Men theo bờ kênh Leidsevaart rợp bóng cây xanh về phía tây nam khu phố cổ Haarlem, quý vị sẽ choáng ngợp trước một quần thể kiến trúc tôn giáo kỳ vĩ với mười hai ngọn tháp lớn nhỏ và một mái vòm khổng lồ lợp đồng xanh biếc vươn cao hơn sáu mươi mét in bóng xuống mặt nước phẳng lặng. Giữa vùng đất thấp Bắc Holland vốn quen thuộc với những ngôi nhà thờ gạch trầm mặc một tháp, công trình này hiện ra vừa uy nghiêm như một thánh đường Romanesque và Gothic thời Trung cổ, vừa phóng khoáng đường nét phương Đông của kiến trúc Byzantine và Moorish vùng Andalusia.
Đó là Vương cung thánh đường Nhà thờ chính tòa Thánh Bavo tại Haarlem (tiếng Hà Lan: Kathedrale Basiliek Sint Bavo, từ năm 2019 còn được gọi chính thức là KoepelKathedraal Haarlem tức Nhà thờ chính tòa Mái vòm để phân biệt với ngôi nhà thờ cổ ở Quảng trường Lớn). Được khởi dựng năm 1895 và hoàn thành năm 1930 làm nhà thờ mẹ của Giáo phận Công giáo Haarlem-Amsterdam, công trình được giới nghiên cứu kiến trúc quốc tế xếp vào nhóm năm đại thánh đường lớn nhất thế giới được xây dựng vào khoảng giao thời thế kỷ 19 sang thế kỷ 20, sánh vai cùng Vương cung thánh đường Sagrada Família ở Barcelona, Vương cung thánh đường Sacré-Cœur ở Paris, Nhà thờ chính tòa Westminster ở Luân Đôn và Nhà thờ chính tòa Thánh Gioan Thần học ở New York.

IThánh Bavo, Sự Phục Hưng Công Giáo Hà Lan Năm 1853 Và Vai Trò Nhà Thờ Chính Tòa
Cũng như ngôi nhà thờ Trung cổ tại Quảng trường Lớn, đại thánh đường bên bờ kênh Leidsevaart được cung hiến cho Thánh Bavo thành Ghent (khoảng 589 đến 654 SCN), vị ẩn sĩ quý tộc vùng Flanders đồng thời là thánh bổn mạng truyền thống của thành phố Haarlem và của toàn Giáo phận Haarlem-Amsterdam. Việc người Công giáo Haarlem kiên trì giữ nguyên tước hiệu Thánh Bavo cho ngôi nhà thờ chính tòa mới vào cuối thế kỷ 19 mang một ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: đó là sợi dây nối liền mạch nguồn đức tin từ thời Trung cổ qua gần ba trăm năm gián đoạn.
Để thấu hiểu vì sao một thành phố cỡ vừa như Haarlem lại có một đại thánh đường Công giáo đồ sộ bậc nhất châu Âu đầu thế kỷ 20, cần nhìn lại lịch sử đầy thăng trầm của Giáo hội Công giáo tại Hà Lan. Sau biến cố năm 1578 khi ngôi nhà thờ chính tòa đầu tiên ở Grote Markt chuyển sang tay người Tin Lành Cải cách và việc cử hành Thánh lễ Công giáo công khai bị cấm đoán trên toàn lãnh thổ Cộng hòa Hà Lan, các tín hữu Công giáo tại Haarlem và vùng Bắc Holland đã phải duy trì đời sống bí tích trong những nhà thờ ẩn (schuilkerken) giấu phía sau mặt tiền các ngôi nhà kho hoặc gác xép tư gia (gọi là các giáo trạm staties thuộc Phái bộ Hà Lan).
Bước chuyển mình lịch sử diễn ra vào ngày 4 tháng 3 năm 1853, khi Giáo hoàng Piô IX ban hành tông sắc Ex qua die khôi phục Hệ thống phẩm trật Giám mục Công giáo tại Hà Lan (Herstel van de bisschoppelijke hiërarchie) sau 275 năm gián đoạn, thiết lập Tổng giáo phận Utrecht cùng bốn giáo phận trực thuộc là Haarlem, 's-Hertogenbosch, Breda và Roermond. Trong khi người Công giáo ở miền nam đã nhận lại được Nhà thờ chính tòa Thánh Gioan, 's-Hertogenbosch từ đầu thế kỷ 19, còn tại Utrecht nhà thờ chính tòa Trung cổ là Nhà thờ Dom, Utrecht vẫn thuộc về Giáo hội Tin Lành, thì tại Haarlem tòa giám mục mới tái lập hoàn toàn chưa có một nhà thờ chính tòa xứng tầm.
