ Thiên Hành Bảo Trục).
Năm 1851 (Hàm Phong nguyên niên)Hàm Phong ĐếĐức Tề Đạo Tải (德齊幬載)Trích sách Trung Dung: Công đức của Phu tử rộng lớn sánh ngang với bầu trời che chở và mặt đất nâng đỡ muôn vật.
Năm 1862 (Đồng Trị nguyên niên)Đồng Trị ĐếThánh Thần Thiên Túng (聖神天縱)Trích sách Luận Ngữ (thiên Tử Hãn): Lời Tử Cống ca ngợi đức Khổng Tử là bậc thánh nhân do Trời phú cho tài đức vô lượng.
Năm 1875 (Quang Tự nguyên niên)Quang Tự ĐếTư Văn Tại Tư (斯文在茲)Trích sách Luận Ngữ (thiên Tử Hãn): Nền văn hiến lễ nhạc của Chu Văn Vương đều kết tụ và lưu truyền nơi đây.

Bên cạnh tám tấm ngự biển triều Thanh kể trên, phía trên rường cột Đại Thành Điện còn treo tám tấm hoành phi của các vị nguyên thủ từ năm 1950 tới nay gồm Hữu Giáo Vô Loại (1950), Vạn Thế Sư Biểu (1978), Đạo Quán Cổ Kim (1980), Đức Phối Thiên Địa (1991), Trung Hòa Vị Dục (2000), Thánh Đức Hóa Dục (2008 và 2010), Đức Mâu Đạo Xương (2016) và Xuyên Lưu Đôn Hóa (2024). Quý vị muốn đối chiếu thêm với truyền thống Văn miếu Quốc Tử Giám tại khu vực Đông Á có thể xem bài viết về Văn Miếu - Quốc Tử Giám tại Hà Nội.

IVThế Đất Và Hướng

Kinh điển Nho giáo định hướng các công trình tông miếu và trường học theo quy chế Chu Lễ Khảo Công Ký cùng câu chữ trong Kinh Dịch (quẻ Thuyết Quái: Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ, hướng minh nhi trị, nghĩa là bậc Thánh nhân ngoảnh mặt về phương Nam mà lắng nghe thiên hạ, hướng về phía ánh sáng rực rỡ mà giáo hóa muôn dân). Song song đó, khi Tư nghị Tham quân Trần Vĩnh Hoa chọn đất dựng Tiên Sư Thánh Miếu năm 1665 cũng như khi các quan phủ Đài Loan đào hồ Phán Trì và dựng Văn Xương Các đầu thế kỷ 18, các phép tắc hình thế phong thủy của vùng phủ thành Đài Nam đã được vận dụng hết sức chặt chẽ. Phần dưới đây đối chiếu thế đất thực địa của Khổng Miếu theo nhãn quan phong thủy cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét về đại cục sơn thủy và long mạch, Khổng Miếu Đài Nam tọa lạc tại tọa độ 22,99052 độ vĩ Bắc và 120,20427 độ kinh Đông, nằm ngay trên gò đất cao Ninh Nam Phường (khu vực gò Phượng Hoàng của phủ thành Đài Nam cổ). Trong địa hình tự nhiên của thành phố Đài Nam thế kỷ 17 và 18, vùng đất này là một dải đồi cát nâng cao gồm bảy ngọn gò nhấp nhô (Thất Khâu) vươn ra phía biển nội hải Đài Giang, phía nam có dòng khê Phúc An (Fu'an Creek) và phía bắc có dòng khê Đức Khánh (Deqing Creek) chảy vòng qua tạo thành thế nhị thủy hoàn bão ôm lấy trung tâm phủ Thừa Thiên. Việc chọn gò đất cao ráo ở phường Ninh Nam vừa giúp Văn miếu tránh được nạn ngập lụt của vùng đồng bằng ven biển, vừa đặt ngôi trường tối cao của toàn đảo ngay trên lưng long mạch chủ của phủ thành.

