VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đại tịnh xá Somapura Mahavihara, Paharpur

সোমপুর মহাবিহার, পাহাড়পুর বৌদ্ধ বিহার, Paharpur Buddhist Bihar

Quần thể đại học tu viện Phật giáo rộng mười một héc-ta gồm một trăm bảy mươi bảy tăng phòng vây quanh ngôi đại tháp chữ thập bậc thang đính hàng nghìn bức phù điêu đất nung từ thế kỷ thứ tám.

Khởi dựng
Cuối thế kỷ 8 SCN
hoàng đế Dharmapala của Đế chế Pala khởi lập
Quy mô và kiến trúc
11 ha, 177 tăng phòng
đại tháp chữ thập bậc thang cao 21 m, 2.800 phù điêu đất nung
Xếp hạng
Di sản Thế giới UNESCO
ghi danh năm 1985 (tiêu chí i, ii, vi)

Giữa vùng đồng bằng phù sa bằng phẳng của huyện Naogaon thuộc miền tây bắc Bangladesh, du khách đi từ xa đã nhìn thấy một gò tháp gạch đỏ khổng lồ vươn cao hơn hai mươi mốt mét giữa thảm cỏ xanh mướt như một ngọn đồi nhân tạo. Chính hình dáng sừng sững ấy đã khiến cư dân địa phương suốt nhiều thế kỷ gọi vùng đất này là Paharpur (nghĩa là Thị trấn Ngọn đồi). Khi bước qua phế tích cổng thành đồ sộ ở phía bắc, cả một tòa thành tu viện hình vuông mênh mông rộng mười một héc-ta mở ra trước mắt, bốn phía là một trăm bảy mươi bảy căn phòng gạch của chư tăng xếp liền nhau như một vòng tường thành bảo vệ ngôi đại tháp hình chữ thập ở chính tâm.

Quần thể khảo cổ vĩ đại ấy chính là Đại tịnh xá Somapura Mahavihara, Paharpur (tiếng Bengal: সোমপুর মহাবিহার hay পাহাড়পুর বৌদ্ধ বিহার, tiếng Phạn: Somapura Mahāvihāra), một trong những trung tâm đại học Phật giáo lớn và quan trọng bậc nhất thế giới cổ đại ở phía nam dãy Himalaya, được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới vào năm 1985. Được Hoàng đế Dharmapala của Đế chế Pala kiến lập vào cuối thế kỷ thứ 8 SCN, Somapura từng là ngọn hải đăng trí tuệ của Phật giáo Đại thừa và Kim Cương thừa suốt hơn bốn trăm năm, nơi đào tạo những bậc đại luận sư như Tổ sư Atisha và tạo nên hình mẫu kiến trúc tháp bậc thang chữ thập lan tỏa tới tận Myanmar, Java và Campuchia.

Đại tịnh xá Somapura Mahavihara, Paharpur
Đại tịnh xá Somapura Mahavihara, Paharpur. Ảnh: Abdulmominbd, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IThành Phố Mặt Trăng Của Hoàng Đế Dharmapala, Mạng Lưới Ngũ Đại Học Viện Và Đại Sư Atisha

Đại tịnh xá Somapura thuộc truyền thống Phật giáo Đại thừa (Mahayana) và Kim Cương thừa (Vajrayana, phát triển rực rỡ nhất dưới thời Đế chế Pala tại vùng Bengal và Bihar từ thế kỷ 8 tới thế kỷ 12). Trong tiếng Phạn, Somapura có nghĩa là Thành phố Mặt Trăng (Soma là Mặt Trăng, Pura là thành phố), còn Mahavihara có nghĩa là Đại Tịnh Xá (một quần thể tu viện quy mô lớn đóng vai trò như một trường đại học nội trú thời cổ trung đại, khác với một Vihara nhỏ lẻ thông thường).