Trong bốn thập niên đầu tiên từ năm 1853 đến năm 1898, Giáo phận Haarlem phải dùng tạm Nhà thờ Thánh Giuse (Sint-Josephkerk, xây năm 1841 đến 1843 theo phong cách Tân cổ điển bên khu Begijnhof) làm nhà thờ chính tòa lâm thời. Với khát vọng khẳng định sự hiện diện đường hoàng của cộng đồng Công giáo Hà Lan trong kỷ nguyên tự do tôn giáo mới (phong trào giải phóng và phục hưng văn hóa Công giáo gọi là Katholieke emancipatie), vị giám mục thứ tư của Giáo phận Haarlem là Đức cha Caspar Josefus Martinus Bottemanne (1823 đến 1903) cùng vị Tổng đại diện năng nổ Augustinus Callier (1849 đến 1928, người sau này kế nhiệm làm Giám mục Haarlem từ năm 1903 đến 1928) đã quyết tâm xây dựng một đại thánh đường chính tòa hoàn toàn mới, nơi đặt ngai tòa giám mục (cathedra) cai quản toàn bộ vùng Bắc Holland, Nam Holland và Zeeland đương thời.
Theo sử liệu lưu trữ của Giáo phận Haarlem-Amsterdam, vào năm 1893, Giám mục Caspar Bottemanne ban đầu dự định mời kiến trúc sư danh tiếng nhất của phong trào Phục hưng Gothic Hà Lan là Pierre Cuypers (1827 đến 1921, tác giả của Bảo tàng Quốc gia Rijksmuseum và Ga Trung tâm Amsterdam). Tuy nhiên, vì Pierre Cuypers lúc ấy đã 66 tuổi và quá bận rộn với hàng loạt công trình quốc gia, ông đã tiến cử người con trai kiêm cộng sự tài năng của mình là kiến trúc sư Joseph Cuypers (Josephus Theodorus Joannes Cuypers, 1861 đến 1949) đảm nhận vai trò kiến trúc sư trưởng thiết kế Nhà thờ chính tòa Thánh Bavo mới.
Khác với người cha Pierre Cuypers vốn trung thành nghiêm ngặt với chủ nghĩa thuần túy Tân Gothic thời Trung cổ, Joseph Cuypers là một kiến trúc sư có tầm nhìn cởi mở và giàu tính thử nghiệm của thế hệ giao thời. Trong suốt 35 năm chỉ huy xây dựng công trình (từ năm 1895 đến năm 1930), Joseph Cuypers đã liên tục điều chỉnh đồ án theo sự chuyển dịch của nghệ thuật kiến trúc châu Âu: khởi đầu từ phong cách Tân Gothic và Tân Romanesque ở khu cung thánh, ông tiến sang kết hợp cấu trúc mái vòm Byzantine, vòm móng ngựa Hồi giáo Moorish vùng Tây Ban Nha, tháp phương Đông cùng những đường nét Art Nouveau (Jugendstil), trường phái Berlage và trường phái Amsterdam, biến ngôi thánh đường thành một bảo tàng sống động của lịch sử kiến trúc Hà Lan thế kỷ 20.
Có hai điểm thường gây nhầm lẫn khi tìm hiểu về tước hiệu và vị thế của đại thánh đường này. Thứ nhất là sự phân biệt giữa Nhà thờ chính tòa (Kathedraal) và Tiểu Vương cung thánh đường (Basilica minor). Ngay từ ngày 2 tháng 5 năm 1898 khi Giám mục Caspar Bottemanne thánh hiến khu cung thánh và cử hành Thánh lễ đầu tiên, công trình đã chính thức mang tư cách Nhà thờ chính tòa vì là nơi đặt ngai tòa của Giám mục Giáo phận Haarlem (từ năm 2009 đổi tên thành Giáo phận Haarlem-Amsterdam). Đúng năm mươi năm sau, vào ngày 2 tháng 5 năm 1948, Giáo hoàng Piô XII đã ban sắc lệnh nâng nhà thờ chính tòa này lên hàng Tiểu Vương cung thánh đường (Kathedrale Basiliek) để tôn vinh giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc biệt của công trình.
Thứ hai, về quy mô diện tích trong hệ thống các nhà thờ Công giáo tại Hà Lan: Nhà thờ chính tòa Thánh Bavo tại Haarlem là nhà thờ Công giáo lớn thứ hai toàn Vương quốc Hà Lan (chỉ đứng sau Nhà thờ chính tòa Thánh Gioan, 's-Hertogenbosch thời Trung cổ), nhưng lại là đại thánh đường lớn nhất được xây dựng mới tại Hà Lan kể từ sau thời kỳ Cải cách tôn giáo thế kỷ 16.
