Đi qua cổng Nam của kinh thành Angkor Thom trên cây cầu đá có hai hàng thần Deva và quỷ Asura ôm thân rắn thần Naga bảy đầu, quý vị theo con đường thẳng tắp xuyên dưới tán rừng già thêm một cây số rưỡi nữa là tới đúng tâm điểm của kinh thành. Không có hào nước riêng hay vòng tường bao xa tắp như ở Angkor Wat, đền Bayon đột ngột hiện ra như một cụm núi đá xám bạc mọc thẳng từ mặt đất. Khi còn đứng ở sân dưới, người mới tới chỉ thấy những khối đá chồng chất lên nhau khá chật hẹp. Nhưng vừa bước chân lên tầng nền thứ ba, một cảnh tượng kỳ lạ lập tức vây kín bốn phía: từ trên 37 ngọn tháp đá vây quanh tháp chính, hàng trăm gương mặt khổng lồ với đôi mắt khép hờ, sống mũi thẳng và đôi môi dày khẽ nhếch đang lặng lẽ nhìn xuống quý vị từ mọi góc độ.
Người Việt xưa khi gọi cả vùng di tích Siem Reap là Đế Thiên Đế Thích đã dùng chữ Đế Thiên để chỉ Đền Angkor Wat và chữ Đế Thích để chỉ kinh thành Angkor Thom cùng ngôi đền trung tâm Bayon này. Đây là ngôi đền quốc gia cuối cùng được xây dựng tại cố đô Angkor, và cũng là ngôi đền quốc gia duy nhất của đế chế Khmer được khởi dựng ngay từ đầu cho Phật giáo Đại thừa dưới triều vua Jayavarman VII vào cuối thế kỷ 12, đầu thế kỷ 13 trước khi trở thành nơi lễ bái của Phật giáo Nam tông từ thế kỷ 14 đến nay.

INụ Cười Lokesvara Và Bí Ẩn Những Gương Mặt Bốn Phương
Tên gọi Bayon ngày nay thực chất là cách phiên âm chữ Latinh do nhà khảo cổ học người Pháp Étienne Aymonier ghi lại vào năm 1880 từ chữ Khmer Bayânt. Theo giải thích của Aymonier và học giả Maurice Glaize, Bayânt là dạng biến âm của từ tiếng Pali Vejayanta hay tiếng Phạn Vaijayanta, tên gọi tòa thiên cung của thần Đế Thích (Indra) trên đỉnh núi vũ trụ mà ngôi đền dưới trần gian được xem là hình ảnh phản chiếu. Còn trong các văn bia chữ Phạn thời vua Jayavarman VII, ngôi đền mang tên gốc là Jayagiri (Jaya là chiến thắng, giri là núi, tức Núi Chiến Thắng). Tên gọi Đế Thích trong dân gian người Việt xưa vì thế trùng khớp một cách thú vị với gốc từ thiên cung Vaijayanta của thần Đế Thích Indra.
Khác với các vị tiên đế tôn thờ thần Shiva hoặc thần Vishnu của Ấn Độ giáo, vua Jayavarman VII (trị vì từ năm 1181 tới khoảng năm 1218 hoặc 1220) là một Phật tử Đại thừa thuần thành. Ông kiến thiết lại toàn bộ kinh thành Angkor Thom rộng 9 kilômét vuông và đặt đền Bayon ở đúng tâm hình học của kinh thành để làm đền thờ quốc gia, quy tụ cả chư Phật, Bồ Tát lẫn hàng trăm vị thần bảo hộ của khắp các châu quận trong vương quốc về cùng một trung tâm vũ trụ.
Câu hỏi lớn nhất của khách hành hương và giới nghiên cứu hơn một thế kỷ qua là hơn hai trăm gương mặt đá trên các ngọn tháp Bayon khắc họa ai. Học giả Pháp George Coedès cùng phần lớn các nhà nghiên cứu Phật học chỉ ra rằng những gương mặt ấy biểu trưng cho Bồ Tát Quán Tự Tại (Avalokiteshvara, mà người Khmer thời Angkor tôn xưng là Lokesvara, tức Thế Tự Tại Vương), vị Bồ Tát hiện thân cho lòng đại từ đại bi luôn lắng nghe và dõi nhìn cứu khổ chúng sinh ở khắp bốn phương tám hướng. Đồng thời, các đường nét trên gương mặt tháp lại giống hệt những pho tượng chân dung bằng đá đã được xác thực của chính vua Jayavarman VII. Trong tư tưởng vương quyền Phật giáo thời ấy, nhà vua tự đặt mình vào vị trí một vị Phật vương hay Bồ Tát sống (Buddharaja) chăm lo cho muôn dân, nên gương mặt trên tháp là sự hòa quyện giữa dung mạo từ bi của Bồ Tát Lokesvara và chân dung của vị quốc vương.