Theo sử liệu

Theo hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO số 322 và báo cáo khai quật của nhà khảo cổ học K. N. Dikshit, trong quá trình khai quật tại Paharpur, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều ấn triện (con dấu) bằng đất sét nung khắc dòng chữ Phạn: Śrī-Somapure-Śrī-Dharmapāladeva-Mahāvihāriyārya-bhikṣu-saṅghasya, dịch nghĩa là: Của Tăng đoàn Tỳ-kheo thánh thiện thuộc Đại tịnh xá của Đức vua Dharmapala tại Somapura. Bằng chứng văn tự trực tiếp này xác nhận người sáng lập đại tịnh xá chính là Hoàng đế Dharmapala (trị vì khoảng năm 770 tới 810 SCN, hoặc 781 tới 821 SCN theo một số niên biểu sử học), vị hoàng đế thứ hai và kiệt xuất nhất của Đế chế Pala. Sử sách Tây Tạng (như bộ Pag Sam Jon Zang của Taranatha) cũng ghi chép rằng vua Dharmapala đã cho xây dựng khoảng 50 trung tâm giáo dục Phật giáo lớn nhỏ, trong đó Somapura Mahavihara là công trình có quy mô mặt bằng lớn nhất.

Theo giáo nghĩa

Khác với các tu viện thời kỳ trước vốn tách rời nhau, dưới triều đại Pala, năm đại học tu viện lớn nhất vùng Đông Ấn và Bengal là Nalanda, Vikramashila, Somapura, Odantapuri và Jagaddala đã vận hành như một liên hiệp năm trường đại học quốc gia dưới sự giám sát của triều đình. Các học giả và bản thảo kinh điển thường xuyên được luân chuyển giữa năm trung tâm này. Tại Somapura Mahavihara, danh tiếng học thuật gắn liền với tên tuổi của bậc đại tổ sư người Bengal là Atisha Dipankara Srijnana (982 tới 1054 SCN): trước khi vượt núi tuyết sang Tây Tạng vào năm 1040 để chấn hưng Phật giáo Tây Tạng và sáng lập phái Kadampa, Đại sư Atisha đã cư trú nhiều năm tại Somapura và chính tại đây ngài đã dịch bộ luận Madhyamakaratnapradipa (Ngọn đèn châu báu của Trung Quán luận) của Bồ Tát Thanh Biện (Bhavaviveka) sang tiếng Tây Tạng. Ngoài ra, các đại sư mật tông nổi tiếng trong nhóm 84 Đại Thành Tựu Giả (Mahasiddha) và luận sư Ratnakara Shanti cũng từng giảng pháp tại tịnh xá này.

Chỗ hay hiểu lầm

Giá trị nổi bật toàn cầu khiến UNESCO ghi danh Somapura Mahavihara vào năm 1985 nằm ở sự truyền bá kiến trúc từ Bengal sang Đông Nam Á. Trước thế kỷ thứ 8, tại Ấn Độ chưa từng xuất hiện kiểu đền tháp có mặt bằng hình chữ thập bậc thang với các hành lang đi nhiễu và tường ốp phù điêu đất nung liên hoàn như tại Paharpur. Chính các vị cao tăng và kiến trúc sư giao lưu đường biển giữa vương triều Pala và các vương quốc Đông Nam Á đã mang mô hình kiến trúc Mandala bậc thang của Somapura Mahavihara sang ứng dụng trực tiếp vào cấu trúc đại bảo tháp Borobudur và đền Loro Jonggrang (Prambanan) tại đảo Java (Indonesia) ở thế kỷ 8 và 9, cũng như ngôi đền nổi tiếng Ananda tại cố đô Bagan (Myanmar) vào cuối thế kỷ 11.

