VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Lăng Sương (Nam Cung)

Đền Thánh Mẫu Lăng Sương, Nam Cung Tản Viên, Gia Hưng Từ, 凌霜祠

Nam Cung trong hệ thống Tứ cung vùng núi Tản sông Đà và là ngôi đền duy nhất trên cả nước phụng thờ trọn vẹn đại gia đình Đức Thánh Tản Viên ngay tại động Lăng Sương, nơi Thánh mẫu Đinh Thị Đen vượt cạn sinh hạ Ngài.

Khởi dựng
Thời Tiền Lê
khởi dựng lớn thế kỷ 10 (981 - 1009), đại trùng tu năm Thiệu Trị thứ 7 (1847)
Thánh tích
Phiến đá quỳ
tảng đá xanh in dấu tay chân Thánh mẫu Đinh Thị Đen lúc vượt cạn và Giếng Thiên Thanh
Xếp hạng
Di tích quốc gia
Quyết định số 25/2005/QĐ-BVHTT ngày 12/7/2005 của Bộ Văn hóa - Thông tin

Men theo bờ hữu ngạn dòng sông Đà chảy qua vùng đất Thanh Thủy cổ thuộc tỉnh Phú Thọ, khi nhìn sang phía đông là dãy núi Tản Viên (Ba Vì) ba đỉnh uy nghi vươn lên giữa tầng mây trắng, quý vị sẽ đặt chân tới vùng đất cổ mang tên động Lăng Sương (nay thuộc khu 6, xã Tu Vũ, tỉnh Phú Thọ). Nằm dưới bóng những tán cây cổ thụ trầm mặc ven đê sông Đà là Đền Lăng Sương, ngôi cổ miếu giữ vị trí Nam Cung (hoặc Tây Cung tùy theo trục quy chiếu) trong hệ thống Tứ cung linh thiêng phụng thờ Đức Thánh Tản Viên Sơn Thánh.

Trên khắp vùng châu thổ Bắc Bộ và trung du Đất Tổ có hàng trăm ngôi đình, đền thờ vọng hoặc thờ chính vị thần đứng đầu Tứ bất tử của dân tộc Việt Nam, nhưng Đền Lăng Sương là ngôi đền gốc và duy nhất trên cả nước thờ đầy đủ cả đại gia đình Đức Thánh Tản. Chính mảnh đất này là nơi Thánh mẫu Đinh Thị Đen đã mang nặng đẻ đau suốt mười bốn tháng và quỳ trên phiến đá xanh bên bờ Giếng Thiên Thanh để hạ sinh Nguyễn Tuấn, tức Tản Viên Sơn Thánh.

IĐại Gia Đình Đức Thánh Tản Viên Và Huyền Tích Động Lăng Sương Bên Dòng Sông Đà

Thuộc dòng tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên và Quốc Tổ thần linh thời dựng nước Văn Lang, Đền Lăng Sương (tên chữ trong ấn đồng cổ là Gia Hưng Từ 嘉興祠 hay Lăng Sương Từ 凌霜祠) không chỉ thờ riêng một vị thần mà là tổ đình phụng thờ trọn vẹn tám vị tôn thần trong gia đình Tản Viên Sơn Thánh. Tại hậu cung và các ban thờ của đền, nhân dân tôn trí ngai bài vị và tượng thờ của: thân phụ Nguyễn Cao Hành, thân mẫu Đinh Thị Đen (Bà Đen), dưỡng mẫu Ma Thị Cao Sơn Thần Nữ, bản thân Đức Thánh Tản Viên Sơn Thánh (húy Nguyễn Tuấn), hiền thê Ngọc Hoa Công Chúa (con gái vua Hùng Duệ Vương thứ 18), hai người em con chú ruột kiêm bộ tướng tả hữu là Cao Sơn Đại Vương (Nguyễn Sùng) và Quý Minh Đại Vương (Nguyễn Hiển), cùng các vị Khê Cầu Kiều và Khê Cầu Cống (con của thần nữ Ma Thị Cao Sơn).