Xét về sơn hướng và bố cục Tứ tượng, toàn bộ ba lớp kiến trúc chính của Khổng Miếu (Đại Thành Môn, Đại Thành Điện và Sùng Thánh Tự) cùng khu Quốc học Minh Luân Đường đều được định vị chuẩn mực theo thế tọa Bắc hướng Nam (chính xác là tọa Tý hướng Ngọ kiêm Quý Đinh, khoảng 182 độ chính Nam), đón trọn dương khí và ánh sáng phương Ly (quẻ Ly thuộc Hỏa, chủ về văn chương, lễ nhạc và trí tuệ minh triết). Ngay phía trước Đại Thành Môn ở phương Nam (Chu Tước) là hồ Phán Trì hình bán nguyệt đóng vai trò nội minh đường tụ thủy: mặt nước phẳng lặng hình vầng trăng khuyết vừa thu nạp sinh khí cho Đại Thành Điện, vừa mang ý nghĩa phán thủy tư lạc giúp tâm trí kẻ sĩ lắng đọng trước khi bước vào lễ Thánh. Về Tả Thanh Long và Hữu Bạch Hổ, bố cục Tả học hữu miếu đặt Minh Luân Đường và ngọn tháp ba tầng Văn Xương Các (Khôi Tinh Lâu) vươn cao ở góc Đông Bắc (phương Cấn nối sang phương Chấn của Tả Thanh Long), đúng vào vị trí Văn Xương bút phong trong phong thủy dương cơ, giúp nâng đỡ vế Thanh Long (chủ về văn tài, khoa bảng) cao trội hơn vế Bạch Hổ ở phía tây, tạo nên thế đất phát phúc bền bỉ cho văn mạch Đài Nam suốt hơn ba thế kỷ rưỡi.

VĐại Lễ Tế Khổng Thích Điện Mùa Thu, Vũ Điệu Lục Dật Và Nhạc Cổ Bát Âm

Khổng Miếu Đài Nam là nơi duy nhất tại Đài Loan còn bảo tồn nguyên vẹn nghi thức Cổ lễ Tế Khổng Thích Điện (釋奠典禮) có từ thời Minh Thanh với đầy đủ 38 tiết mục nghi lễ, cử hành mỗi năm hai kỳ vào mùa Xuân và mùa Thu, do đích thân Thị trưởng thành phố Đài Nam đảm nhiệm vai Chính hiến quan và các nhạc sinh của Dĩ Thành Thư Viện (tổ chức nhạc lễ cổ truyền thành lập từ năm 1891) trực tiếp tấu nhạc Nhã trên nền các nhạc cụ cổ bằng đồng, đá, tơ, trúc, bầu, đất, da và gỗ (Bát âm).

Các kỳ đại lễ Tế Khổng và nghi thức khuyến học truyền thống tại Khổng Miếu Đài Nam. Nguồn: Quỹ Văn hóa Khổng Miếu Đài Nam (tn-confucius.org.tw) và Cục Văn hóa thành phố Đài Nam..
Thời gian (Lịch áp dụng)Tên đại lễ / Nghi thứcNội dung và nghi tiết cổ truyền tiêu biểu
Rạng sáng ngày 28 tháng 9 (Dương lịch)Đại lễ Tế Khổng Thích Điện mùa Thu (Kỷ niệm Ngày sinh Đức Khổng Tử và Ngày Nhà giáo)Khởi lễ từ 5 giờ sáng (giờ Dần) bằng nghi thức Nghênh Thần, dâng lễ Tam sinh thái lao (bò, dê, lợn thật), đọc Chúc văn, ba tuần dâng rượu (Sơ hiến, Á hiến, Chung hiến) trên nền nhạc Nhã của Dĩ Thành Thư Viện và 36 học sinh tiểu học biểu diễn vũ điệu Lục Dật trên sân Lộ Đài.
Sau lễ Tế Khổng sáng 28 tháng 9 (Dương lịch)Tục Bạt Mao Cầu Trí Tuệ (Nhổ lông thái lao cầu trí tuệ)Sau khi lễ Tế Khổng hoàn tất (Triệt soạn và Tống Thần), phụ huynh và học sinh xếp hàng xin những sợi lông trên mình con bò tế lễ (gọi là Mao huyết, biểu tượng cho văn vận của bậc Thánh) để mang về cài lên ống bút cầu học hành đỗ đạt.
Tháng 3 (Dương lịch, chọn ngày lành mùa Xuân)Lễ Tế Khổng Thích Điện mùa XuânKỳ tế lễ mùa Xuân theo truyền thống Xuân thu nhị tế của Văn miếu xưa, quy tụ giới học giả, giáo chức và học sinh thành phố Đài Nam tới dâng hương tri ân.
Tháng 5 và tháng 9 hằng năm (Dương lịch)Lễ Khai Bút Điểm Chu Sa (Khai trí lễ) cho học sinh mới nhập họcTrẻ em chuẩn bị vào lớp một đi qua cổng Lễ Môn, Nghĩa Lộ và Nhập Đức Chi Môn vào Minh Luân Đường để các bậc trưởng bối chấm chu sa đỏ lên giữa trán (khai trí) và viết chữ Nhân đầu đời.
Trước các kỳ thi lớn (Quanh năm)Lễ cầu khoa cử tại Văn Xương Các (Khôi Tinh Lâu)Sĩ tử và sinh viên mang thẻ dự thi cùng lễ vật chay (cần tây tượng trưng cho cần cù, hành lá tượng trưng cho thông minh, củ cải trắng tượng trưng cho điềm lành) lên lầu Văn Xương Các cầu Văn Xương Đế Quân và Khôi Tinh gia phù hộ.

