Đi qua cổng thành cổ Tharabar xây từ thế kỷ 9 của kinh đô Pagan xưa và rẽ về phía đông nam chỉ vài trăm mét, quý vị thấy giữa những gò tháp gạch đỏ nâu trầm mặc của đồng bằng Bagan bỗng hiện lên một tòa đền quét vôi trắng muốt, trên đỉnh vươn cao ngọn tháp hình búp ngô dát vàng rực rỡ dưới nắng. Bốn cổng vòm lớn mở ra bốn hướng chính Đông, Tây, Nam, Bắc như bốn cánh tay dang rộng đón người hành hương. Khi để giày dép bên ngoài và bước qua cánh cửa gỗ tếch chạm trổ vào hành lang vòm cuốn cao vút bên trong, cái nắng gắt của vùng trung tâm Myanmar lập tức dịu hẳn, nhường chỗ cho luồng gió mát rượi và ánh sáng tự nhiên từ các ô cửa sổ cao chiếu thẳng vào gương mặt vàng óng của pho đại tượng Phật đứng cao gần mười mét ngay trước mắt.
Người Myanmar gọi công trình này là Ananda Pahto (Đền Ananda). Khác với các ngôi bảo tháp đặc khối (zedi) như Chùa Shwedagon, Yangon hay Chùa Shwezigon, Bagan nơi tín đồ chỉ đi nhiễu bên ngoài, một pahto là ngôi đền rỗng mô phỏng hang đá thiền định để con người bước hẳn vào trong lòng kiến trúc mà chiêm bái. Hoàn thành vào năm 1105 dưới triều vua Kyanzittha, đền Ananda được giới nghiên cứu mỹ thuật ca ngợi là bảo tàng đá sống động nhất của văn minh Bagan và thuộc quần thể Di sản Thế giới UNESCO ghi danh năm 2019.

ITrí Tuệ Vô Biên Và Hình Mẫu Động Thiền Nandamula Trên Dãy Himalaya
Nhiều du khách khi nghe tên Đền Ananda thường nghĩ ngay rằng ngôi đền được đặt theo tên tôn giả A Nan Đà (Ananda), vị em họ và thị giả đa văn đệ nhất luôn theo sát Đức Phật Thích Ca. Thực tế lịch sử ngôn ngữ tại Bagan cho thấy tên nguyên thủy của ngôi đền trong tiếng Phạn và tiếng Pali là Ananta Pinnya (Ananta Panna), nghĩa là Trí Tuệ Vô Biên, nhằm tôn vinh một trong những đức tính tối thượng của Đức Phật. Qua nhiều thế kỷ truyền khẩu, chữ Ananta được đọc mềm đi thành Ananda (một từ Pali vừa chỉ tôn giả A Nan Đà vừa mang nghĩa là niềm hỷ lạc thanh tịnh).
Theo biên niên sử Myanmar, sự ra đời của ngôi đền bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ giữa vua Kyanzittha (trị vì 1084 tới khoảng 1112 hoặc 1113) và tám vị tỳ kheo đi khất thực từ vùng núi Himalaya. Khi được nhà vua thỉnh vào cung hỏi đạo, tám vị sư đã dùng định lực miêu tả lại khung cảnh thanh lương của hang thiền Nandamula trên sườn núi Gandhamadana nơi các ngài từng tu tập. Xúc động trước cảnh giới ấy, vua Kyanzittha đã thỉnh các vị sư phác thảo đồ hình để xây dựng ngay giữa vùng đồng bằng khô nóng Bagan một ngôi đền đá có lòng hang mát mẻ và tĩnh lặng đúng như động Nandamula.