Một hướng giải thích khác của cư dân địa phương và một số học giả lưu ý rằng hình tượng bốn mặt nhìn bốn hướng (chaturmukha) vốn là biểu trưng truyền thống của thần sáng tạo Brahma trong Ấn Độ giáo, và trên các gương mặt ở Bayon có chạm vương miện, hoa tai lớn, vòng cổ cùng một vạch thẳng đứng giữa trán giống con mắt thứ ba của thần Shiva. Theo Coedès, hai cách hiểu này không loại trừ nhau: các nghệ nhân Khmer đã mượn hình thức bốn mặt của thần Brahma quen thuộc để diễn đạt sự hiện diện khắp mọi phương của Bồ Tát Lokesvara, còn dấu vết mắt thứ ba của Shiva là phần chạm sửa thêm khi vương triều ngắn ngủi sau đó quay lại Ấn Độ giáo.
Tại buồng thờ chính tâm dưới ngọn tháp trung tâm cao 43 mét, tượng thờ chủ nguyên thủy của đền Bayon không phải tượng Lokesvara mà là một đại tượng Đức Phật Thích Ca ngồi thiền định dưới tán rắn thần Naga Mucalinda cao 3,6 mét bằng đá sa thạch. Theo kinh điển Phật giáo, trong tuần lễ thứ sáu sau khi thành đạo dưới cội Bồ Đề Đạo Tràng, trời nổi mưa bão lớn suốt bảy ngày, vua rắn Mucalinda đã trồi lên quấn bảy vòng nâng thân Đức Phật khỏi mặt nước và xòe chiếc mang khổng lồ che mưa gió cho Ngài nhập định. Giữa thế kỷ 13, dưới triều vua Jayavarman VIII theo phái Shiva, pho tượng Phật này bị tháo khỏi chánh điện, đập vỡ làm nhiều mảnh và ném xuống đáy giếng sâu ngay dưới chân tháp để thay bằng một ngẫu tượng Linga. Tới năm 1933, nhà khảo cổ Pháp Georges Trouvé đã tìm thấy các mảnh vỡ dưới đáy giếng, trục vớt và ghép phục nguyên lại pho tượng Phật ngồi dưới tán rắn thần với nụ cười tĩnh tại đặc trưng của nghệ thuật Bayon.
Chỗ hay nhầm phổ biến nhất là nhiều sách du lịch chép cứng rằng đền Bayon có đúng 54 ngọn tháp và 216 gương mặt đá (lấy 54 nhân 4). Thực tế khảo cổ học phức tạp hơn nhiều. Theo khảo cứu của Maurice Glaize và Đội Bảo tồn Angkor của Chính phủ Nhật Bản (JSA), số lượng tháp đã thay đổi qua nhiều giai đoạn xây nối thêm ngay trong thời cổ đại: có thời điểm đền có 49 ngọn tháp (hoặc 54 tháp nếu tính cả các tháp cổng phụ), và không phải tháp nào cũng tạc đủ bốn mặt vì có những tháp chỉ tạc hai hoặc ba mặt. Hiện nay trên thực địa chỉ còn 37 ngọn tháp đứng vững với khoảng 200 gương mặt đá còn nhận diện được ở các mức độ nguyên vẹn khác nhau. Thư viện ghi rõ cả con số truyền thống 54 tháp, 216 mặt lẫn số liệu kiểm đếm thực tế 37 tháp, khoảng 200 mặt để quý vị nắm chuẩn xác.
IIBa Lớp Tôn Giáo Chồng Lên Một Khối Đá
Ít có ngôi đền nào ở Đông Nam Á mang trên mình dấu vết biến thiên tôn giáo rõ rệt như đền Bayon. Khác với Đền Angkor Wat được xây dựng theo một bản thiết kế thống nhất ngay từ đầu dưới thời Suryavarman II, đền Bayon được sửa đổi bố cục liên tục qua ít nhất ba giai đoạn lớn: khởi dựng theo Phật giáo Đại thừa, cải tạo sang Ấn Độ giáo phái Shiva vào giữa thế kỷ 13, rồi chuyển hóa thành chùa Phật giáo Nam tông từ thế kỷ 14 trước khi được bảo tồn bằng kỹ thuật trùng tu nguyên gốc trong thế kỷ 20.