IITừ Thời Hoàng Kim Đế Chế Pala Thế Kỷ 8 Tới Các Cuộc Khai Quật Khảo Cổ Thế Kỷ 20

Từng rực rỡ suốt bốn thế kỷ dưới sự bảo hộ của các vương triều Pala và Chandra trước khi bị bỏ hoang và chôn vùi dưới lớp đất phù sa suốt gần bảy trăm năm, diện mạo của Đại tịnh xá Somapura đã được đánh thức nhờ những cuộc khảo sát bền bỉ từ đầu thế kỷ 19 tới thế kỷ 20.

  • Cuối thế kỷ 8 SCN (khoảng 770 tới 810)Hoàng đế Dharmapala khởi dựng Đại tịnh xá Somapura
    Hoàng đế thứ hai của Đế chế Pala là Dharmapala cho xây dựng một quần thể tu viện khổng lồ hình tứ giác gồm 177 tăng phòng và đại tháp trung tâm trên nền một cơ sở tôn giáo cổ tại vùng đất Varendra (Bắc Bengal).
  • Thế kỷ 9 tới thế kỷ 10Trùng tu dưới thời vua Devapala và giai đoạn cực thịnh của Mật tông
    Các vị vua kế vị của triều Pala như Devapala và Mahendrapala tiếp tục ban cấp ruộng đất nuôi dưỡng gần một nghìn chư tăng tu học, nhiều bệ tượng đá và phù điêu mới được bổ sung vào các tăng phòng.
  • Đầu thế kỷ 11Đại sư Atisha dịch kinh và cuộc trùng tu của cao tăng Vipulashrimitra
    Đại sư Atisha Dipankara Srijnana cư trú và dịch kinh tại Somapura. Tấm bia đá tìm thấy tại Nalanda ghi nhận sau một vụ hỏa hoạn khi quân đội xứ Vanga tấn công vào thế kỷ 11, vị cao tăng Vipulashrimitra đã đứng ra trùng tu lại tịnh xá Somapura và xây thêm đền thờ nữ thần Tara tại Satyapir Bhita bên cạnh.
  • Thế kỷ 12 tới thế kỷ 13Suy tàn dưới vương triều Sena và bị bỏ hoang
    Khi vương triều Sena (vốn sùng mộ Ấn Độ giáo) thay thế triều Pala vào thế kỷ 12 và sau những biến động lịch sử đầu thế kỷ 13 tại Bengal, sự bảo trợ hoàng gia chấm dứt, các tu sĩ rời đi và toàn bộ tịnh xá dần bị rừng rậm cùng đất phù sa che phủ thành một ngọn đồi cao.
  • 1807 tới 1879Francis Buchanan-Hamilton và Alexander Cunningham khảo sát phế tích
    Học giả người Scotland Francis Buchanan-Hamilton là người đầu tiên khảo sát và ghi chép về ngọn đồi gạch Paharpur vào năm 1807 (ông nhận định đúng đây là một công trình Phật giáo), tới năm 1879, cha đẻ ngành khảo cổ học Ấn Độ là Sir Alexander Cunningham trực tiếp tới đo đạc khu di tích.
  • 1923 tới 1934Khai quật toàn diện làm lộ diện 177 tăng phòng và đại tháp chữ thập
    Cục Khảo cổ Ấn Độ phối hợp cùng Đại học Calcutta và Bảo tàng Varendra (do D. R. Bhandarkar, R. D. Banerji và đặc biệt là K. N. Dikshit chủ trì) tiến hành khai quật quy mô lớn suốt một thập kỷ, đưa toàn bộ mặt bằng 11 héc-ta và hàng nghìn tấm phù điêu đất nung ra ánh sáng.
  • Năm 1985UNESCO công nhận Di sản Văn hóa Thế giới
    Tại kỳ họp lần thứ 9 năm 1985, Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO chính thức ghi danh Phế tích Tịnh xá Phật giáo tại Paharpur (Somapura Mahavihara) là Di sản Thế giới (số hiệu 322).