Theo cuốn Ngọc phả cổ truyền soạn năm Thuận Thiên thứ 3 thời Lê Thái Tổ (1430) hiện còn lưu giữ bản sao tại đền cùng truyền thuyết vùng sông Đà, thân phụ của Đức Thánh là ông Nguyễn Cao Hành (vốn quê gốc ở động An Thái, phủ Quốc Oai, con ông Nguyễn Danh Cát) và người em ruột là ông Nguyễn Cao Hiển (sinh ra hai con trai là Nguyễn Sùng tức Cao Sơn và Nguyễn Hiển tức Quý Minh). Ông Nguyễn Cao Hành lấy vợ là bà Đinh Thị Đen, người con gái hiền thảo của dòng họ Đinh ở vùng Lịch Gia, đất Mông Hóa (Hòa Bình cũ). Hai ông bà tuổi đã cao mà chưa có mụn con nên chuyển về sinh sống tại động Lăng Sương (thuộc huyện Gia Hưng, châu Hưng Hóa xưa), hằng ngày kiếm củi, hái thuốc giúp người nghèo khó.

Theo giáo nghĩa

Huyền tích đản sinh của Đức Thánh Tản tại động Lăng Sương gói trọn triết lý nhân sinh và vũ trụ quan của cư dân nông nghiệp Việt - Mường cổ bên đôi bờ sông Đà. Ngọc phả chép rằng vào một ngày năm Giáp Thìn, bà Đinh Thị Đen ra bến sông Đà gánh nước tắm gội, bỗng thấy một con Rồng vàng (Hoàng Long) từ dưới đáy sông cuộn sóng trồi lên, phun châu nhả ngọc sáng rực cả mặt nước rồi bay thẳng về phía sườn núi Tản Viên, để lại hương thơm ngào ngạt. Sau điềm lành cảm ứng cùng long mạch sông Đà ấy, bà Đinh Thị Đen mang thai suốt 14 tháng. Trong thời gian mang thai, ông Nguyễn Cao Hành lâm bệnh qua đời, một mình bà Đinh Thị Đen tần tảo vượt qua cảnh góa bụa. Đến ngày rằm (15) tháng Giêng năm Ất Tỵ, khi trở dạ tại động Lăng Sương, bà đã vịn tay và quỳ gối lên một phiến đá xanh cạnh giếng nước trong để sinh hạ một cậu bé khôi ngô tuấn tú, đặt tên là Nguyễn Tuấn.

Khi Nguyễn Tuấn lớn lên, vì muốn sang dãy núi Ngọc Tản (Tản Viên) bên kia sông Đà để tìm thuốc quý và học đạo cứu dân, chàng đã được bà Ma Thị Cao Sơn (nữ chúa cai quản vùng núi Tản) nhận làm con nuôi, truyền trao cây gậy thần cứu thế và nhường quyền cai quản cả vùng núi Tản Viên. Về sau, Nguyễn Tuấn hiển thánh thành Tản Viên Sơn Thánh (Sơn Tinh), kết duyên cùng công chúa Ngọc Hoa, đánh thắng Thủy Tinh dâng nước và cùng hai em Cao Sơn, Quý Minh giúp vua Hùng giữ yên bờ cõi Văn Lang. Việc người dân Lăng Sương lập đền thờ đủ cả cha mẹ đẻ, mẹ nuôi, vợ hiền và anh em họ hàng của Đức Thánh thể hiện đạo lý Uống nước nhớ nguồn, trọng hiếu nghĩa gia phong sâu sắc bậc nhất trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam: dù bậc Thánh nhân có tài năng dời non lấp bể đến đâu thì gốc rễ đầu tiên vẫn là công ơn sinh thành của người mẹ nơi quê nghèo Lăng Sương.