IIBa Giai Đoạn Xây Dựng (1895 Đến 1930) Và Cuộc Đại Trùng Tu Thế Kỷ 21
Do nguồn kinh phí hoàn toàn dựa vào sự đóng góp tự nguyện của giáo dân Công giáo trong giáo phận mà không có ngân sách nhà nước hỗ trợ, Tổng đại diện Augustinus Callier đã xác định ngay từ đầu nguyên tắc thi công thận trọng: xây tới đâu hoàn thiện vững chắc tới đó theo khả năng tài chính cho phép. Nhờ vậy, đại công trường bên bờ kênh Leidsevaart đã diễn ra qua ba giai đoạn lớn kéo dài đúng ba mươi lăm năm.
- 1853 đến 1893Tái lập Giáo phận Haarlem và giao đồ án cho Joseph CuypersNăm 1853 Giáo hoàng Piô IX tái lập Giáo phận Haarlem. Năm 1893, Giám mục Caspar Bottemanne và Tổng đại diện Augustinus Callier chính thức giao nhiệm vụ thiết kế nhà thờ chính tòa mới tại khu Houtvaartkwartier bên kênh Leidsevaart cho kiến trúc sư 32 tuổi Joseph Cuypers.
- 1895 đến 1898Giai đoạn 1: Xây dựng khu cung thánh, hành lang vòng và nhà nguyện tỏa tiaKhởi công ngày 25 tháng 3 năm 1895 với việc đóng hàng nghìn cọc gỗ xuống nền đất cát bùn để dựng khu cung thánh (priesterkoor), hành lang vòng, phòng áo lễ và các nhà nguyện theo phong cách chuyển tiếp Tân Romanesque và Tân Gothic. Ngày 2 tháng 5 năm 1898, Giám mục Bottemanne cử hành nghi thức thánh hiến trọng thể phần đầu tiên của nhà thờ.
- 1902 đến 1906Giai đoạn 2: Dựng cánh ngang, gian chính và mái vòm đồng xanh cao 65 métHợp tác cùng kiến trúc sư Jan Stuyt, Joseph Cuypers xây dựng khu cánh ngang (transept), gian chính (schip) bằng gạch vàng và đặc biệt là ngọn tháp giao điểm mười hai cạnh đỡ mái vòm lớn lợp đồng xanh mang âm hưởng Byzantine và Moorish. Toàn bộ không gian chính được đưa vào sử dụng mùa thu năm 1906.
- 1927 đến 1930Giai đoạn 3: Hoàn thiện tiền sảnh và cặp tháp đôi mặt tiền phía tâySau thời gian gián đoạn vì Thế chiến I và thiếu hụt tài chính, từ năm 1927 đến năm 1930 Joseph Cuypers cùng con trai là Pierre Cuypers jr. hoàn thành tiền sảnh và hai tòa tháp lớn ở mặt tiền phía tây nhìn ra kênh Leidsevaart, khép lại 35 năm xây dựng.
- 1948Giáo hoàng Piô XII nâng lên hàng Tiểu Vương cung thánh đườngNgày 2 tháng 5 năm 1948, đúng dịp kỷ niệm vàng 50 năm ngày thánh hiến nhà thờ, Giáo hoàng Piô XII ban sắc lệnh tôn phong Nhà thờ chính tòa Thánh Bavo lên hàng Tiểu Vương cung thánh đường (Basilica minor).
- 1970 đến 1971Di dời và lắp đặt cây Đại phong cầm Willibrordus (Adema 1923)Khi Nhà thờ Thánh Willibrordus buiten de Veste ở Amsterdam bị tháo dỡ, cây đại phong cầm khổng lồ bốn bàn phím do hãng Adema chế tác năm 1923 đã được chuyển về lắp đặt tại gác đàn phía tây Nhà thờ chính tòa Thánh Bavo và khánh thành năm 1971.
- 2004 đến 2019Đại trùng tu thế kỷ 21, mở Bảo tàng Chính tòa và nhận Giải thưởng Di sản Châu ÂuTừ năm 2004 đến 2019, cuộc đại trùng tu toàn diện do văn phòng Van Hoogevest Architecten thực hiện đã phục hồi mái vòm đồng, hệ thống gạch men, kính màu và mở cửa phòng Kho báu dưới hầm mộ. Tháng 10 năm 2019, công trình được trao Giải thưởng Di sản Châu Âu (European Heritage Award / Europa Nostra).