- 1181Vua Jayavarman VII lên ngôi và dựng kinh thành Angkor ThomSau khi thu phục lại kinh đô, vua Jayavarman VII cho quy hoạch kinh thành mới Angkor Thom rộng 9 km vuông với hào sâu và tường thành đá ong cao 8 mét, lấy Phật giáo Đại thừa làm nền tảng tinh thần của vương quốc.
- Cuối thế kỷ 12 tới đầu thế kỷ 13Khởi dựng đền quốc gia Bayon (Jayagiri)Nhà vua cho xây đền Bayon ở chính tâm kinh thành. Ban đầu đền được thiết kế trên nền thấp hình chữ thập, sau đó ngay dưới triều Jayavarman VII được đắp mở rộng thành bình đồ vuông, nâng thêm tầng nền cao ở giữa với các ngọn tháp mặt người và đặt tượng Phật ngồi dưới tán rắn Mucalinda ở điện trung tâm.
- Giữa thế kỷ 13Biến cải sang Ấn Độ giáo dưới thời Jayavarman VIIIVua Jayavarman VIII (trị vì khoảng 1243 tới 1295) khôi phục Ấn Độ giáo phái Shiva làm quốc giáo, cho tháo tượng Phật trung tâm ném xuống giếng, phá bỏ 16 điện thờ nhỏ trong sân trong, đục bỏ nhiều phù điêu Phật giáo và chạm bổ sung các bức phù điêu thần thoại Hindu ở hành lang trong.
- Thế kỷ 14Chuyển sang Phật giáo Nam tông (Theravada)Khi Phật giáo Nam tông trở thành tôn giáo chung của người Khmer, đền Bayon tiếp tục được dùng làm nơi thờ Phật cho tới khi kinh đô dời về phía nam vào thế kỷ 15.
- 1880 và đầu thế kỷ 20Định danh Bayon và phát lộ tượng Phật trung tâmNăm 1880 học giả Étienne Aymonier ghi nhận tên gọi Bayon. Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO) tiến hành phát quang, gia cố đền và năm 1933 nhà khảo cổ Georges Trouvé tìm thấy bức tượng Phật Mucalinda gốc dưới đáy giếng trung tâm.
- 1992 và từ 1995Di sản Thế giới UNESCO và dự án bảo tồn quốc tế JSANăm 1992 quần thể Angkor được UNESCO ghi danh Di sản Thế giới. Từ năm 1995, Đội Bảo tồn Angkor của Chính phủ Nhật Bản (JSA) phối hợp với UNESCO và Cơ quan APSARA đảm nhận trùng tu lớn các tháp mặt đá và hệ thống thoát nước của đền Bayon.
Trong lịch sử nghệ thuật Khmer, nếu Angkor Wat được xem là chuẩn mực của phong cách cổ điển cân xứng và thoáng đạt thì đền Bayon được Đội Bảo tồn JSA và học giả Maurice Glaize gọi là đỉnh cao của phong cách Baroque Khmer: các khối kiến trúc ken dày đặc, tầng tầng lớp lớp tháp đá chen chúc nhau trên một diện tích nền thu gọn, tạo nên cảm giác choáng ngợp và huyền bí ngay khi người xem bước qua các lối hành lang hẹp.
Năm 1296, sứ thần nhà Nguyên là Châu Đạt Quan (Zhou Daguan) tới thăm kinh thành Angkor Thom và chép lại trong sách Chân Lạp phong thổ ký rằng ở đúng trung tâm vương thành có một tòa tháp vàng (tức tháp chính đền Bayon khi xưa từng được thếp vàng hoặc bọc đồng mạ vàng) vây quanh bởi hơn hai mươi tòa tháp đá và hàng trăm gian buồng đá. Tư liệu tận mắt ấy chứng minh vào cuối thế kỷ 13, ngọn tháp trung tâm của Bayon từng rực sáng giữa kinh thành chứ không chỉ mang màu đá xám như hiện nay.