Vua Kyanzittha cùng vị đại quốc sư người Môn là Shin Arahan là hai nhân vật đã củng cố vững chắc Phật giáo Nam tông (Theravada) thành quốc giáo của đế chế Pagan. Toàn bộ kiến trúc đền Ananda được nhà vua kiến tạo như một bộ giáo lý trực quan bằng gạch đá để giáo hóa muôn dân: từ 1.400 viên gạch men khắc chuyện tiền thân Đức Phật ở mặt ngoài, 80 bức phù điêu đá khắc cuộc đời Đức Phật lịch sử ở hành lang trong, cho tới bốn pho đại tượng Phật đứng ở tâm đền biểu trưng cho bốn vị Phật đã xuất hiện trong Hiền kiếp (Bhadrakalpa) hiện tại: Phật Câu Lưu Tôn (Kakusandha), Phật Câu Na Hàm (Konagamana), Phật Ca Diếp (Kassapa) và Phật Thích Ca Mâu Ni (Gautama).
Khác với tượng Phật nằm hay tượng Phật ngồi thiền thường thấy, cả bốn vị Phật ở tâm đền Ananda đều được tạc trong tư thế đứng thẳng cao sừng sững 9,5 mét, mang thông điệp rằng Chánh pháp của chư Phật luôn hiện hữu thường trực khắp bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc để che chở và dẫn dắt chúng sinh đi tới Niết Bàn.
Trong số bốn pho đại tượng Phật đứng bằng gỗ tếch dát vàng ở bốn mặt khối trụ trung tâm, các nhà khảo cổ học xác nhận chỉ có hai pho tượng quay về hướng Bắc (Phật Câu Lưu Tôn) và hướng Nam (Phật Ca Diếp) là tác phẩm nguyên bản từ thời vua Kyanzittha đầu thế kỷ 12, cả hai đều bắt ấn Chuyển Pháp Luân (Dhammachakka Mudra) trước ngực. Còn hai pho tượng quay về hướng Đông (Phật Câu Na Hàm) và hướng Tây (Phật Thích Ca) đã bị hư hại do hỏa hoạn trong lịch sử và được tạc thay thế vào thời kỳ sau theo phong cách Konbaung (Mandalay).
Đặc biệt, ngay dưới chân pho tượng Phật Thích Ca ở khám thờ phía Tây có đặt hai pho tượng sơn mài thếp vàng cỡ người thật vô cùng quý giá từ thế kỷ 12: bên trái là chân dung vua Kyanzittha đội vương miện quỳ chắp tay thành kính, và bên phải là chân dung đại sư Shin Arahan trong y phục tỳ kheo giản dị. Đây là cặp tượng chân dung lịch sử hiếm hoi của bậc quân vương và bậc quốc sư còn lưu giữ nguyên vẹn tại chỗ suốt hơn chín trăm năm qua.
Một giai thoại dân gian từng được một số tác giả phương Tây (như học giả George Coedès) nhắc lại kể rằng sau khi xây xong đền Ananda, vua Kyanzittha đã cho xử tử các kiến trúc sư để không nơi nào khác xây được ngôi đền thứ hai đẹp bằng. Tuy nhiên, các sử gia Myanmar hiện đại chỉ ra rằng không hề có một dòng văn bia nào thời Pagan ghi nhận việc ấy, và câu chuyện chỉ là mô-típ truyền thuyết phổ biến ở nhiều công trình cổ châu Á, hoàn toàn xa lạ với tinh thần sùng đạo và nhân từ trong các bia ký của vua Kyanzittha.
IIChín Thế Kỷ Đứng Vững Qua Động Đất Và Thời Gian
Trong lịch sử kiến trúc Bagan, đền Ananda đánh dấu đỉnh cao khép lại giai đoạn Tiền kỳ Bagan (mang đậm ảnh hưởng kiến trúc người Môn với các hành lang tối và cửa sổ con tiện đá) để mở ra giai đoạn Trung kỳ Bagan rực rỡ ánh sáng và vươn cao theo chiều thẳng đứng. Suốt hơn chín thế kỷ qua, trong khi hàng nghìn ngôi đền tháp khác ở Bagan từng có lúc hoang phế, đền Ananda chưa bao giờ ngớt tiếng kinh cầu.