Theo sử liệu

Xét trong mạng lưới không gian thiêng Tứ cung vùng núi Tản - sông Đà, các tư liệu Hán Nôm và nghiên cứu văn hóa dân gian ghi nhận hai cách định danh phương vị của Đền Lăng Sương tùy theo điểm gốc quy chiếu. Nếu lấy đỉnh núi Tản Viên (Ba Vì) và khu vực Sơn Tây làm trung tâm truyền thống của Tứ cung (Đông Cung là Đền Và tại Sơn Tây, Bắc Cung là Đền Nguôi / Vĩnh Phệ tại Ba Vì, Nam Cung là Đền Yên Cư / Đền Hạ tại Ba Vì), thì Đền Lăng Sương nằm ở phía bên kia bờ tây sông Đà từng được một số tài liệu gọi là Tây Cung. Tuy nhiên, trong tâm thức tín ngưỡng của cư dân vùng Đất Tổ Phú Thọ (tính từ kinh đô Phong Châu - Đền Hùng nhìn xuống phía nam dọc theo hữu ngạn sông Đà) và trong nhiều hồ sơ di sản địa phương hiện nay, Đền Lăng Sương lại được tôn xưng trang trọng là Nam Cung (hoặc ngôi đền gốc sinh thần của hệ thống Tứ cung). Thư viện ghi nhận rõ cả hai cách gọi phương vị này để quý vị thấu tỏ mối liên kết hữu cơ giữa hai bờ sông Đà.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người khi nghe tên Tản Viên Sơn Thánh thường nghĩ ngay rằng quê hương bản quán của Ngài nằm ở trên đỉnh núi Ba Vì (Hà Nội). Thực ra, núi Ba Vì (Tản Viên) là nơi Nguyễn Tuấn sang tu luyện, nhận mẹ nuôi Ma Thị Cao Sơn và hiển thánh trị thủy, còn nơi chôn nhau cắt rốn, nơi thân phụ Nguyễn Cao Hành và thân mẫu Đinh Thị Đen cư ngụ và sinh hạ Ngài chính là động Lăng Sương bên bờ hữu ngạn sông Đà thuộc đất Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Vì lẽ đó, nhân dân vùng sông Đà mới có câu ca lưu truyền suốt ngàn năm: Sinh bất tử đất Lăng Sương, Hóa thánh nhân miền Ngọc Tản.

IIMột Thiên Niên Kỷ Từ Cổ Miếu Thời Tiền Lê Đến Di Tích Quốc Gia

Từ một thảo am thờ Thánh Mẫu và Đức Thánh Tản bên bến sông Đà thời cổ đại, Đền Lăng Sương đã được các vương triều quân chủ Đại Việt từ thời Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê cho tới triều Nguyễn liên tục ban sắc phong, cấp ruộng tế tự và mở rộng quy mô kiến trúc.

Theo sử liệu

Theo hồ sơ di tích của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ cùng các tư liệu tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, dấu tích thờ phụng tại động Lăng Sương manh nha ngay từ thời Hùng Vương - An Dương Vương sau khi Thánh mẫu Đinh Thị Đen hóa vào ngày 25 tháng 10 âm lịch. Đến thời Tiền Lê (981 - 1009) dưới triều vua Lê Đại Hành, ngôi đền chính thức được khởi dựng quy mô bằng gỗ lim để phụng thờ Thánh Mẫu và gia đình Tản Viên Sơn Thánh. Sang thời Hậu Lê, vào năm Thuận Thiên thứ 3 (1430), Hàn lâm viện Học sĩ Nguyễn Cố đã phụng soạn cuốn Ngọc phả cổ truyền ghi chép chi tiết sự tích gia đình Đức Thánh Tản tại động Lăng Sương.

Dưới triều Nguyễn, một đợt đại trùng tu lớn được thực hiện vào năm Thiệu Trị thứ 7 (Đinh Mùi, 1847) và tiếp tục được tu bổ dưới thời Tự Đức. Qua các triều vua Thiệu Trị, Tự Đức, Thành Thái, Duy Tân và Khải Định, triều đình Huế đã ban tặng cho Đền Lăng Sương nhiều đạo sắc phong tôn vinh công đức của Tản Viên Sơn Thánh cùng nhị vị thân phụ, thân mẫu. Đặc biệt, tại đền vẫn còn lưu giữ được một quả ấn triện bằng đồng cổ khắc chín chữ Hán kiểu chữ triện: Gia Hưng từ, Lăng Sương tích, Đặng Vương động (嘉興祠凌霜跡鄧王洞, nghĩa là Đền Gia Hưng, dấu tích Lăng Sương, động Đặng Vương). Sau những năm tháng hư hại nặng nề vào giữa thế kỷ 20, năm 1991 nhân dân và chính quyền địa phương đã trùng tu, phục dựng lại ngôi đền trên diện tích hơn 3.000 mét vuông. Ngày 12 tháng 7 năm 2005, Bộ Văn hóa - Thông tin đã ban hành Quyết định số 25/2005/QĐ-BVHTT công nhận Đền Lăng Sương là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