Một chi tiết độc đáo trong Đại lễ Tế Khổng tại Đài Nam là vũ điệu dâng lễ trên sân Lộ Đài trước Đại Thành Điện dùng Lục Dật vũ (六佾舞, gồm 6 hàng nhân 6 người bằng 36 vũ sinh do học sinh Trường Tiểu học Trung Nghĩa ngay sát vách Văn miếu đảm nhiệm, tay trái cầm thược là ống sáo trúc ba lỗ, tay phải cầm địch là cán gỗ cắm lông chim trĩ dài), giữ đúng cổ chế dành cho tước Chư hầu Vương thời Minh Thanh thay vì Bát Dật vũ (64 người) như ở Đài Bắc. Toàn bộ buổi lễ diễn ra vào lúc 5 giờ sáng khi trời còn mờ sương dưới ánh đuốc đình liệu bập bùng, không dùng đèn điện chiếu sáng rực rỡ, giữ trọn không khí trang nghiêm từ hơn ba trăm năm trước.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
No. 2, Nanmen Road, West Central District, Tainan City 700, Taiwan (臺南市中西區孔廟里南門路2號)
Đường tới
Tọa lạc tại số 2 đường Nam Môn, quận Trung Tây, thành phố Đài Nam. Từ ga đường sắt Đài Nam (Tainan Railway Station), quý vị có thể đi xe buýt nội đô số 2, số 88 (tuyến du lịch Phủ Thành) tới trạm Khổng Miếu (Confucius Temple Stop) khoảng 10 phút, hoặc đi bộ dọc theo đại lộ Trung Chính (Zhongzheng Road) qua vòng xoay Bảo tàng Văn học Quốc gia Đài Loan rồi rẽ trái vào đường Nam Môn khoảng 15 phút.
Toạ độ
22.99052, 120.20427
Khi tới nơi

Khi tới thăm Khổng Miếu Đài Nam, quý vị lưu ý giữ trật tự và tác phong tôn nghiêm của chốn học cung, đi vào khuôn viên qua cổng Đông Đại Thành Phường (dưới tấm biển Toàn Đài Thủ Học), rồi bước qua cổng Lễ Môn hoặc Nghĩa Lộ để tiến vào sân Đại Thành Điện. Khổng Miếu là thánh đường của Nho giáo chứ không phải đền miếu dân gian, do đó trong khuôn viên không đặt lư hương lớn để đốt nhang nghi ngút hay hóa vàng mã, đồng thời nghiêm cấm mọi hành vi rước kiệu thần dân gian tự ý xông vào sân Đại Thành Điện.

Những nơi gần đây trong thư viện

Phật Quang Sơn và Phật Đà Kỷ Niệm Quán, Cao HùngCao Hùng · Tổ đình Phật giáo Nhân gian lớn nhất Đài Loan nằm trên dãy đồi quận Đại Thụ bên bờ sông Cao Bình (thành phố Cao Hùng), do Đại sư Tinh Vân (1927 tới 2023, truyền nhân đời thứ 48 tông Lâm Tế) khai sơn ngày 16 tháng 5 năm 1967.Cung Thiên Hậu Lộc Cảng, Chương HóaChương Hóa · Trung tâm tín ngưỡng Thiên Thượng Thánh Mẫu (Ma Tổ - Lâm Mặc Nương) cổ kính bậc nhất Đài Loan tại thương cảng cổ Lộc Cảng (huyện Chương Hóa), khởi thủy từ năm 1591, đón tôn tượng Mi Châu Khai Cơ Nhị Ma Tổ (Hắc Diện Ma) do Thủy sư Đề đốc Thi Lang và tướng Lam Lý thỉnh từ tổ miếu đảo Mi Châu năm 1683, rồi dời về vị trí hiện nay năm 1725 trên đất hiến của Thi Thế Bảng.Chùa Long Sơn Mạnh GiápĐài Bắc · Ngôi cổ tự danh tiếng bậc nhất Đài Bắc do di dân ba huyện Tấn Giang, Nam An, Huệ An (phủ Tuyền Châu, Phúc Kiến) khởi dựng năm Càn Long thứ 3 (1738) để phụng thờ Quan Thế Âm Bồ Tát phân linh từ tổ đình Long Sơn Tự An Hải, nổi bật với kiến trúc tam tiến tứ hợp viện của đại mộc sư Vương Ích Thuận (1919 tới 1924), đôi cột đồng chạm rồng đúc năm 1920 và hệ thống phối thờ dung hợp Phật giáo với Thiên Hậu Thánh Mẫu, Văn Xương Đế Quân, Quan Thánh Đế Quân cùng Nguyệt Lão.