IIIBố Cục Tứ Giác 177 Tăng Phòng, Đại Tháp Chữ Thập Bậc Thang Và Kho Tàng Phù Điêu Đất Nung

Khác với khu đại học Nalanda ở Bihar vốn gồm nhiều tu viện nhỏ xây nối tiếp nhau qua nhiều thế kỷ trên một dải đất dài, toàn bộ Đại tịnh xá Somapura được quy hoạch ngay từ đầu theo một bản thiết kế thống nhất, cân xứng tuyệt đối trên diện tích nội vi khoảng 27 mẫu Anh (11 héc-ta). Quần thể bao gồm một vòng tường thành khép kín gồm 177 tăng phòng ở bốn phía và một ngôi đại tháp khổng lồ vươn lên ở chính giữa sân.

Vòng thành tứ giác và 177 tăng phòng (Monastic Cells)

Bao bọc bốn phía của tịnh xá là bốn dãy nhà gạch khổng lồ tạo thành một hình tứ giác gần vuông: cạnh Bắc - Nam dài 922 bộ Anh (khoảng 281 mét) và cạnh Đông - Tây dài 919 bộ Anh (khoảng 280 mét). Bức tường lưng phía ngoài dày tới 16 bộ Anh (gần 5 mét) không có cửa sổ, khiến toàn khu tu viện kiên cố như một tòa thành. Quay mặt vào hành lang chung (rộng khoảng 2,5 tới 2,7 mét) chạy vòng quanh sân trong là đúng 177 căn phòng ở và thiền định của chư tăng (cạnh phía Bắc có 45 phòng cùng cổng chính đồ sộ ở giữa, ba cạnh Đông, Nam và Tây mỗi cạnh có 44 phòng). Mỗi tăng phòng có kích thước trung bình khoảng 4,26 mét nhân 4,11 mét, ở thời kỳ sau, khoảng 800 bệ đá chạm trổ đã được dựng bên trong các phòng này để thờ tượng chư Phật và Bồ Tát.

Đại tháp trung tâm mặt bằng chữ thập bậc thang (Central Cruciform Stupa)

Đứng sừng sững tại giao điểm hai đường chéo của sân lớn là ngôi đền tháp trung tâm có chiều dài 356 bộ 6 inch (108,6 mét) theo trục Bắc - Nam và rộng 314 bộ 3 inch (95,8 mét) theo trục Đông - Tây. Dù phần chóp đỉnh đã đổ sập qua thời gian, khối tháp gạch hiện vẫn còn cao khoảng 70 bộ Anh (hơn 21 mét). Công trình được xây giật cấp thành 3 tầng bậc thang thu nhỏ dần xoay quanh một trụ tháp vuông rỗng cao vút ở chính tâm. Ở tầng thứ hai, tại bốn hướng chính Đông, Tây, Nam, Bắc có bốn gian điện thờ (Mandapa) nhô ra ngoài kèm hành lang đi nhiễu (Pradakshina-patha) có tường chắn bao quanh, tạo nên mặt bằng hình chữ thập có nhiều góc vuông giật cấp nhìn từ trên cao giống như một đồ hình Mạn-đà-la bằng gạch đỏ khổng lồ.

Kho tàng 2.800 tấm phù điêu đất nung (Terracotta) và 63 phù điêu đá

Điểm cuốn hút bậc nhất của đại tháp trung tâm là những dải phù điêu chạy liên tục quanh chân tường tầng một và tầng hai. Hiện vẫn còn khoảng 2.000 tấm phù điêu bằng đất nung (terracotta) gắn nguyên tại chỗ trên tường tháp và khoảng 800 tấm rời được bảo quản trong bảo tàng di tích. Các nghệ nhân vùng Bengal thế kỷ 8 đã nặn đất sét sông Hằng thành muôn vàn hình tượng sống động: tượng Đức Phật Thích Ca, Bồ Tát Quan Thế Âm (Padmapani), Bồ Tát Văn Thù, nữ thần Tara, các nhạc công, vũ nữ, chiến binh, sư tử, voi, thiên nga, hoa sen và các tích truyện cổ dân gian Panchatantra. Đặc biệt, ở phần chân móng tầng dưới cùng còn gắn 63 bức phù điêu chạm bằng đá nguyên khối thể hiện cả các vị thần Ấn Độ giáo (như thần Krishna thời niên thiếu, Balarama, Shiva, Brahma, Indra) được tận dụng từ các đền cổ trước đó, minh chứng cho sự giao thoa nghệ thuật Phật - Ấn tại Bengal.