- 1084Vua Kyanzittha lên ngôi hoàng đế PaganSau khi dẹp yên loạn lạc, vua Kyanzittha đăng quang dưới sự chứng minh của quốc sư Shin Arahan, đẩy mạnh dung hợp văn hóa người Môn và người Miến trong khuôn khổ Phật giáo Nam tông.
- Khoảng 1091 tới 1105Khởi dựng và khánh thành đền AnandaNgôi đền được khởi công khoảng năm 1090 hoặc 1091 và hoàn thành đại lễ cung hiến vào năm 1105 SCN với mặt bằng chữ thập đối xứng, tháp shikhara cao 51 mét và hệ thống 1.500 tác phẩm điêu khắc đá.
- 1137Xây dựng tu viện gạch Ananda Okkyaung bên cạnh đềnBa anh em quan lại trong triều dựng tu viện gạch hai tầng Ananda Okkyaung ngay trong khuôn viên phía bắc đền để làm nơi cư trú cho chư tăng, về sau được vẽ thêm các bức bích họa tuyệt đẹp vào thế kỷ 18.
- Thế kỷ 17 tới thế kỷ 18Phục chế hai đại tượng Phật hướng Đông và hướng TâySau khi hai pho tượng gỗ ở khám Đông và khám Tây bị hư hại do cháy, triều đình cho tạc mới hai pho tượng gỗ tếch thếp vàng theo phong cách Konbaung để hoàn trả đủ bốn vị Phật bốn phương.
- 1975 và 1990Trùng tu sau động đất 1975 và thếp vàng kỷ niệm 900 năm (1990)Trận động đất mạnh ngày 8 tháng 7 năm 1975 tại Bagan làm hư hại phần chóp tháp Ananda, nhưng đền đã được trùng tu kiên cố ngay sau đó. Năm 1990, nhân kỷ niệm 900 năm khởi dựng, ngọn tháp chính và các tháp nhỏ trên mái được thếp vàng lá rực rỡ.
- 2010 tới 2018 và 2019Hợp tác bảo tồn với Ấn Độ và ghi danh Di sản UNESCO (2019)Cơ quan Khảo cổ học Ấn Độ (ASI) phối hợp với Myanmar trùng tu kết cấu và làm sạch bích họa cổ trong đền. Ngày 6 tháng 7 năm 2019, khu khảo cổ Bagan cùng đền Ananda chính thức được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới.
Nhà khảo cổ học người Pháp Charles Duroiselle (người từng đứng đầu Cơ quan Khảo cổ học Miến Điện đầu thế kỷ 20) khi nghiên cứu tỉ mỉ kết cấu vòm gạch, ngọn tháp shikhara và 80 bức phù điêu đá trong hành lang đền Ananda đã nhận định rằng công trình mang dấu ấn sâu đậm của kiến trúc đền tháp vùng Bengal và Odisha (Đông Ấn Độ, đặc biệt là chùa Paharpur và hang Ananta ở đồi Udayagiri), kết hợp nhuần nhuyễn với kỹ thuật gạch men của người Môn. Chính sự giao thoa ấy đã khiến giới nghiên cứu phương Tây ví đền Ananda như Tu viện Westminster của Miến Điện.
IIIMặt Bằng Chữ Thập Hy Lạp, Bốn Đại Tượng Gỗ Tếch Và Hơn 1.400 Viên Gạch Men
Đền Ananda được đánh giá là công trình có tỷ lệ hình học chuẩn xác nhất tại Bagan. Khối thân đền chính là một hình vuông mỗi cạnh dài 53 mét (174 foot), tường gạch cao 12 mét (39 foot). Từ chính giữa bốn mặt tường vuông ấy, bốn tòa tiền sảnh có mái vòm nhọn nhô ra mỗi phía 17 mét (57 foot), tạo thành mặt bằng chữ thập Hy Lạp cân xứng tuyệt đối với tổng chiều dài từ đầu sảnh này sang đầu sảnh đối diện là 88 mét (290 foot).