  • Thời Văn Lang - Âu LạcHuyền tích đản sinh Đức Thánh Tản tại động Lăng Sương
    Thánh mẫu Đinh Thị Đen hạ sinh Nguyễn Tuấn (Tản Viên Sơn Thánh) vào ngày rằm tháng Giêng tại động Lăng Sương bên bờ sông Đà. Sau khi Thánh Mẫu hóa ngày 25 tháng 10 âm lịch, nhân dân địa phương lập miếu thờ ngay bên phiến đá quỳ và Giếng Thiên Thanh.
  • 981 - 1009Khởi dựng ngôi đền lớn thời Tiền Lê
    Dưới vương triều Tiền Lê, Đền Lăng Sương được xây dựng bề thế để phụng thờ Đức Thánh Tản Viên cùng thân phụ Nguyễn Cao Hành và thân mẫu Đinh Thị Đen.
  • 1430Soạn Ngọc phả cổ truyền thời Lê Thái Tổ
    Năm Thuận Thiên thứ 3 (Canh Tuất, 1430), bộ Ngọc phả ghi chép đầy đủ thân thế, gia phả tám vị tôn thần trong đại gia đình Tản Viên Sơn Thánh tại động Lăng Sương được biên soạn và lưu truyền tại đền.
  • 1847Đại trùng tu năm Thiệu Trị thứ 7 và ban sắc phong triều Nguyễn
    Năm Đinh Mùi (1847), Đền Lăng Sương được triều đình nhà Nguyễn và nhân dân đại trùng tu. Các vua Thiệu Trị, Tự Đức, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định kế tiếp nhau ban nhiều đạo sắc phong cho đền.
  • 1991Phục dựng và tôn tạo tổng thể khu di tích
    Chính quyền và nhân dân huyện Thanh Thủy tiến hành trùng tu, phục dựng lại tòa đền chính kiểu chữ Công cùng các hạng mục phụ trợ trên khuôn viên rộng khoảng 3.000 m2.
  • 2005Xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
    Ngày 12 tháng 7 năm 2005, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin ký Quyết định số 25/2005/QĐ-BVHTT xếp hạng Đền Lăng Sương là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
  • 2020 - 2025Sắp xếp đơn vị hành chính thành xã Đồng Trung và xã Tu Vũ mới
    Từ ngày 1/1/2020, xã Trung Nghĩa hợp nhất với xã Đồng Luận và Trung Thịnh thành xã Đồng Trung theo Nghị quyết 828/NQ-UBTVQH14. Đến ngày 1/7/2025, theo Nghị quyết 1676/NQ-UBTVQH15, xã Đồng Trung hợp nhất với xã Hoàng Xá và Tu Vũ thành xã Tu Vũ mới thuộc tỉnh Phú Thọ.

IIIBố Cục Chữ Công, Phiến Đá Quỳ In Dấu Thánh Mẫu Và Giếng Thiên Thanh Bất Cạn

Khu di tích Đền Lăng Sương tọa lạc trên một khu đất bằng phẳng, cao ráo rộng hơn 3.000 mét vuông tại khu 6, xã Tu Vũ (xã Đồng Trung / Trung Nghĩa cũ). Bước qua Nghi môn (cổng đền) bốn trụ xây kiểu truyền thống với những câu đối chữ Hán ca ngợi công đức sinh thành của Thánh Mẫu và thần uy núi Tản, quý vị sẽ tiến vào khoảng sân gạch rộng rợp bóng đại thụ, hai bên là nhà bia, nhà võng cùng hai dãy Tả vu - Hữu vu (Tả mạc - Hữu mạc). Tòa đền chính được kiến trúc theo bố cục kiểu chữ Công (工) cổ truyền Bắc Bộ, gồm ba lớp không gian nối liền nhau: tòa Đại bái 3 gian, Ống muống (Thiêu hương) và tòa Hậu cung 3 gian thâm nghiêm.