IIIBa Tầng Nền, Hai Vòng Phù Điêu Và Tháp Trung Tâm
Đền Bayon không có tường bao và hào nước riêng vì chính bốn bức tường đá ong dài 3 kilômét mỗi cạnh và con hào rộng 100 mét của kinh thành Angkor Thom đã làm vòng thành và hào nước cho ngôi đền. Bản thân khối đền nằm ở giao điểm của bốn con đường lớn chạy thẳng từ bốn cổng thành về tâm (riêng phía đông có thêm Cổng Chiến Thắng dẫn vào Hoàng cung, nên cả kinh thành có năm cổng). Cấu trúc của đền gồm ba tầng nền đồng tâm (vòng hành lang ngoài, vòng hành lang trong và tầng thượng nâng các tháp mặt đá), thu hẹp dần và nâng cao dần về phía tháp trung tâm theo mô hình núi vũ trụ Meru.
Do được sửa đổi thiết kế ngay trong quá trình xây dựng, khoảng sân giữa hành lang trong và tầng thượng rất hẹp, khiến các ngọn tháp đứng sát cạnh nhau như một rừng đá. Vật liệu chính của đền là đá sa thạch xám xếp chồng khít không dùng vữa trên móng đá ong. Khác với kỹ thuật ghép đá bền vững ở Angkor Wat, các khối sa thạch ở Bayon được cắt nhỏ hơn và chồng theo mạch thẳng để kịp tiến độ xây dựng khổng lồ thời Jayavarman VII, nhưng bù lại phần điêu khắc trên mặt đá lại mang sức biểu cảm sống động hiếm có.
Vòng hành lang thấp nhất bao quanh đền, vốn có mái vòm giả bằng đá nhưng phần mái đã sụp, để lộ dải tường đá chạm nổi liên hoàn về các sự kiện lịch sử và cảnh đời sống thường nhật của người dân Khmer thế kỷ 12, 13.
Nằm cao hơn hành lang ngoài một bậc nền, có các góc gấp khúc chữ thập về sau được nối vuông lại. Tường hành lang này khắc chủ yếu các tích thần thoại Ấn Độ giáo về thần Shiva, Vishnu, Brahma và tích Khuấy biển sữa do vua Jayavarman VIII cho chạm bổ sung.
Tầng nền thứ ba nâng đỡ phần lớn trong số 37 ngọn tháp mặt đá còn đứng vững. Mỗi ngọn tháp ghép từ hàng chục khối đá sa thạch tạo thành bốn gương mặt Lokesvara nhìn ra bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc với nụ cười tĩnh lặng.
Khối tháp lớn nhất nằm ở tâm điểm của đền, có mặt bằng hình tròn đường kính khoảng 25 mét (trên gốc chữ thập ban đầu), vươn cao 43 mét so với mặt đất, bao quanh bởi một vòng các buồng thờ nhỏ mở thông nhau.
Điểm độc đáo nhất của Bayon so với Angkor Wat: ngoài cảnh voi chiến và thuyền rồng trên Biển Hồ Tonle Sap, tầng dưới phù điêu hành lang ngoài khắc tỉ mỉ cảnh chợ quê, cân hàng, nấu cơm, nướng cá, chọi gà, đánh cờ, phụ nữ đỡ đẻ và các thương nhân Hoa kiều.
Nằm đối xứng ở hai góc nam và bắc phía trong cổng Đông của sân ngoài, dựng trên nền cao có bậc thang dốc và các cửa sổ con tiện đá đặc trưng của kiến trúc Khmer cổ.