Phía trên khối thân đền là hai tầng mái uốn cong thu dần vào trong, tiếp nối bởi bốn tầng nền bậc thang vuông nâng đỡ ngọn tháp chính kiểu shikhara (tháp bốn cạnh uốn cong hình búp ngô nguồn gốc Bắc Ấn Độ) kết thúc bằng thân tháp tròn và chiếc lọng vàng hti ở độ cao 51 mét (167 foot). Ở các góc của tầng mái và đỉnh bốn cổng vòm đều có các tháp nhỏ đồng dạng vây quanh tháp chủ như chư thiên vây quanh đỉnh núi Tu Di.
Ở chính tâm đền là một khối lập phương bằng gạch đặc khổng lồ đỡ sức nặng của tháp chính. Bốn mặt khối trụ khoét bốn hốc vòm sâu cao vút tôn trí bốn pho tượng Phật đứng bằng gỗ tếch dát vàng cao 9,5 mét đặt trên tòa sen cao 2,4 mét: Phật Câu Lưu Tôn (Bắc), Phật Câu Na Hàm (Đông), Phật Ca Diếp (Nam) và Phật Thích Ca (Tây).
Pho tượng gỗ tếch nguyên bản thế kỷ 12 ở mặt Nam được thiết kế phối hợp với giếng trời chiếu sáng từ trên cao: khi đứng ở ngoài cửa hành lang nhìn vào, quý vị thấy Đức Phật đang mỉm cười hiền từ, nhưng khi bước lại đứng ngay dưới chân bệ ngước lên, gương mặt Ngài trở nên trầm mặc, uy nghiêm.
Đặt hai bên chân bệ tượng Phật Thích Ca ở khám thờ phía Tây: hai pho tượng sơn mài thếp vàng tạc vua Kyanzittha đội mũ miện hoàng gia và vị cao tăng Shin Arahan đang quỳ chắp tay chiêm bái Đức Phật.
Bao quanh khối trụ trung tâm là hai vòng hành lang cao có mái vòm gạch liên kết bởi các lối đi xuyên tâm. Dọc hành lang ngoài có 80 bức phù điêu lớn tạc từ đá núi lửa nguyên khối (cao trung bình 1,1 m) khắc họa liên hoàn cuộc đời Thái tử Tất Đạt Đa từ khi đản sinh tới lúc thành đạo.
Gắn dọc chân tường ngoài và năm tầng mái trên cao: chân tường từ Nam sang Tây có 552 viên khắc đoàn quân ma vương Mara tiến đánh và thất bại, từ Tây sang Bắc có các đoàn chư thiên chúc tụng, còn trên các tầng mái có hơn 900 viên gạch men xanh khắc đủ 547 chuyện tiền thân Phật (đặc biệt riêng bộ Vessantara Jataka và Thập Đại Bản Sinh được khắc rất chi tiết kèm chữ Môn cổ).
Tòa tu viện xây bằng gạch nung đỏ nằm ngay phía bắc đền chính, bên trong còn bảo tồn các bức tranh tường thế kỷ 18 vẽ cảnh sinh hoạt của người dân Myanmar xưa và chư thiên lễ Phật.