Bên trong tòa Đại bái và Hậu cung là nơi hội tụ đầy đủ nhất hệ thống long ngai, bài vị và khám thờ đại gia đình Đức Thánh Tản Viên. Ở vị trí trung tâm cao quý nhất của Hậu cung tôn trí long ngai thờ Thánh mẫu Đinh Thị Đen và thân phụ Nguyễn Cao Hành cùng Tản Viên Sơn Thánh và Ngọc Hoa Công Chúa, hai bên tả hữu phối thờ dưỡng mẫu Ma Thị Cao Sơn, nhị vị đại vương Cao Sơn - Quý Minh và hai vị bộ tướng Khê Cầu Kiều - Khê Cầu Cống. Đặc biệt, ngay bên ngoài khu vực cửa đền và bên hông kiến trúc chính là cụm Thánh tích tự nhiên độc nhất vô nhị làm nên linh hồn của Đền Lăng Sương: Giếng Thiên Thanh, Phiến đá quỳ, Hòn đá nén bụng và khu Lăng mộ Thánh Mẫu.

Phiến đá quỳ in dấu tay chân Thánh mẫu Đinh Thị Đen

Tảng đá xanh tự nhiên nằm ngay cạnh Giếng Thiên Thanh, nơi tương truyền Thánh mẫu Đinh Thị Đen đã quỳ gối và tì hai bàn tay lên mặt đá lúc vượt cạn sinh hạ Đức Thánh Tản vào ngày rằm tháng Giêng. Trên mặt đá hiện vẫn còn những vết lõm tự nhiên hằn sâu đúng hình đôi bàn chân, đầu gối và bàn tay người.

Giếng Thiên Thanh bốn mùa trong vắt không cạn

Chiếc giếng cổ nằm ngay bên ngoài cửa đền, tương truyền là nơi Thánh Mẫu múc nước tắm gội cho Nguyễn Tuấn thuở sơ sinh. Dù lòng giếng chỉ sâu khoảng 3 mét và nằm gần bờ sông Đà, mạch nước ngầm trong giếng luôn đầy ắp, trong xanh như ngọc bích suốt bốn mùa, kể cả vào những năm hạn hán gay gắt nhất.

Hòn đá nén bụng, Âu nước tắm và Miếu Hai Cô

Cụm di vật đá gắn liền với kỳ sinh nở của Thánh Mẫu: hòn đá nhỏ tương truyền Mẫu dùng chườm nén bụng sau khi sinh, âu đá đựng nước tắm cho Thánh Tản và ngôi Miếu Hai Cô thờ hai người hầu cận trung thành trong gia đình Đức Thánh.

Ấn đồng cổ chín chữ triện và Hệ thống sắc phong, ngọc phả

Báu vật lịch sử lưu giữ tại đền gồm quả ấn đồng cổ khắc 9 chữ Hán 'Gia Hưng từ, Lăng Sương tích, Đặng Vương động', bản Ngọc phả niên hiệu Thuận Thiên thứ 3 (1430) và các đạo sắc phong của triều Nguyễn (Thiệu Trị, Tự Đức, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định).

Tòa đền chính kiểu chữ Công và Lăng mộ Thánh Mẫu

Công trình kiến trúc gỗ truyền thống gồm 3 gian Đại bái, Ống muống và 3 gian Hậu cung bài trí hệ thống long ngai, khám thờ sơn son thếp vàng thờ trọn vẹn 8 vị tôn thần gia đình Đức Thánh Tản, phía sau có khu lăng mộ vọng tưởng niệm Thánh mẫu Đinh Thị Đen.