Khi tra cứu thông số chiều cao của mái vòm trung tâm (koepel) và hai tháp mặt tiền phía tây (westtorens), các nguồn tài liệu kiến trúc và du lịch quốc tế có sự chênh lệch cần được giải thích rõ. Về mái vòm trung tâm: phần đỉnh vòm lợp đồng xanh đạt chiều cao khoảng 60 mét, và nếu tính cả cây thánh giá bằng đồng mạ vàng trên đỉnh vòm thì đạt từ 65 mét đến 67 mét. Về hai ngọn tháp mặt tiền phía tây xây dựng giai đoạn 1927 đến 1930: một số tài liệu tổng hợp quốc tế ghi chiều cao tháp lên tới 76 mét (con số gắn với bản vẽ thiết kế chóp tháp hoàn chỉnh hoặc độ cao tính theo phác thảo ban đầu của Joseph Cuypers), trong khi hồ sơ đo đạc thực tế của Cơ quan Di sản Văn hóa Hà Lan và trang kerk-en-orgel.nl ghi nhận hai thân tháp thực tế dừng lại ở độ cao khoảng 50 mét đến 60 mét vì phần chóp đỉnh tháp chưa bao giờ được xây dựng hết do cạn ngân sách vào năm 1930 (tạo nên dáng tháp đỉnh bằng góc cạnh mang đậm phong cách Biểu hiện của Pierre Cuypers jr.). Thư viện ghi rõ cả hai con số và nguyên nhân lịch sử để bạn đọc nắm trọn vẹn hồ sơ công trình.
Một tư liệu lịch sử quý giá khác còn được lưu giữ nguyên văn trên tờ tuần báo Sint Bavo năm 1898 là biên bản của thư ký tòa giám mục ghi lại nghi lễ thánh hiến nhà thờ ngày 2 tháng 5 năm 1898: Giám mục Caspar Bottemanne cùng đoàn giáo sĩ đã đi vòng quanh bên ngoài nhà thờ ba lần rảy nước thánh pha muối, dùng gậy mục tử gõ ba lần vào ngưỡng cửa chính đọc lời Thánh vịnh Hãy mở cửa ra hỡi các bậc quân vương, sau đó bước vào trong dùng đầu gậy mục tử viết trọn vẹn bảng chữ cái tiếng Hy Lạp và bảng chữ cái tiếng Latinh trên tro rải hình chữ thập dưới sàn đá trước khi xức dầu thánh hiến mười hai cây thánh giá trên tường.
IIIBản Giao Hưởng Kiến Trúc Đông Tây, Kho Báu Nghệ Thuật Thánh Và Đàn Phong Cầm Willibrordus
Về mặt cấu trúc không gian, Vương cung thánh đường Nhà thờ chính tòa Thánh Bavo dài khoảng 100 mét, rộng khoảng 40 đến 42 mét ngang qua cánh ngang, được thiết kế theo mô hình nhà thờ chữ thập có mái vòm giao điểm (kruiskoepelkerk) kết hợp với bảy nhà nguyện tỏa tia quanh cung thánh. Điều làm nên sức cuốn hút độc nhất vô nhị của công trình là cách kiến trúc sư Joseph Cuypers dung hợp hài hòa các truyền thống kiến trúc tưởng chừng đối lập nhau thành một chỉnh thể thống nhất.
Năm 1898, khi đang xây dựng giai đoạn đầu tại Haarlem, Joseph Cuypers từng vẽ một đồ án dự thi thiết kế Nhà thờ chính tòa cho thành phố Rangoon (Yangon, Miến Điện) mang đậm cảm hứng kiến trúc Ấn Độ giáo và Phật giáo phương Đông. Dù đồ án ở Rangoon không được thực hiện, Cuypers đã đem chính niềm say mê các hình khối phương Đông và Hồi giáo Moorish ấy ứng dụng vào giai đoạn hai (1902 đến 1906) của Nhà thờ chính tòa Haarlem: tại khu cánh ngang và các cổng vòm phụ xuất hiện những vòm hình móng ngựa (hoefijzerbogen) gợi nhớ Đại thánh đường Córdoba ở Tây Ban Nha, trong khi khối tháp giao điểm mười hai cạnh đỡ mái vòm lớn bằng đá vôi trắng Kunrader (khai thác tại vùng Limburg miền nam Hà Lan) lại mang vẻ đẹp lộng lẫy của các nhà thờ Byzantine và kiến trúc Mughal. Toàn bộ nội thất không tô trát vữa mà để lộ sắc ấm tự nhiên của gạch nung màu vàng rơm, gạch đỏ và đá vôi kết hợp những đường vòm gạch phẳng gọn gàng theo tinh thần hợp lý hóa của kiến trúc sư Hendrik Petrus Berlage.