| Hạng mục | Thông số khảo cổ | Ghi chú và nguồn đối chiếu |
|---|---|---|
| Tổng chiều dài mỗi trục chữ thập | Khoảng 88 m (290 foot) | Khối vuông giữa 53 m, mỗi tiền sảnh nhô ra 17 m |
| Chiều cao tổng thể (tới đỉnh lọng hti) | 51 m (167 foot) | Tường bao thân đền cao 12 m (39 foot) |
| Bốn đại tượng Phật đứng bằng gỗ tếch | Cao 9,5 m (31 foot), bệ sen cao 2,4 m (8 foot) | Tượng Bắc và Nam nguyên bản thế kỷ 12, Đông và Tây tạc lại thời Konbaung |
| Phù điêu đá cuộc đời Đức Phật | 80 bức lớn (trong tổng số khoảng 1.500 tượng đá) | Tạc bằng đá núi lửa nguyên khối ở vòng hành lang ngoài |
| Gạch men xanh khắc tích Jataka | Hơn 1.400 viên (552 viên chân tường, hơn 900 viên tầng mái) | Khắc chữ Môn cổ và đánh số thứ tự từng tích truyện |
Cách lấy sáng và thông gió tự nhiên của đền Ananda là một thành tựu kỹ thuật bậc thầy của thế kỷ 11. Dù khối gạch đặc ở tâm đền dày hàng chục mét, các kiến trúc sư thời Kyanzittha đã trổ các giếng trời ẩn xuyên qua vòm mái ngay phía trên đầu bốn pho đại tượng Phật. Nhờ đó, người đi trong hành lang vẫn ở trong bóng râm mát mẻ, nhưng gương mặt vàng của Đức Phật ở trên cao hơn chín mét lại luôn bừng sáng như có hào quang tự thân chiếu rọi.
IVThế Đất Và Hướng
Cần phân định rõ: vua Kyanzittha và các vị cao tăng thiết kế đền Ananda theo vũ trụ luận Phật giáo Nam tông về núi Tu Di (Meru) và động thiền Nandamula, kết hợp quy chuẩn kiến trúc Mandala Ấn Độ, hoàn toàn không dùng phong thủy La Kinh của Trung Hoa hay Việt Nam. Vì đền có mặt bằng chữ thập cân xứng tuyệt đối với bốn tiền sảnh mở ra bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, công trình không có một mặt lưng khép kín như chùa Á Đông mà mở thông cả bốn phương. Phần phân tích dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép hình thế cổ truyền của thư viện để bạn đọc tham khảo.
Xét trên đại cuộc sơn thủy tại tọa độ 21,1708 độ vĩ Bắc, 94,8679 độ kinh Đông, bình nguyên cổ Bagan nằm ở bờ Đông của khúc uốn lớn dòng sông Irrawaddy (Ayeyarwady). Khi chảy từ phía Bắc xuống ngang qua Nyaung-U và thành cổ Bagan, dòng sông lớn uốn cong sang hướng Tây Nam tạo thành thế khúc thủy hoàn bão (nước uốn vòng ôm lấy đất), trong khi bên kia bờ Tây sông là dải núi Tantkyitaung chạy dài làm bức bình phong tiền án và ở phía Đông Nam là ngọn núi thiêng Tuyin Taung cùng núi Popa làm tổ sơn trấn giữ phương xa. Đền Ananda tọa lạc trên thềm đất bằng cao ráo chỉ cách cổng thành cổ Tharabar khoảng hai trăm mét về phía Đông Nam, đón trọn mạch khí của kinh thành cổ Pagan.
Xét về hình khối và hướng, mặt bằng chữ thập chính tuyến (bốn cổng mở đúng bốn hướng chính Bắc, Nam, Đông, Tây) cùng ngọn tháp vàng 51 mét vươn lên ở chính tâm tạo thành cục thế tứ diện bát phương hội tụ trung cung. Tuy bốn cửa đều mở rộng, nhưng xét theo cách bài trí tượng thờ bên trong, cổng và tiền sảnh phía Tây (nhìn về phía cổng thành Tharabar, Hoàng cung cổ và dòng sông Irrawaddy) giữ vai trò trọng tâm nghi lễ: đây là nơi tôn trí tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (vị giáo chủ của thời đại hiện tại), có đặt hai dấu chân Phật bằng đá ở tiền sảnh và hai pho tượng vua Kyanzittha cùng quốc sư Shin Arahan quỳ chầu dưới chân Phật.