| Hạng mục | Thông số khảo cổ | Ghi chú và nguồn đối chiếu |
|---|---|---|
| Diện tích kinh thành Angkor Thom | 9 km vuông (mỗi cạnh 3 km) | UNESCO và Britannica, hào nước bao quanh rộng 100 m |
| Kích thước hành lang ngoài | Khoảng 160 m nhân 140 m | Maurice Glaize, kéo dài theo trục Đông Tây |
| Kích thước hành lang trong | Khoảng 80 m nhân 70 m | Maurice Glaize, có bốn tháp góc và bốn tháp cổng |
| Chiều cao tháp trung tâm | 43 m | Đo từ mặt sân đền lên đỉnh tháp chính |
| Số tháp mặt đá | 37 tháp hiện còn (trên 49 hoặc 54 tháp gốc) | Glaize và JSA ghi 49 tháp gốc, sách phổ thông ghi 54 tháp |
| Số gương mặt đá | Khoảng 200 mặt hiện còn (trên 216 mặt lý thuyết) | Nhiều mặt đá cao từ 1,8 m tới hơn 2,4 m |
| Tổng chiều dài phù điêu | Khoảng 1.200 m (hơn 11.000 nhân vật) | Tính gộp hai vòng hành lang ngoài và trong |
Khi đi dọc hành lang ngoài theo chiều kim đồng hồ từ cổng Đông sang cánh Nam, quý vị đừng chỉ nhìn tầng phù điêu trên cao mà hãy cúi xuống dải băng đá sát chân tường. Ở Đền Angkor Wat, toàn bộ phù điêu dành cho thần linh và vua chúa, còn ở đền Bayon, người thợ đá thế kỷ 12 đã dành cả một dải dài để khắc lại cuộc sống của chính những người dân thường thời Angkor: người ngồi thổi lửa nấu nồi canh, người rót rượu, hai người đàn ông ôm gà chọi đặt cược, người thợ săn giương cung trong rừng và cả cảnh heo rừng húc nhau. Chính bức biên niên sử bằng đá ấy đã biến Bayon thành kho tư liệu sống động nhất về xã hội Chân Lạp thời trung đại.
IVThế Đất Và Hướng
Cần phân định rõ ngay từ đầu: vua Jayavarman VII và các kiến trúc sư Khmer cuối thế kỷ 12 quy hoạch kinh thành Angkor Thom cùng đền Bayon theo vũ trụ luận Phật giáo Đại thừa kết hợp Ấn Độ giáo (đồ hình Mandala và truyền thuyết Khuấy biển sữa), hoàn toàn không sử dụng phong thủy Bát trạch hay Huyền không của Á Đông. Theo quy chuẩn cổ truyền Khmer, khác với Angkor Wat quay mặt về hướng Tây, đền Bayon mở cửa chính về hướng Đông để đón ánh mặt trời mọc, biểu trưng cho sự giác ngộ và sinh lực khởi đầu ngày mới. Phần phân tích dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép hình thế cổ truyền của thư viện để quý vị có thêm một lăng kính tham khảo về cách chọn huyệt đất lập đô của cổ nhân.
Xét trên bình đồ đại cuộc tại tọa độ 13,4411 độ vĩ Bắc, 103,8586 độ kinh Đông, kinh thành Angkor Thom và đền Bayon nằm trên dải đồng bằng phù sa thoai thoải nghiêng từ dãy núi thiêng Phnom Kulen ở phía Đông Bắc xuống Biển Hồ Tonle Sap ở phía Nam. Đọc theo phép tầm long cổ truyền, dãy Phnom Kulen chính là tổ sơn phát mạch và cũng là nguồn cung cấp cả khối đá sa thạch lẫn nguồn nước sông Siem Reap chảy dọc bên sườn đông kinh thành. Đặt kinh thành ở khoảng đất bằng giữa sơn nguyên phía bắc và đại hồ phía nam là thế tọa sơn hướng thủy ở tầm vĩ mô, lưng có núi cao che chắn, mặt có bồn nước khổng lồ làm đại minh đường tụ thủy.
Xét riêng bố cục nội thành, đền Bayon chiếm giữ đúng chính tâm hình học (giao điểm chữ thập của hai trục Bắc Nam và Đông Tây nối bốn cổng thành). Trong phép hình thế phương Đông, vị trí trung cung của một tòa thành vuông vức rộng 9 kilômét vuông là nơi tứ phương triều củng, khí từ bốn cửa thành theo bốn đại lộ thẳng tắp dẫn vào hội tụ tại một điểm duy nhất. Bao bọc ngoài cùng là vòng hào nước rộng 100 mét chu vi 12 kilômét tạo thành thế ngọc đới thủy khép kín bốn mặt, giữ cho mạch khí nội thành không bị tán thoát ra đồng bằng xung quanh.