Trái tim của đại thánh đường là khối tháp mười hai cạnh vươn cao 65 mét ngay trên giao điểm cánh ngang, bên ngoài lợp đồng xanh, bên trong xây bằng đá vôi Kunrader màu kem sáng mở ra hàng cửa sổ đón ánh sáng chiếu thẳng xuống bàn thờ trung tâm. Bên ngoài mái nhà, trên các trụ tường và chân tháp, Joseph Cuypers cho đặt hàng loạt tượng đá tạc các loài thú thần thoại (fabeldieren) biểu trưng cho cuộc chiến tâm linh giữa ánh sáng và bóng tối (bản sao thu nhỏ của các linh thú này được trưng bày dưới hầm mộ).
Nhà thờ là một tác phẩm nghệ thuật tổng hợp (Gesamtkunstwerk) quy tụ những nghệ sĩ tạo hình hàng đầu Hà Lan nửa đầu thế kỷ 20: danh họa trường phái Biểu tượng và Art Nouveau là Jan Toorop (1858 đến 1928) sáng tác các bức tranh ghép gạch men (tegeltableaus) đầy cảm xúc tại Nhà nguyện Thánh Thể, nghệ sĩ Han Bijvoet (1897 đến 1975) thực hiện hệ thống cửa sổ kính màu, tranh ghép mảnh và Đàng Thánh Giá, còn nhà điêu khắc nổi tiếng của thành phố Haarlem là Mari Andriessen (1897 đến 1979) tạc các bức phù điêu và tượng thánh trang nghiêm.
Ngự trị trên gác đàn lớn phía tây là cây đại phong cầm giao hưởng đồ sộ do hãng P.J. Adema & Zoon chế tác từ năm 1921 đến năm 1923, nguyên được làm cho Nhà thờ Thánh Willibrordus buiten de Veste ở Amsterdam. Khi nhà thờ ở Amsterdam bị phá dỡ năm 1970, cây đàn đã được chuyển nguyên vẹn về Nhà thờ chính tòa Thánh Bavo và khánh thành năm 1971 (với khoảng 80 bộ âm trên 4 bàn phím tay và bàn phím chân, hơn 5.500 ống đàn). Ngoài ra nhà thờ còn có cây đàn phong cầm cánh ngang 3 bàn phím do Adema chế tác năm 1907 và một đàn phong cầm cung thánh khoảng năm 1800.
Khu cung thánh phía đông hoàn thành năm 1898 với vòng cột đá đỡ hành lang lùn (dwerggalerij) kiểu Romanesque, bàn thờ chính có mái che (ciborium/baldachijn) mạ vàng và ngai tòa Giám mục Giáo phận Haarlem-Amsterdam. Bao quanh cung thánh là các bức thảm dệt treo tường cỡ lớn thế kỷ 20 mô tả Bữa Tiệc Ly và cuộc khổ nạn của Chúa Kitô với sắc màu rực rỡ.
Xung quanh hành lang vòng phía sau cung thánh mở ra bảy nhà nguyện tỏa tia (straalkapellen), mỗi nhà nguyện mang một phong cách trang trí riêng biệt: Nhà nguyện Đức Mẹ ở chính giữa trục đông, Nhà nguyện Thánh Tâm, Nhà nguyện Thánh Giuse, Nhà nguyện Các Thánh Tử Đạo thành Gorcum, Nhà nguyện Thánh Bavo và Nhà nguyện Thánh Thể, nơi lưu giữ những bức tranh tường và gạch men tinh xảo.
Nằm trong khu hầm mộ rộng lớn bên dưới cung thánh và phòng áo lễ là Bảo tàng Chính tòa (Schatkamer), nơi trưng bày bộ sưu tập kim hoàn phụng vụ bằng vàng và bạc từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 20 (chén thánh, mặt nhật, bình đựng thánh cốt), đặc biệt là bộ lễ phục thêu chỉ vàng từ đầu thế kỷ 16 vốn được các nữ tu ẩn sĩ tại khu Begijnhof Haarlem bí mật gìn giữ qua thời kỳ Cải cách.