Xét theo Ngũ hành hình tướng, toàn bộ thân đền quét vôi trắng muốt (sắc Kim) kết hợp với ngọn tháp shikhara và lọng hti thếp vàng rực rỡ trên đỉnh (cũng thuộc Kim và Hỏa) đứng vững trên nền đất nung đỏ của bình nguyên Bagan (hành Thổ). Trong lý thuyết Ngũ hành, Thổ sinh Kim: nền đất cổ nuôi dưỡng khối kiến trúc trắng và vàng, còn cấu trúc hai vòng hành lang vòm gạch dày kết hợp cửa thông tứ phía giúp luồng khí lưu thông liên tục, giữ cho nội điện luôn mát mẻ giữa vùng bán khô hạn trung tâm Myanmar.
VĐại Hội Chùa Tháng Pyatho Và Bảy Mươi Hai Giờ Tụng Kinh Liên Tục
Đền Ananda là một thánh địa Phật giáo đang sống với hoạt động lễ bái diễn ra suốt bốn mùa. Lễ hội lớn nhất và nổi tiếng nhất của đền là Hội chùa Ananda (Ananda Pagoda Festival) kéo dài suốt một tuần lễ vào dịp trăng tròn tháng Pyatho theo âm dương lịch Myanmar (thường rơi vào tháng 12 hoặc tháng 1 dương lịch).
| Thời điểm | Hệ lịch | Tên lễ hội | Nghi thức truyền thống tại Đền Ananda |
|---|---|---|---|
| Trăng tròn tháng Pyatho (kéo dài khoảng 1 tuần) | Lịch Myanmar (khoảng tháng 12 tới tháng 1 dương lịch) | Đại hội Đền Ananda (Ananda Paya Pwe) | Hàng trăm chiếc xe bò truyền thống từ các làng quê quanh vùng Bagan kéo về cắm trại quanh đền. Hơn 1.000 vị sư thay phiên nhau tụng kinh Paṭṭhāna liên tục suốt 72 giờ ngày đêm, và vào sáng ngày rằm hàng nghìn tín đồ xếp hàng dâng bát cúng dường chư tăng. |
| Trăng tròn tháng Kasone | Lịch Myanmar (khoảng tháng 4 tới tháng 5) | Đại lễ Phật Đản Kasone | Phật tử rước nước tưới cội Bồ Đề và đi nhiễu quanh bốn đại tượng Phật đứng trong lòng đền để tưởng niệm ngày Đức Phật đản sinh, thành đạo và nhập Niết Bàn. |
| Trăng tròn tháng Thadingyut | Lịch Myanmar (khoảng tháng 10) | Lễ hội Ánh sáng Thadingyut (Mãn hạ) | Mừng ngày Đức Phật từ cung trời Đạo Lợi trở về trần gian sau mùa an cư, toàn bộ sân gạch và tường bao đền Ananda được thắp sáng bằng hàng vạn ngọn nến và đèn dầu. |
| Trăng tròn tháng Tazaungmon | Lịch Myanmar (khoảng tháng 11) | Lễ dâng y Kathina và hội Tazaungdaing | Các gia đình Phật tử vùng Mandalay và Nyaung-U về đền dâng y cà sa mới và thếp vàng lá lên các pho tượng Phật. |
Đối với các đoàn hành hương Phật giáo từ Việt Nam sang chiêm bái cố đô Bagan, đền Ananda cùng với Chùa Shwezigon, Bagan là hai điểm dừng chân trọng tâm nhất: nếu Shwezigon là đại bảo tháp vàng thờ xá lợi Phật ở ngoài trời thì Ananda là ngôi đền có không gian nội tâm sâu lắng nhất để tụng kinh và chiêm ngưỡng bốn vị Phật của Hiền kiếp.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Southeast of Tharabar Gate, Old Bagan, Nyaung-U Township, Mandalay Region, Myanmar
- Đường tới
- Đền Ananda nằm ngay bên ngoài góc đông nam của bức tường thành cổ Bagan (Old Bagan), cách cổng thành Tharabar khoảng 200 mét về phía đông nam, thuộc thị trấn Nyaung-U, vùng Mandalay. Từ sân bay Nyaung-U hoặc bến tàu sông Irrawaddy, quý vị đi taxi hoặc xe điện khoảng 15 tới 20 phút theo đường Anawrahta là tới cổng đền.