Theo sử liệu

Sự hiện diện của Phiến đá quỳ và Giếng Thiên Thanh tại Đền Lăng Sương là một minh chứng tiêu biểu cho tín ngưỡng thờ đá (thạch linh) và thờ nguồn nước (thủy linh) của người Việt cổ thời Hùng Vương đã được lịch sử hóa thông qua huyền tích gia đình Đức Thánh Tản. Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian chỉ ra rằng việc người dân địa phương gìn giữ nguyên vẹn tảng đá xanh tự nhiên không đẽo gọt và chiếc giếng cổ sâu 3 mét ngay bên cạnh kiến trúc đền gỗ đã giúp bảo lưu lớp trầm tích văn hóa tiền sử nguyên bản nhất của vùng ngã ba sông Đà - sông Hồng.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền dựa trên địa hình thực tế của vùng đất Thanh Thủy bên bờ sông Đà và dãy núi Ba Vì đối diện, không phải nội dung chép nguyên văn từ văn bia. Thư viện nói rõ để quý vị phân biệt giữa sử liệu và kiến giải phong thủy.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ địa hình tại tọa độ khoảng vĩ bắc 21,17709 độ và kinh đông 105,27939 độ, Đền Lăng Sương (Nam Cung) tọa lạc trên một dải đất cổ cao ráo thuộc bờ hữu ngạn (bờ tây) dòng sông Đà, tạo nên một đại cục phong thủy cách giang vọng sơn (qua sông nhìn thẳng sang núi tổ) vô cùng kỳ vĩ. Long mạch của vùng đất Lăng Sương bắt nguồn từ các dải đồi núi trung du của miền Đất Tổ Phú Thọ và dãy Hoàng Liên - Thanh Sơn ở phía tây bắc trườn xuống, khi gặp dòng sông Đà hùng vĩ chặn lại thì đột ngột dừng chân và kết tụ thành một vùng bình nguyên màu mỡ ven sông gọi là động Lăng Sương. Trong phép xem đất, nơi mạch đồi dừng lại ngay trước một đại giang gọi là thế giao thủy kết huyệt: nước sông Đà uốn khúc ôm lấy dải đất Trung Nghĩa - Đồng Trung như một vòng đai ngọc (ngọc đái thủy) giúp tụ giữ toàn bộ nguyên khí của đất mẹ.

Điểm đắc cách nhất của Đền Lăng Sương nằm ở mối tương quan giữa Minh đường, Tiền án và Chân thủy: nhìn từ cửa đền hướng về phía đông - đông nam, dòng sông Đà rộng lớn chảy qua trước mặt chính là ngoại minh đường tụ thủy, ứng đúng với huyền tích Rồng vàng từ lòng sông Đà trồi lên nhả ngọc để bà Đinh Thị Đen thụ thai. Vượt qua mặt nước sông Đà ấy, sừng sững ngay phía chân trời đối diện là khối núi Tản Viên (Ba Vì) cao hơn 1.200 mét với ba đỉnh chót vót như chiếc ô thần đứng làm đại tiền án kiêm triều sơn chầu thẳng về ngôi đền nơi sinh hạ Đức Thánh. Còn ngay tại nội minh đường sát cửa đền là Giếng Thiên Thanh sâu 3 mét, nơi long mạch dưới lòng đất trồi lên thành mắt nước ngọt trong vắt bốn mùa không cạn, kết hợp cùng Phiến đá quỳ (chân cốt của đất). Sự hội tụ giữa Đá thiêng (Thổ/Kim) - Giếng ngọc (Nội thủy) - Sông Đà (Ngoại thủy) - Núi Tản (Triều sơn) đã giải thích trọn vẹn vì sao mảnh đất Lăng Sương lại được cổ nhân tôn xưng là nơi phát tích của bậc Thượng đẳng tối linh thần đứng đầu Tứ bất tử.

VLễ Hội Đền Lăng Sương Rằm Tháng Giêng Và Lễ Giỗ Thánh Mẫu Tháng Mười

Hằng năm, tại Di tích quốc gia Đền Lăng Sương diễn ra hai kỳ lễ hội truyền thống lớn gắn liền với ngày sinh của Đức Thánh Tản Viên Sơn Thánh và ngày hóa của Thánh mẫu Đinh Thị Đen, thu hút hàng vạn người dân vùng Đất Tổ Phú Thọ và cả vùng xứ Đoài (Sơn Tây, Ba Vì) bên kia sông Đà sang dự hội.