| Hạng mục kiến trúc và nghệ thuật | Niên đại / Tác giả | Đặc điểm kỹ thuật và giá trị di sản |
|---|---|---|
| Khu cung thánh và nhà nguyện tỏa tia | 1895 đến 1898 (Joseph Cuypers) | Phong cách Tân Romanesque và Tân Gothic, thánh hiến ngày 2 tháng 5 năm 1898 bởi Giám mục Caspar Bottemanne |
| Mái vòm trung tâm (Koepel) và cánh ngang | 1902 đến 1906 (Joseph Cuypers và Jan Stuyt) | Vòm mười hai cạnh cao 60 đến 65 mét lợp đồng xanh, nội thất đá vôi Kunrader kết hợp vòm móng ngựa Moorish |
| Hai tháp mặt tiền phía tây (Westtorens) | 1927 đến 1930 (Joseph Cuypers và Pierre Cuypers jr.) | Phong cách gạch Biểu hiện và trường phái Dom Bellot, thân tháp cao 50 đến 60 mét (thiết kế chóp tới 76 mét) |
| Đại phong cầm Willibrordus và đàn cánh ngang | 1921 đến 1923 (chuyển về 1971) và 1907 (P.J. Adema & Zoon) | Đàn chính 4 bàn phím khoảng 80 bộ âm và hơn 5.500 ống đàn, đàn cánh ngang 3 bàn phím nguyên bản năm 1907 |
| Tranh gạch men, kính màu và điêu khắc nội thất | Đầu thế kỷ 20 (Jan Toorop, Han Bijvoet, Mari Andriessen) | Tác phẩm nghệ thuật toàn diện (Gesamtkunstwerk) kết hợp trường phái Biểu tượng, Art Nouveau và Hiện đại |
| Phòng Kho báu và Bảo tàng dưới hầm mộ | Hiện vật từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 20 | Lưu giữ lễ phục thêu thế kỷ 16 từ khu Begijnhof Haarlem và chén thánh từ thời các nhà thờ ẩn (schuilkerken) |
IVThế Đất Và Hướng
Cần nêu rõ trước tiên rằng Công giáo không dạy phong thủy Á Đông và không chọn đất hay xoay hướng bàn thờ theo la bàn bát quái. Khi quy hoạch đại thánh đường mới vào cuối thế kỷ 19, Giám mục Caspar Bottemanne và kiến trúc sư Joseph Cuypers đã đặt công trình tuân theo hai nguyên tắc: một mặt giữ đúng truyền thống định hướng phụng vụ cổ điển của Kitô giáo (cung thánh quay về phương Đông đón Mặt Trời mọc, mặt tiền hai tháp mở về phương Tây), đồng thời đặt nhà thờ nằm ngay bên bờ dòng kênh lịch sử Leidsevaart để làm tâm điểm cho khu đô thị mở rộng phía tây nam thành phố Haarlem. Phần dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép hình thế cổ truyền của thư viện Vạn Đạo Đường để bạn đọc tham khảo.
Xét trên bản đồ địa hình khu vực Houtvaartkwartier ở phía tây nam thành phố Haarlem, Vương cung thánh đường Nhà thờ chính tòa Thánh Bavo tọa lạc tại tọa độ 52,3765 độ vĩ bắc, 4,6221 độ kinh đông, nằm dọc theo sườn phía tây của sống cát duyên hải Haarlem và chỉ cách khu rừng cổ Haarlemmerhout (khu rừng công cộng lâu đời nhất Hà Lan ở phía đông nam) vài trăm mét. Để nâng đỡ khối lượng gạch đá khổng lồ của mười hai ngọn tháp và mái vòm cao 65 mét trên nền đất pha cát ẩm ven kênh, các kỹ sư cuối thế kỷ 19 đã đóng hàng nghìn cọc gỗ thông dài xuyên qua lớp đất mềm xuống tận tầng cát nén chặt bên dưới, tạo nên phần địa căn nhân tạo vững chắc không kém nền đá tự nhiên.
Điểm đắc địa nổi bật nhất về mặt hình thế của công trình chính là mối tương quan giữa tòa thánh đường và dòng kênh Leidsevaart chảy ngay trước mặt tiền phía tây (con kênh lịch sử đào từ năm 1657 nối liền hai thành phố Haarlem và Leiden). Nhà thờ được đặt theo thế tọa đông hướng tây hơi chếch tây bắc: lưng cung thánh và bảy nhà nguyện tỏa tia tựa vững vào khu phố Emmaplein và mảng xanh rừng Haarlemmerhout ở phía đông, còn hai tòa tháp lớn mặt tiền nhìn thẳng ra dòng kênh Leidsevaart và quảng trường Bishoplein vừa được mở rộng sát mép nước. Trong phép xem thủy pháp cổ truyền, một dòng kênh thẳng tắp, nước chảy êm đềm chạy ngang qua ngay trước minh đường (minh đường thủy) vừa giúp nhân đôi bóng dáng uy nghi của mười hai ngọn tháp và mái vòm đồng xanh dưới mặt nước, vừa dẫn sinh khí từ vùng Nam Holland chảy về tụ hội trước ngưỡng cửa thánh đường.