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Khổng Miếu Đài Nam

Contribute photos, information or video for Tainan Confucian Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Vì sao Khổng Miếu Đài Nam được mệnh danh là Toàn Đài Thủ Học?

Khổng Miếu Đài Nam được khởi dựng năm Vĩnh Lịch thứ 19 (1665) dưới thời Thế tử Trịnh Kinh theo kiến nghị của Tham quân Trần Vĩnh Hoa, bên cạnh lập giảng đường Quốc học Minh Luân Đường. Đây là văn miếu Nho giáo đầu tiên đồng thời là trường đại học công lập đầu tiên trên đảo Đài Loan, nơi duy nhất tổ chức khảo thí tuyển chọn đồng sinh toàn đảo suốt buổi đầu thời Thanh, nên được tôn xưng là Toàn Đài Thủ Học (Trường học đầu tiên của toàn Đài Loan).

Tại sao trong Đại Thành Điện chỉ thờ bài vị gỗ mà không tạc tượng Khổng Tử?

Khổng Miếu Đài Nam tuân thủ nghiêm ngặt điển chế lễ nghi từ năm Gia Tĩnh thứ 9 triều Minh (1530): dùng bài vị gỗ sơn son thếp vàng (mộc chủ) ghi danh hiệu Chí Thánh Tiên Sư Khổng Tử cùng Tứ Phối và Thập Nhị Triết thay cho tượng nặn đất sét, nhằm tránh việc bình phẩm hình tướng bề ngoài và hướng lòng tôn kính thuần túy vào đạo học cùng nhân cách của bậc Thánh hiền.

Tám bức hoành phi ngự bút trong Đại Thành Điện là của những vị hoàng đế nào?

Đó là bộ sưu tập tám tấm biển ngự bút của tám vị hoàng đế nhà Thanh liên tiếp từ thế kỷ 17 tới thế kỷ 19 gồm: Vạn Thế Sư Biểu (Khang Hy, 1684), Sinh Dân Vị Hữu (Ung Chính, 1725), Dữ Thiên Địa Tham (Càn Long, 1737), Thánh Tập Đại Thành (Gia Khánh, 1799), Thánh Hiệp Thời Trung (Đạo Quang, 1821), Đức Tề Đạo Tải (Hàm Phong, 1851), Thánh Thần Thiên Túng (Đồng Trị, 1862) và Tư Văn Tại Tư (Quang Tự, 1875).

Vì sao trên cửa Đại Thành Môn không vẽ thần giữ cửa mà đóng 108 chiếc đinh đồng?

Theo quan niệm Nho gia, đức Khổng Tử không bàn chuyện quỷ thần và trước bậc Vạn Thế Sư Biểu thì không vị thần tướng nào dám đứng gác cửa, nên cửa Văn miếu không vẽ Môn thần. Thay vào đó, mỗi bộ cửa hai cánh của Đại Thành Môn được đóng 108 chiếc đinh đồng mạ vàng (môn đinh), biểu trưng cho con số Cửu Ngũ chí tôn (9 nhân 12 bằng 108) vốn chỉ dành cho kiến trúc Hoàng gia và Thánh miếu.

Đại lễ Tế Khổng tại Khổng Miếu Đài Nam diễn ra vào ngày nào và có gì đặc biệt?

Đại lễ Tế Khổng Thích Điện mùa Thu cử hành vào lúc 5 giờ sáng ngày 28 tháng 9 dương lịch hằng năm (kỷ niệm ngày sinh Đức Khổng Tử và Ngày Nhà giáo tại Đài Loan), bên cạnh lễ tế mùa Xuân vào tháng 3. Buổi lễ giữ nguyên 38 nghi tiết cổ truyền thời Minh Thanh dưới ánh đuốc rạng đông, có nhạc cổ Bát âm của Dĩ Thành Thư Viện, vũ điệu Lục Dật gồm 36 học sinh và tục xin lông bò thái lao cầu trí tuệ.

›Đọc Tiếp