Khu đền thờ nữ thần Tara tại Satyapir Bhita và Bảo tàng khảo cổ Paharpur

Cách bức tường phía đông của đại tịnh xá khoảng 365 mét là khu phế tích Satyapir Bhita, nơi các nhà khảo cổ đã khai quật được nền móng ngôi đền thờ Đức Lục Độ Mẫu Tara (do cao tăng Vipulashrimitra trùng tu thế kỷ 11) bao quanh bởi 132 bảo tháp cầu nguyện (votive stupas) đủ hình dáng tròn, vuông và đa giác. Ngay phía trước cổng vào khu di tích hiện nay là Bảo tàng Khảo cổ học Paharpur (thành lập năm 1956 tới 1957), nơi trưng bày tượng Phật bằng đồng chạm hoa văn tinh xảo, tượng thần Hevajra Kim Cương thừa, các con dấu đất nung khắc tên vua Dharmapala, tiền xu cổ và các tấm phù điêu đất nung tiêu biểu nhất.

Bảng thông số khảo cổ của Đại tịnh xá Somapura Mahavihara tại Paharpur. Nguồn: Hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO số 322, chuyên khảo Excavations at Paharpur của K. N. Dikshit (Memoirs of the Archaeological Survey of India, số 55) và Banglapedia..
Hạng mụcThông số khảo cổ và kiến trúcNguồn đối chiếu
Kích thước vòng thành tứ giácBắc - Nam dài 922 ft (281 m), Đông - Tây rộng 919 ft (280 m), diện tích nội vi 11 haUNESCO (hồ sơ 322), Banglapedia
Tổng số tăng phòng (Monastic cells)177 phòng (cạnh Bắc 45 phòng, cạnh Đông 44, cạnh Nam 44, cạnh Tây 44)Báo cáo khai quật của K. N. Dikshit (1938), UNESCO
Kích thước Đại tháp chữ thập trung tâmDài 356 ft 6 in (108,6 m), rộng 314 ft 3 in (95,8 m), cao hiện tồn khoảng 70 ft (21,3 m)Cục Khảo cổ học Bangladesh, Banglapedia
Hệ thống phù điêu trang tríKhoảng 2.000 tấm đất nung (terracotta) còn trên tường, 800 tấm rời và 63 phù điêu đá ở chân móngUNESCO World Heritage List (số 322)
Cấp xếp hạng di sảnDi sản Văn hóa Thế giới UNESCO (tiêu chí i, ii và vi)Công nhận năm 1985
Tọa độ vệ tinh25,0311 độ vĩ Bắc, 88,9769 độ kinh ĐôngWikidata (Q305044), OpenStreetMap