Xét về sự hô ứng trong tổng thể không gian đô thị Haarlem, nếu nối một đường thẳng từ Nhà thờ chính tòa Thánh Bavo bên kênh Leidsevaart đi về phía đông bắc khoảng 1,1 km, ta sẽ bắt gặp ngọn tháp gỗ bọc chì của Nhà thờ Lớn Thánh Bavo tại Haarlem (Grote of Sint-Bavokerk) trên Quảng trường Lớn. Hai đại thánh đường cùng mang tên vị thánh bảo hộ thành phố đứng ở hai đầu trục tây nam và đông bắc như song phong đối trĩ (hai đỉnh núi đứng đối xứng nâng đỡ nhau), tạo nên đường chân trời tâm linh hoàn chỉnh cho cả vùng đô thị cổ Haarlem giữa Biển Bắc và sông Spaarne.
VLịch Phụng Vụ Chính Tòa, Lễ Thánh Bavo Và Chuỗi Hòa Nhạc Dưới Mái Vòm
Là nhà thờ mẹ của Giáo phận Công giáo Haarlem-Amsterdam, Vương cung thánh đường Nhà thờ chính tòa Thánh Bavo cử hành đầy đủ các đại lễ theo lịch phụng vụ Công giáo La Mã (dương lịch), nổi bật với tiếng hát bình ca Gregorian và hợp xướng của Ca đoàn Nhà thờ chính tòa (Kathedrale Koor, gắn liền với Trường đào tạo hợp xướng Muziekinstituut Sint Bavo thành lập từ năm 1879).
| Ngày / Thời điểm | Theo lịch nào | Lễ phụng vụ và sự kiện | Nội dung cử hành |
|---|---|---|---|
| Chúa nhật hàng tuần | Dương lịch, lịch phụng vụ Công giáo | Thánh lễ Chúa nhật trọng thể có Ca đoàn Chính tòa | Thánh lễ chính vào sáng Chúa nhật dưới mái vòm trung tâm với phần hợp xướng đa âm và bình ca của Ca đoàn Nhà thờ chính tòa cùng tiếng đàn đại phong cầm Willibrordus. |
| Tuần Thánh và Lễ Phục Sinh (tháng 3 hoặc tháng 4) | Dương lịch (di động) | Thánh lễ Làm phép Dầu (Chrismamis) và Tam Nhật Vượt Qua | Đức Giám mục Giáo phận Haarlem-Amsterdam chủ sự Thánh lễ Làm phép Dầu quy tụ các linh mục toàn giáo phận, tiếp nối bằng Canh thức Vọng Phục Sinh và Đại lễ Phục Sinh. |
| 2 tháng 5 | Dương lịch | Kỷ niệm ngày Thánh hiến Nhà thờ chính tòa (1898) và nhận tước Vương cung thánh đường (1948) | Ngày lễ kỷ niệm cung hiến ngôi thánh đường (Dedicationis Ecclesiae Cathedralis), tưởng nhớ nghi thức thánh hiến năm 1898 của Giám mục Bottemanne và sắc lệnh năm 1948 của Giáo hoàng Piô XII. |
| 1 tháng 10 (hoặc Chúa nhật gần nhất) | Dương lịch, lịch phụng vụ | Đại lễ kính Thánh Bavo (Sint-Bavodag), Bổn mạng Giáo phận và Thành phố | Đại lễ Giám mục (Pontificale Hoogmis) mừng kính Thánh Bavo thành Ghent, rước thánh tích của ngài và cử hành các buổi hòa nhạc hợp xướng đặc biệt. |
| Tháng 5 đến tháng 10 (các chiều thứ Bảy) | Dương lịch | Chuỗi hòa nhạc Đại phong cầm thứ Bảy (Zaterdagmiddagconcerten) | Các buổi biểu diễn đàn organ trên cây Đại phong cầm Willibrordus (Adema 1923) và đàn cánh ngang (Adema 1907) do các nghệ sĩ danh tiếng trong nước và quốc tế thực hiện. |
| 24 và 25 tháng 12 | Dương lịch, lịch phụng vụ | Đại lễ Giáng Sinh (Kerstmis) | Thánh lễ Đêm Giáng Sinh và Ngày Giáng Sinh quy tụ hàng nghìn tín hữu và người dân Haarlem dưới ánh sáng lung linh của mái vòm mười hai cạnh. |
Bên cạnh đời sống phụng vụ, sau đợt đại trùng tu hoàn tất năm 2019, nhà thờ còn mở lối lên hành lang các tháp mặt tiền và phòng trưng bày dưới hầm mộ, giúp du khách có thể vừa chiêm ngưỡng cận cảnh các tác phẩm của Jan Toorop và Mari Andriessen, vừa ngắm toàn cảnh thành phố Haarlem trải dài tới tận các cồn cát ven Biển Bắc.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đường tới
- Từ Ga tàu hỏa trung tâm Haarlem (Haarlem Centraal), quý vị có thể đi xe buýt tuyến 3 hoặc tuyến 50 khoảng 6 phút xuống tại trạm Emmaplein (hoặc đi bộ khoảng 18 phút, tương đương 1,4 km dọc theo phố Zijlvest và bờ kênh Leidsevaart về phía tây nam) là tới ngay mặt tiền nhà thờ tại số 146 Leidsevaart.