Các kỳ lễ hội và nghi thức truyền thống hằng năm tại Di tích quốc gia Đền Lăng Sương (xã Tu Vũ, tỉnh Phú Thọ). Nguồn: Tổng hợp từ Cổng thông tin điện tử tỉnh Phú Thọ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Thọ và Ban quản lý di tích Đền Lăng Sương..
Thời gian âm lịchTên kỳ lễ và sự kiệnNghi thức truyền thống và hoạt động hội
Ngày 14 và Rằm (15) tháng GiêngLễ hội chính Đền Lăng Sương (Kỷ niệm ngày sinh Đức Thánh Tản)Lễ hội lớn nhất trong năm. Sáng ngày 15 tháng Giêng tổ chức nghi thức rước kiệu và rước nước thiêng từ bờ sông Đà (hoặc Giếng Thiên Thanh) về đền để làm lễ mộc dục và dâng cúng, tiếp đó là lễ đại tế cổ truyền tôn vinh công đức Tản Viên Sơn Thánh và đại gia đình Ngài, kèm theo các trò diễn dân gian như nấu cơm thi, ném còn, kéo co, cờ người, hát xoan, hát ghẹo.
Ngày 25 tháng Mười âm lịchLễ húy nhật (Lễ giỗ) Thánh mẫu Đinh Thị ĐenNgày tưởng niệm Đức Thánh Mẫu Đinh Thị Đen hóa về trời. Nhân dân vùng Thanh Thủy và khách thập phương về đền dâng hương, lễ bánh dày bánh chưng và hoa quả địa phương để tri ân người mẹ hiền đã sinh thành bậc Thánh nhân cho đất nước.
Ngày mùng 5 tháng Năm âm lịchLễ kỷ niệm ngày hóa của thân phụ Nguyễn Cao HànhNghi thức dâng hương tưởng niệm thân phụ Đức Thánh Tản tại hậu cung Đền Lăng Sương, giữ trọn đạo hiếu gia phong trong ngôi đền duy nhất thờ cả gia đình Thánh Tản.
Dịp Tết Nguyên đán và mùng 1, ngày RằmLễ cầu an đầu xuân và lễ sóc vọngDu khách về chiêm bái đền, xin lộc nước mát lành từ Giếng Thiên Thanh và đặt tay thành kính bên Phiến đá quỳ để cầu sức khỏe, con cái hiếu thuận và gia đạo bình an.

Đặc sắc nhất trong Lễ hội Đền Lăng Sương rằm tháng Giêng là nghi thức rước nước bên bờ sông Đà. Đoàn rước với cờ thần, bát bửu, phường bát âm và đội kiệu trong trang phục lễ hội rực rỡ tiến ra bến sông Đà nơi xưa kia Rồng vàng nhả ngọc, lấy dòng nước trong giữa dòng hòa cùng mạch nước Giếng Thiên Thanh để dâng lên bàn thờ Thánh Mẫu và Đức Thánh Tản. Nghi lễ ấy không chỉ là sự tái hiện sống động huyền tích khai sinh Tản Viên Sơn Thánh, mà còn là sợi dây tâm linh gắn kết cư dân hai bờ sông Đà cùng chung nhịp đập hướng về cội nguồn dân tộc.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Khu 6, xã Tu Vũ (trước tháng 7/2025 là xã Đồng Trung, trước năm 2020 là xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy cũ), tỉnh Phú Thọ
Đường tới
Từ trung tâm thành phố Việt Trì (tỉnh Phú Thọ) đi về phía tây nam khoảng 45 km, hoặc từ trung tâm Hà Nội đi theo Đại lộ Thăng Long qua cầu Đồng Quang vượt sông Đà sang đất Thanh Thủy khoảng 65 km, quý vị đi theo Đường tỉnh 317 về khu 6, xã Tu Vũ (xã Đồng Trung / Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy cũ) là tới Đền Lăng Sương.
Toạ độ
21.17709, 105.27939
Khi tới nơi

Khi tới chiêm bái Đền Lăng Sương (Nam Cung) tại xã Tu Vũ, tỉnh Phú Thọ, xin quý vị mặc trang phục trang nhã, đi nhẹ nói khẽ khi bước vào tòa Đại bái và Hậu cung nơi thờ tự đại gia đình Đức Thánh Tản Viên. Khi ra chiêm ngưỡng khu vực Giếng Thiên Thanh và Phiến đá quỳ in dấu tay chân Thánh mẫu Đinh Thị Đen ở bên ngoài cửa đền, quý vị tuyệt đối không bước chân giẫm đạp lên mặt Phiến đá quỳ, không thả tiền lẻ hay rác xuống lòng Giếng Thiên Thanh để giữ gìn sự tôn nghiêm và mạch nước trong sạch của thánh tích.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Lăng Sương (Nam Cung)

Contribute photos, information or video for Lăng Sương Temple (Southern Palace)

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Vì sao Đền Lăng Sương được gọi là ngôi đền duy nhất ở Việt Nam thờ cả gia đình Đức Thánh Tản Viên?