Về hướng công trình, đền Bayon tọa Tây hướng Đông (lưng tựa về phía Tây, mặt chính mở ra phía Đông). Trước mặt đền về phía Đông là khoảng quảng trường Hoàng gia rộng lớn cùng Sân Voi và Sân Vua Cùi đóng vai trò nội minh đường thoáng đãng, giúp luồng sinh khí và nắng sớm từ Cổng Chiến Thắng cùng Cổng Đông chiếu thẳng vào tháp trung tâm. Đặc biệt, trên tầng thượng, việc dựng hàng chục ngọn tháp với bốn gương mặt quay đủ bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc tạo nên một trường thị giác và tâm thức cân bằng: dù đứng ở góc nào trên nền đền, người chiêm bái cũng cảm nhận được sự hiện diện tĩnh tại của trung tâm vũ trụ.
VNghi Lễ Phật Giáo Nam Tông Và Mùa Hội Ở Kinh Thành Cổ
Ngày nay, dưới chân các ngọn tháp mặt đá và tại các gian thờ mở quanh tháp trung tâm của đền Bayon vẫn có các pho tượng Phật được khoác y vàng và có hương hoa do người dân bản địa cùng chư tăng Phật giáo Nam tông (Theravada) chăm sóc hằng ngày. Các kỳ lễ tiết lớn tại đền và trong khu vực Angkor Thom được cử hành theo âm dương lịch Khmer, gắn liền với nhịp sống tâm linh của hơn một trăm ngôi làng truyền thống nằm trong vùng di sản.
| Thời điểm | Hệ lịch | Tên lễ tiết | Hoạt động tâm linh tại khu vực Bayon và Angkor Thom |
|---|---|---|---|
| Giữa tháng 4 (thường từ 13 tới 16 tháng 4) | Lịch Khmer (Chol Chnam Thmey) | Tết cổ truyền Khmer | Người dân Siem Reap mặc trang phục truyền thống vào đền Bayon và các chùa trong khu vực Angkor Thom dâng hoa sen, nhang đèn, đắp núi cát cầu phúc và xin chư tăng tụng kinh chúc lành đầu năm mới. |
| Rằm tháng 6 âm lịch Khmer (khoảng tháng 5) | Lịch Khmer | Đại lễ Phật Đản Visak Bochea | Tưởng niệm ngày Đức Phật đản sinh, thành đạo và nhập Niết Bàn. Các vị sư và tín đồ cử hành lễ nhiễu tháp, dâng hoa và thắp nến cầu nguyện hòa bình. |
| Rằm tháng 3 âm lịch Khmer (khoảng tháng 2 tới tháng 3) | Lịch Khmer | Lễ Meak Bochea | Kỷ niệm ngày Đức Phật thuyết giới bổn Patimokkha cho 1.250 vị A La Hán, chư tăng và Phật tử tụng kinh và hành thiền quanh khu di tích. |
| Tháng 9 tới tháng 10 (15 ngày cuối tháng 10 lịch Khmer) | Lịch Khmer | Lễ hội Pchum Ben (Lễ Báo hiếu) | Mùa lễ tưởng nhớ tổ tiên lớn nhất trong năm của người Khmer, các gia đình lên chùa dâng cơm vắt (bay ben) và phẩm vật cúng dường Tăng đoàn để hồi hướng công đức cho ông bà đã khuất. |
| Tháng 11 (rằm tháng 12 lịch Khmer) | Lịch Khmer | Lễ hội Nước Bon Om Touk | Mừng mùa nước rút từ Biển Hồ Tonle Sap, gắn liền với ký ức truyền thống đua thuyền được khắc họa ngay trên các bức phù điêu thế kỷ 12 ở hành lang nam đền Bayon. |
Đối với du khách và Phật tử Việt Nam khi hành hương tới Siem Reap, đền Bayon luôn là điểm dừng chân song hành cùng Đền Angkor Wat. Nếu Angkor Wat gây ấn tượng bởi quy mô vĩ đại của một đền núi Ấn Độ giáo thì Bayon lại chạm tới chiều sâu nội tâm bằng nụ cười quán chiếu của Bồ Tát Quán Tự Tại, vị Bồ Tát vốn vô cùng gần gũi trong đời sống tâm linh của người Việt.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Angkor Thom, Angkor Archaeological Park, Krong Siem Reap, Siem Reap, Cambodia
- Đường tới
- Đền Bayon nằm ở chính tâm kinh thành cổ Angkor Thom, cách đền Angkor Wat khoảng 1,7 km về phía bắc và cách trung tâm thành phố Siem Reap khoảng 7,5 km về phía bắc. Từ thị xã Siem Reap, quý vị đi theo đường Charles de Gaulle qua cổng kiểm soát vé vào Angkor Wat, tiếp tục đi thẳng qua cổng Nam Angkor Thom thêm 1,5 km là tới chân đền.