- Toạ độ
- 52.3765, 4.6221
Vương cung thánh đường Nhà thờ chính tòa Thánh Bavo là nhà thờ chính tòa đang hoạt động hàng ngày của Giáo phận Công giáo Haarlem-Amsterdam. Khi vào tham quan lòng nhà thờ, Bảo tàng Chính tòa dưới hầm mộ và khu tháp, xin quý vị mặc trang phục lịch sự, bỏ mũ và giữ trật tự tuyệt đối, đặc biệt là quanh khu vực Nhà nguyện Đức Mẹ và Nhà nguyện Thánh Thể nơi luôn có tín hữu đang quỳ cầu nguyện. Trong giờ đang cử hành Thánh lễ hoặc nghi thức phụng vụ, du khách không đi lại chụp ảnh dọc hành lang và cung thánh.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Vương cung thánh đường Nhà thờ chính tòa Thánh Bavo tại Haarlem (Kathedrale Basiliek Sint Bavo)
Contribute photos, information or video for Cathedral of Saint Bavo, HaarlemThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao Nhà thờ chính tòa Thánh Bavo bên kênh Leidsevaart lại được gọi là KoepelKathedraal?
Từ năm 2019, ban quản trị nhà thờ sử dụng tên gọi KoepelKathedraal Haarlem (Nhà thờ chính tòa Mái vòm) song song với tên giáo luật Kathedrale Basiliek Sint Bavo nhằm tôn vinh mái vòm đồng xanh cao 65 mét đặc trưng của công trình, đồng thời giúp du khách không bị nhầm lẫn với Nhà thờ Lớn Thánh Bavo (Grote of Sint-Bavokerk) thuộc đạo Tin Lành ở Quảng trường Lớn.
Nhà thờ chính tòa Thánh Bavo tại Haarlem nằm trong nhóm năm nhà thờ lớn nào của thế giới?
Công trình được giới sử học kiến trúc xếp vào nhóm năm đại thánh đường Kitô giáo lớn nhất thế giới được xây dựng trong giai đoạn giao thời từ cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20 (khoảng 1880 đến 1930), cùng với Vương cung thánh đường Sagrada Família (Barcelona), Vương cung thánh đường Sacré-Cœur (Paris), Nhà thờ chính tòa Westminster (Luân Đôn) và Nhà thờ chính tòa Thánh Gioan Thần học (New York).
Ai là kiến trúc sư thiết kế nhà thờ và vì sao công trình có nhiều phong cách kiến trúc khác nhau?
Nhà thờ do kiến trúc sư Joseph Cuypers (con trai của kiến trúc sư lừng danh Pierre Cuypers) thiết kế và chỉ huy xây dựng qua ba giai đoạn từ năm 1895 đến năm 1930. Vì quá trình xây dựng kéo dài 35 năm, Joseph Cuypers đã kết hợp phong cách Tân Romanesque và Tân Gothic ở khu cung thánh với mái vòm Byzantine, vòm móng ngựa Moorish vùng Tây Ban Nha, trường phái Berlage, Art Nouveau và chủ nghĩa Biểu hiện ở hai tháp mặt tiền.
Cây Đại phong cầm Willibrordus trong nhà thờ có nguồn gốc từ đâu?
Cây Đại phong cầm Willibrordus khổng lồ gồm 4 bàn phím và khoảng 80 bộ âm vốn được hãng P.J. Adema & Zoon chế tác từ năm 1921 đến năm 1923 cho Nhà thờ Thánh Willibrordus buiten de Veste tại Amsterdam. Khi ngôi nhà thờ ở Amsterdam bị phá dỡ vào năm 1970, toàn bộ cây đàn kiệt tác này đã được chuyển về lắp đặt tại Nhà thờ chính tòa Thánh Bavo ở Haarlem và khánh thành năm 1971.
Những nghệ sĩ nổi tiếng nào của Hà Lan đã đóng góp tác phẩm trong nội thất nhà thờ?
Nội thất nhà thờ được kiến tạo như một tác phẩm nghệ thuật tổng hợp (Gesamtkunstwerk) với sự góp mặt của danh họa trường phái Biểu tượng Jan Toorop (tác giả các bức tranh ghép gạch men tại Nhà nguyện Thánh Thể), nghệ sĩ Han Bijvoet (tác giả cửa sổ kính màu, tranh ghép mảnh và Đàng Thánh Giá) và nhà điêu khắc lừng danh của Haarlem là Mari Andriessen.