- Toạ độ
- 21.1708, 94.8679
Theo quy tắc bất di bất dịch tại tất cả các chùa và đền Phật giáo ở Myanmar, quý vị bắt buộc phải cởi bỏ hoàn toàn giày, dép và cả tất (vớ) ngay từ cổng ngoài cùng trước khi bước vào lối hành lang dẫn vào sân đền Ananda. Trang phục phải kín vai và dài qua đầu gối. Khi đi nhiễu qua hai vòng hành lang vòm cuốn bên trong để chiêm bái bốn pho đại tượng Phật đứng và 80 bức phù điêu đá, quý vị nên đi theo chiều kim đồng hồ và giữ trật tự cho người đang lễ Phật. Để thấy rõ sự thay đổi nét mặt kỳ diệu của pho tượng Phật Ca Diếp ở khám thờ phía Nam, quý vị hãy đứng ngắm từ ngoài hành lang trước rồi mới từ từ bước lại gần dưới chân bệ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Ananda, Bagan
Contribute photos, information or video for Ananda TempleThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tên gọi Đền Ananda có nghĩa là gì
Tên gọi Ananda bắt nguồn từ cụm từ tiếng Phạn và tiếng Pali là Ananta Pinnya (Ananta Panna), nghĩa là Trí Tuệ Vô Biên của Đức Phật. Về sau tên này được đọc giản lược thành Ananda, vừa trùng với tên tôn giả A Nan Đà (thị giả thân cận của Đức Phật) vừa mang nghĩa là niềm hỷ lạc trong tiếng Pali.
Bốn pho đại tượng Phật đứng trong đền Ananda là những vị Phật nào
Bốn pho tượng Phật đứng bằng gỗ tếch dát vàng cao 9,5 mét ở bốn mặt khối trụ trung tâm đại diện cho bốn vị Phật đã thành đạo trong Hiền kiếp hiện tại: hướng Bắc là Phật Câu Lưu Tôn (Kakusandha), hướng Đông là Phật Câu Na Hàm (Konagamana), hướng Nam là Phật Ca Diếp (Kassapa) và hướng Tây là Phật Thích Ca Mâu Ni (Gautama).
Tượng nào trong bốn pho đại tượng Phật ở đền Ananda là tượng nguyên bản thế kỷ 12
Chỉ có hai pho tượng quay về hướng Bắc (Phật Câu Lưu Tôn) và hướng Nam (Phật Ca Diếp) là tác phẩm gỗ tếch nguyên bản từ thời vua Kyanzittha hoàn thành đền năm 1105. Hai pho tượng hướng Đông và hướng Tây được tạc lại vào thời kỳ sau theo phong cách Konbaung do tượng gốc bị hư hại trong các vụ hỏa hoạn lịch sử.
Tại sao tượng Phật Ca Diếp ở hướng Nam có nụ cười thay đổi theo khoảng cách nhìn
Nhờ nghệ thuật tạo hình góc nghiêng gương mặt của nghệ nhân thế kỷ 12 kết hợp với luồng ánh sáng tự nhiên chiếu từ giếng trời trên cao xuống, khi người xem đứng ở xa ngoài cửa hành lang nhìn vào sẽ thấy Đức Phật Ca Diếp đang mỉm cười hoan hỷ, nhưng khi bước lại đứng sát dưới chân bệ ngước lên thì thấy gương mặt Ngài trầm mặc và trang nghiêm.
Hai pho tượng nhỏ quỳ dưới chân tượng Phật ở khám thờ phía Tây là ai
Đó là hai pho tượng chân dung bằng sơn mài thếp vàng cỡ người thật có từ đầu thế kỷ 12: pho tượng đội mũ miện hoàng gia bên trái là vua Kyanzittha (người khởi dựng đền Ananda), còn pho tượng mặc y tu sĩ bên phải là đại quốc sư người Môn Shin Arahan (người truyền bá Phật giáo Nam tông cho vương triều Pagan).