- Toạ độ
- 13.4411, 103.8586
Đền Bayon nằm ngay trung tâm khu di tích Angkor Thom và là nơi tôn nghiêm có đặt tượng Phật thờ phụng. Quý vị tới thăm cần mặc trang phục kín vai và dài qua đầu gối theo quy định chung của Cơ quan quản lý APSARA. Bậc đá dẫn lên tầng thượng nơi có các tháp mặt người khá cao, hẹp và mòn nhẵn qua tám thế kỷ, quý vị cần bước chậm và vịn tay chắc chắn. Tuyệt đối không trèo lên các bệ cửa sổ, không chạm tay hay tỳ người vào các gương mặt đá và các bức phù điêu ở hai dãy hành lang. Thời điểm ánh sáng đẹp nhất để chiêm ngưỡng rõ đường nét các gương mặt đá là buổi sáng sớm sau khi mặt trời lên hoặc xế chiều khi nắng nghiêng tạo độ tương phản sâu trên mặt đá sa thạch.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Bayon, Angkor Thom
Contribute photos, information or video for BayonThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền Bayon thờ vị thần hay vị Phật nào
Đền Bayon được vua Jayavarman VII khởi dựng vào cuối thế kỷ 12, đầu thế kỷ 13 theo Phật giáo Đại thừa để thờ Đức Phật (với pho tượng chính là Đức Phật ngồi thiền định dưới tán rắn thần Mucalinda cao 3,6 mét) và Bồ Tát Quán Tự Tại Lokesvara. Giữa thế kỷ 13 đền từng bị cải sang thờ thần Shiva dưới triều Jayavarman VIII, rồi từ thế kỷ 14 trở thành nơi thờ Phật của Phật giáo Nam tông cho tới ngày nay.
Đền Bayon có bao nhiêu tháp và bao nhiêu gương mặt đá
Nhiều tài liệu du lịch ghi con số lý thuyết là 54 tháp đá với 216 gương mặt (tính mỗi tháp 4 mặt). Tuy nhiên, khảo cứu khảo cổ của Maurice Glaize và Đội Bảo tồn Nhật Bản (JSA) cho biết thiết kế gốc có khoảng 49 tháp (một số tháp chỉ tạc 2 hoặc 3 mặt), và hiện nay còn 37 ngọn tháp đứng vững với khoảng 200 gương mặt đá còn nhận diện được.
Những gương mặt mỉm cười trên tháp đền Bayon là ai
Học giả George Coedès và phần lớn các nhà nghiên cứu giải thích các gương mặt ấy là sự kết hợp giữa dung mạo từ bi của Bồ Tát Quán Tự Tại (Avalokiteshvara / Lokesvara) nhìn bốn phương cứu khổ chúng sinh và chân dung của chính vua Jayavarman VII trong vai trò Phật vương. Một số học giả khác lưu ý kiểu tháp bốn mặt cũng kế thừa biểu tượng bốn mặt của thần Brahma trong truyền thống Ấn Độ giáo trước đó.
Phù điêu đền Bayon có gì khác với phù điêu Angkor Wat
Phù điêu ở Angkor Wat chủ yếu khắc các sử thi thần thoại Ấn Độ giáo như Ramayana, Mahabharata và tích Khuấy biển sữa. Trong khi đó, hành lang ngoài của đền Bayon khắc họa trực tiếp lịch sử và đời sống thường nhật của người dân Khmer cuối thế kỷ 12 như cảnh họp chợ, nấu ăn, chọi gà, đánh cờ, săn bắn, chăm sóc người bệnh và cảnh thuyền bè trên Biển Hồ Tonle Sap.
Tại sao người Việt xưa gọi Angkor Thom và đền Bayon là Đế Thích
Trong cụm tên gọi dân gian Đế Thiên Đế Thích, người Việt xưa gọi Angkor Wat là Đế Thiên và gọi kinh thành Angkor Thom cùng đền Bayon là Đế Thích. Tên gọi này trùng hợp với từ nguyên của chữ Bayon (biến âm từ chữ Phạn Vaijayanta hoặc Pali Vejayanta), vốn là tên tòa thiên cung của thần Đế Thích (Indra) mà ngôi đền được xem là hình ảnh phản chiếu dưới trần thế.