IVThế Đất Và Hướng

Phật giáo Ấn Độ cổ đại không dạy và không áp dụng phép phong thủy Bát quái Trung Hoa khi kiến lập tịnh xá. Việc chọn đất và bố cục mặt bằng của các đại học viện thời Đế chế Pala tuân theo quy tắc giới luật trong Luật tạng (Vinaya) kết hợp với mô hình vũ trụ quan Mạn-đà-la (Mandala) của Phật giáo Đại thừa và Kim Cương thừa: lấy ngọn núi vũ trụ Tu-di (Sumeru) đặt ở trung tâm và bốn châu lục (Tứ đại bộ châu) mở ra bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc. Phần dưới đây là góc nhìn đối chiếu địa thế và bố cục của Đại tịnh xá Somapura theo phép hình thế cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét trên bản đồ địa mạo vùng Bắc Bengal tại tọa độ 25,0311 độ vĩ Bắc, 88,9769 độ kinh Đông, Đại tịnh xá Somapura nằm trên dải đất đỏ phù sa cổ nâng cao gọi là cao nguyên Varendra (Barind Tract), vùng đất cao ráo nằm kẹp giữa hai đại giang là sông Hằng (Padma) ở phía tây nam và sông Brahmaputra (Jamuna) ở phía đông, bên cạnh chi lưu cổ của sông Tulsiganga và sông Little Jamuna. Trong một vùng đồng bằng châu thổ thường xuyên ngập lụt mỗi mùa mưa bão, việc chọn dải đất cao Varendra vững chắc làm nền móng đã giúp khối công trình gạch nặng hàng vạn tấn đứng vững suốt hơn một thiên niên kỷ mà không bị sụt lún, đồng thời kết nối thuận lợi bằng đường thủy với kinh đô Pundranagara (Mahasthangarh) cách đó khoảng 30 cây số về phía đông nam.

Xét về sơn hướng và kết cấu nội cục, toàn bộ 177 tăng phòng ghép liền nhau trên bốn cạnh dài 280 mét tạo thành thế Tứ Phương Khép Kín Tàng Phong: bức tường lưng phía ngoài dày gần 5 mét ngăn chặn hoàn toàn gió bão và sự ồn ào thế tục, giữ cho khoảng sân rộng 11 héc-ta bên trong trở thành một nội minh đường tĩnh lặng tuyệt đối. Chính giữa tâm điểm của tứ giác là ngôi Đại tháp chữ thập ba tầng cao hơn 21 mét đóng vai trò là Thái Cực Trung Cung (huyệt kết tụ khí của toàn bộ đồ hình Mandala), nơi bốn gian điện thờ mở ra đúng bốn hướng chính Đông, Tây, Nam, Bắc. Về hướng mở cổng chính, toàn bộ tòa thành tu viện chỉ mở một cổng đại môn duy nhất ở chính giữa cạnh phía Bắc (tọa Nam hướng Bắc) với tiền sảnh rộng có hai hàng cột lớn. Ngay phía trước cổng Bắc và phía Đông Bắc từng có bến nước cổ gắn bậc thang đá (Bathing Ghat) thông ra nhánh sông cổ, tạo nên thế Thủy tụ tiền môn (nước tụ trước cổng), vừa cung cấp nước sinh hoạt và giao thông thuyền bè cho gần một nghìn chư tăng, vừa làm khoảng minh đường mặt nước đón khí mát vào tịnh xá.

VCác Kỳ Lễ Phật Đản Buddha Purnima Và Hành Hương Quốc Tế Tại Paharpur

Ngày nay, Đại tịnh xá Somapura Mahavihara là một khu di tích khảo cổ học quốc gia và Di sản Thế giới UNESCO do Cục Khảo cổ học Bangladesh trực tiếp bảo tồn. Dù không còn tăng đoàn cư trú thường xuyên trong 177 tăng phòng cổ như thời Đế chế Pala, nơi đây vẫn là thánh địa hành hương tâm linh của cộng đồng Phật tử Bangladesh cùng các đoàn tăng ni, học giả quốc tế từ Tây Tạng, Bhutan, Sri Lanka, Thái Lan, Nhật Bản và Việt Nam tìm về chiêm bái dấu chân Tổ sư Atisha vào các dịp lễ tiết tính theo lịch Phật giáo Nam Á và lịch âm dương Bengal:

Các kỳ lễ tiết Phật giáo và hoạt động văn hóa thường niên tại khu di sản Somapura Mahavihara. Nguồn: Cục Khảo cổ học Bangladesh (Department of Archaeology) và Hiệp hội Phật giáo Bangladesh (Bangladesh Bouddha Kristi Prachar Sangha)..
Thời điểmTheo lịch nàoTên đại lễ và sự kiệnHoạt động tâm linh và văn hóa tại Somapura Mahavihara
Ngày trăng tròn tháng Vaisakha (tháng Baisakh, khoảng tháng 5 Dương lịch)Lịch Phật giáo và lịch âm dương BengalĐại lễ Phật Đản পূর্ণিমা (Buddha Purnima / Vesak)Ngày lễ thiêng liêng nhất trong năm của Phật giáo tại Bangladesh (kỷ niệm ba sự kiện Đức Phật đản sinh, thành đạo và nhập Niết-bàn). Các hội đoàn Phật giáo Bangladesh và các đoàn hành hương quốc tế quy tụ về Paharpur để đi nhiễu ba vòng (Pradakshina) quanh chân Đại tháp chữ thập trung tâm, tụng kinh cầu nguyện hòa bình và tưởng niệm chư vị tổ sư Đế chế Pala.
Ngày trăng tròn tháng Ashwin (khoảng tháng 10) tới tháng Kartik (tháng 11)Lịch Phật giáo tại BangladeshLễ Prabarana Purnima và Mùa dâng y Kathina Civara DanaSau khi kết thúc ba tháng an cư mùa mưa (Vassa), các đoàn tăng ni và cư sĩ Phật tử từ vùng Chittagong, Dhaka và Rajshahi tổ chức các chuyến hành hương về chiêm bái thánh tích Somapura Mahavihara và Mahasthangarh.
Tháng 11 tới tháng 2 hằng năm (mùa khô mát mẻ tại Bắc Bengal)Dương lịch (mùa hành hương quốc tế)Hành hương theo dấu chân Đại sư Atisha Dipankara và hội thảo khảo cổMùa cao điểm đón các đoàn hành hương Phật giáo Kim Cương thừa (từ Tây Tạng, Bhutan, Nepal) và các viện nghiên cứu khảo cổ quốc tế về khảo sát hệ thống phù điêu đất nung và tưởng niệm Đại sư Atisha.
Ngày 1 tháng Baisakh (ngày 14 tháng 4 Dương lịch)Lịch cổ truyền Bengal (Banggabda)Lễ hội Năm mới Bengal (Pahela Baishakh) và Ngày Di sản Thế giới (18/4)Cục Khảo cổ học Bangladesh và Bảo tàng Paharpur tổ chức các buổi trưng bày chuyên đề bảo vật thời Pala và đón hàng vạn người dân khắp vùng Rajshahi - Naogaon về tham quan di sản.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Paharpur, Badalgachhi Upazila, Naogaon District, Rajshahi Division, Bangladesh (পাহাড়পুর, নওগাঁ)
Đường tới
Tọa lạc tại làng Paharpur, huyện Badalgachhi thuộc tỉnh Naogaon (vùng Rajshahi ở tây bắc Bangladesh), cách thủ đô Dhaka khoảng 260 km về phía tây bắc. Cách đi thuận tiện nhất là đi tàu hỏa liên tỉnh từ Dhaka (hoặc từ Rajshahi, Khulna) tới ga জয়পুরহাট (Joypurhat Railway Station) hoặc ga জামালগঞ্জ (Jamalganj Station, cách di tích chỉ 5 km), sau đó đi xe ba bánh tự động (CNG auto-rickshaw) khoảng 15 tới 25 phút là tới thẳng cổng Đại tịnh xá.
Toạ độ
25.0311, 88.9769
Khi tới nơi