Khác với hàng trăm ngôi đền ở vùng Ba Vì và đồng bằng Bắc Bộ chỉ thờ Tản Viên Sơn Thánh cùng hai vị tướng Cao Sơn, Quý Minh, Đền Lăng Sương được dựng ngay trên mảnh đất động Lăng Sương nơi Thánh mẫu Đinh Thị Đen sinh hạ Đức Thánh. Vì vậy, đền thờ đầy đủ 8 vị trong gia đình gồm: thân phụ Nguyễn Cao Hành, thân mẫu Đinh Thị Đen, dưỡng mẫu Ma Thị Cao Sơn, Tản Viên Sơn Thánh (Nguyễn Tuấn), hiền thê Ngọc Hoa Công Chúa, hai em Cao Sơn - Quý Minh và hai vị bộ tướng Khê Cầu Kiều - Khê Cầu Cống.

Phiến đá quỳ và Giếng Thiên Thanh tại Đền Lăng Sương gắn với truyền thuyết gì?

Theo Ngọc phả và truyền thuyết dân gian, sau 14 tháng mang thai kể từ lần thấy Rồng vàng nhả ngọc trên sông Đà, vào ngày rằm tháng Giêng, bà Đinh Thị Đen chuyển dạ và đã quỳ gối, chống hai tay lên tảng đá xanh tự nhiên cạnh giếng nước để sinh hạ Nguyễn Tuấn (Tản Viên Sơn Thánh), để lại vết lõm hình bàn chân và bàn tay trên đá. Giếng Thiên Thanh cạnh đó sâu khoảng 3 mét là nơi Mẫu lấy nước tắm cho Đức Thánh thuở nhỏ và bốn mùa nước luôn trong vắt không bao giờ cạn.

Đền Lăng Sương được khởi dựng từ thời nào và được xếp hạng Di tích quốc gia vào năm nào?

Đền khởi nguồn từ miếu thờ cổ thời Hùng Vương - An Dương Vương, được khởi dựng quy mô lớn dưới thời Tiền Lê (981 - 1009), tiếp tục được tu bổ qua thời Hậu Lê (soạn Ngọc phả năm 1430) và đại trùng tu vào năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) thời Nguyễn, trùng tu tôn tạo lớn năm 1991. Ngày 12 tháng 7 năm 2005, Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quyết định số 25/2005/QĐ-BVHTT xếp hạng Đền Lăng Sương là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Đền Lăng Sương hiện nay thuộc xã nào của tỉnh Phú Thọ sau các đợt sáp nhập hành chính năm 2020 và 2025?

Trước năm 2020, đền tọa lạc tại khu 6, xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Từ ngày 1 tháng 1 năm 2020, xã Trung Nghĩa sáp nhập với xã Đồng Luận và Trung Thịnh thành xã Đồng Trung theo Nghị quyết 828/NQ-UBTVQH14. Đến ngày 1 tháng 7 năm 2025, theo Nghị quyết 1676/NQ-UBTVQH15, xã Đồng Trung tiếp tục hợp nhất với xã Hoàng Xá và xã Tu Vũ để thành lập xã Tu Vũ mới thuộc tỉnh Phú Thọ.

Lễ hội chính của Đền Lăng Sương diễn ra vào những ngày nào trong năm?

Đền Lăng Sương có hai kỳ lễ lớn nhất trong năm tính theo âm lịch: kỳ lễ hội chính diễn ra vào ngày 14 và rằm (15) tháng Giêng âm lịch kỷ niệm ngày sinh của Đức Thánh Tản Viên với nghi thức rước nước sông Đà và đại tế cổ truyền, và kỳ lễ thứ hai diễn ra vào ngày 25 tháng Mười âm lịch là ngày giỗ (húy nhật) của Thánh mẫu Đinh Thị Đen.

›Đọc Tiếp