Đại tịnh xá Somapura Mahavihara là một quần thể di tích khảo cổ học ngoài trời rộng lớn đã hơn một nghìn hai trăm năm tuổi. Khi tới tham quan và chiêm bái, quý vị nên đội mũ nón che nắng và mang giày đế mềm dễ tháo khi vào thăm Bảo tàng Paharpur. Để bảo vệ di sản, quý vị tuyệt đối không trèo lên các bức tường gạch cổ của 177 tăng phòng, chỉ đi theo lối bậc thang được quy định tại Đại tháp trung tâm, không dùng tay chạm hoặc cạo vào bề mặt các tấm phù điêu đất nung (terracotta) đang gắn ở chân tháp và giữ gìn vệ sinh tuyệt đối trong toàn bộ khuôn viên.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đại tịnh xá Somapura Mahavihara, Paharpur

Contribute photos, information or video for Somapura Mahavihara

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Ai là người đã xây dựng Đại tịnh xá Somapura Mahavihara và vào thời gian nào

Các con dấu bằng đất nung tìm thấy tại di tích khắc dòng chữ Phạn mang tên vua Dharmapala đã chứng minh Đại tịnh xá Somapura được xây dựng vào cuối thế kỷ thứ 8 SCN bởi Hoàng đế Dharmapala (trị vì khoảng năm 770 tới 810 SCN), vị hoàng đế thứ hai của Đế chế Pala từng cai trị vùng Bengal và Bihar.

Vì sao khu di tích này lại có hai tên gọi là Somapura Mahavihara và Paharpur

Somapura Mahavihara là tên gọi tiếng Phạn nguyên thủy từ thế kỷ 8, có nghĩa là Đại tịnh xá tại Thành phố Mặt Trăng. Sau khi tu viện bị bỏ hoang vào thế kỷ 12 tới 13, ngôi đại tháp trung tâm cao hơn 21 mét bị đất cát và cây rừng phủ kín trông giống như một ngọn đồi cao giữa đồng bằng, nên người dân địa phương gọi vùng đất này là Paharpur (trong tiếng Bengal, Pahar nghĩa là ngọn đồi, Pur là thị trấn).

Kiến trúc của Đại tịnh xá Somapura có gì độc đáo khiến UNESCO công nhận Di sản Thế giới

Quần thể có quy hoạch hình tứ giác đồng nhất rộng tới 11 héc-ta, gồm 177 tăng phòng xếp thành vòng tường thành bốn phía bao quanh một ngôi đại tháp trung tâm có mặt bằng hình chữ thập bậc thang đính khoảng 2.800 tấm phù điêu đất nung. Kiểu tháp chữ thập bậc thang có hành lang đi nhiễu này là một sáng tạo kiến trúc hoàn toàn mới tại Nam Á và đã truyền cảm hứng trực tiếp cho việc xây dựng đền Borobudur ở Indonesia và đền Ananda ở Bagan (Myanmar).

Đại sư Atisha có mối liên hệ lịch sử như thế nào với Somapura Mahavihara

Đại sư Atisha Dipankara Srijnana (982 tới 1054 SCN), vị cao tăng người Bengal có công lớn trong việc chấn hưng Phật giáo Tây Tạng vào thế kỷ 11, từng cư trú và tu học nhiều năm tại Đại tịnh xá Somapura. Sử liệu Tây Tạng ghi nhận chính tại Somapura Mahavihara, ngài Atisha đã dịch bộ luận Trung Quán Madhyamakaratnapradipa từ tiếng Phạn sang tiếng Tây Tạng.

Các bức phù điêu ở chân Đại tháp trung tâm được làm bằng chất liệu gì và mô tả nội dung gì

Chân tường Đại tháp trung tâm được trang trí bằng hai nhóm hiện vật quý giá: khoảng 2.000 tấm phù điêu bằng đất sét nung (terracotta) gắn nguyên tại chỗ mô tả chư Phật, Bồ Tát, nữ thần Tara, vũ nữ, muông thú và truyện ngụ ngôn dân gian Bengal, cùng với 63 bức phù điêu bằng đá nguyên khối ở chân móng tầng dưới cùng chạm khắc các vị thần Ấn Độ giáo như thần Krishna, Shiva và Brahma.

›Đọc Tiếp