VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tu viện Xitô Fontenay (Abbaye de Fontenay)

Tu viện dòng Xitô cổ xưa nhất thế giới còn giữ nguyên vẹn từ nhà thờ, hành lang cầu nguyện, phòng ngủ đan sĩ tới xưởng rèn thủy lực thế kỷ 12 giữa thung lũng suối rừng Bourgogne.

Sáng lập
1118
bởi Thánh Bernard thành Clairvaux, dời xuống đáy thung lũng năm 1130
Nhà thờ và Xưởng rèn
1139 tới 1147
nhà thờ dài 66 m thánh hiến năm 1147, xưởng rèn dài 53 m
Xếp hạng
UNESCO 1981
mã 165, Monument historique Pháp từ năm 1862

Rời thị trấn nhỏ Montbard ở vùng thượng Bourgogne để đi theo con đường mòn xuyên qua cánh rừng sồi và dẻ gai rậm rạp của xã Marmagne, quý vị sẽ thấy mặt đất thoai thoải hạ thấp xuống một lòng thung lũng hẹp ngập tiếng nước chảy. Giữa thảm cỏ xanh mướt nơi hai dòng suối rừng gặp nhau, một quần thể kiến trúc bằng đá vôi màu vàng mật ong hiện ra trong sự tĩnh lặng tuyệt đối: không có tháp chuông vươn cao, không có mặt tiền chạm khắc cầu kỳ, không có những ô kính màu lộng lẫy. Mọi đường nét đều quy về những khối hình học thuần khiết, nơi ánh sáng ban ngày trượt dài trên mặt tường đá nhẵn và phản chiếu xuống mặt hồ cá trong vắt.

Đó chính là Tu viện Xitô Fontenay (tiếng Pháp gọi là Abbaye de Fontenay), tọa lạc tại tỉnh Côte-d'Or thuộc vùng Bourgogne-Franche-Comté. Được chính Thánh Bernard thành Clairvaux sáng lập vào năm 1118, Fontenay là tu viện dòng Xitô (Cistercian) cổ xưa nhất trên thế giới còn bảo tồn gần như nguyên vẹn toàn bộ cấu trúc trung cổ của mình. Bước qua cổng đan viện này là bước vào nguyên mẫu sống động nhất của lý tưởng khổ hạnh, cầu nguyện trong thinh lặng và lao động tự cung tự cấp đã làm thay đổi diện mạo tâm linh lẫn kỹ thuật canh tác, luyện kim của châu Âu thế kỷ 12.

Tu viện Xitô Fontenay (Abbaye de Fontenay)
Tu viện Xitô Fontenay (Abbaye de Fontenay). Ảnh: Wikimedia Commons, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IThánh Bernard Thành Clairvaux Và Lý Tưởng Khổ Hạnh Dòng Xitô

Để hiểu vì sao Tu viện Fontenay lại mang vẻ đẹp giản dị đến mức nghiêm khắc như vậy, cần quay về cuộc cải cách đan tu sâu rộng diễn ra tại vùng Bourgogne vào cuối thế kỷ 11 và đầu thế kỷ 12. Vào thời điểm ấy, dòng Biển Đức truyền thống dưới sự dẫn dắt của đại đan viện Cluny đã phát triển tới đỉnh cao của sự giàu sang, với những nghi lễ phụng vụ kéo dài hàng giờ trong các thánh đường ngập tràn vàng bạc, tranh tượng và âm nhạc đa thanh. Phản ứng lại xu hướng xa hoa đó, năm 1098, Thánh Robert thành Molesme đã dẫn một nhóm đan sĩ tìm đến vùng đầm lầy hoang vắng Cîteaux (tên Latinh là Cistercium, nguồn gốc của tên gọi dòng Xitô) để khôi phục việc tuân giữ nguyên vẹn và sát chữ Tu luật Thánh Biển Đức (Regula Sancti Benedicti) từ thế kỷ 6.

Bước phát triển mạnh mẽ nhất của dòng tu mới gắn liền với tên tuổi của Thánh Bernard thành Clairvaux (1090 tới 1153), một nhà thần học, nhà giảng thuyết và nhà cải cách kiệt xuất của Giáo hội Công giáo. Sau khi gia nhập Cîteaux năm 1112 cùng ba mươi người thân hữu và lập đan viện Clairvaux năm 1115, chỉ ba năm sau, vào năm 1118, chính Thánh Bernard đã cử mười hai đan sĩ (con số biểu trưng cho Mười Hai Tông Đồ) do người em họ là đan sĩ Geoffroy de la Roche-Vanneau dẫn đầu đến khai mở đan viện mới tại vùng rừng núi phía tây bắc Dijon. Fontenay trở thành người con gái thứ hai của đan viện mẫu Clairvaux.

Theo giáo nghĩa

Giáo nghĩa và linh đạo mà Thánh Bernard áp đặt vào từng viên đá của Fontenay được tóm gọn trong châm ngôn đan tu cổ truyền Cầu nguyện và Lao động (Ora et Labora), kết hợp với mỹ học khổ hạnh được ông trình bày trong tác phẩm Biện hộ thư gửi Viện phụ Guillaume (Apologia ad Guillelmum abbatem, khoảng năm 1125). Trong văn bản này, Thánh Bernard kịch liệt phê phán việc trang trí các bức tượng quái thú, sư tử, nhân mã hay những chùm đèn nạm ngọc trong nhà thờ đan viện, bởi ông cho rằng những hình ảnh kỳ dị và màu sắc sặc sỡ ấy làm phân tán cái nhìn nội tâm, ngăn cản tâm hồn đan sĩ tập trung vào Lời Chúa.

Chính vì lý tưởng ấy, toàn bộ nhà thờ và các phòng sinh hoạt tại Fontenay đều tuân thủ quy chuẩn kiến trúc dòng Xitô nghiêm ngặt: không xây tháp chuông cao vút biểu dương quyền lực mà chỉ đặt một gác chuông tường nhỏ vừa đủ gọi giờ kinh, không dùng kính màu đa sắc mà chỉ lắp kính trắng trong mờ (grisaille), không vẽ bích họa tường thuật trên tường đá và không tạc tượng trang trí trên các đầu cột trong nhà thờ. Trong không gian tĩnh lặng tuyệt đối ấy, ánh sáng tự nhiên và sự hài hòa của tỷ lệ hình học trở thành phương tiện duy nhất nâng tâm trí con người lên cùng Thiên Chúa, đồng thời dâng trọn ngôi nhà thờ dưới sự bảo trợ của Đức Trinh Nữ Maria, bổn mạng chung của mọi đan viện dòng Xitô.

Theo sử liệu

Tên gọi Fontenay bắt nguồn từ chữ Latinh trung cổ Fontanetum, nghĩa là vùng đất có nhiều mạch suối tuôn trào (fontaines). Ban đầu, vào năm 1118, nhóm đan sĩ của Geoffroy de la Roche-Vanneau dựng những lều gỗ đầu tiên tại một hốc đồi có tên gọi La Corvée Saint-Bernard. Tuy nhiên, do nguồn nước trên sườn đồi không đủ phục vụ cho một cộng đoàn ngày càng đông đảo, đến năm 1130, dưới sự chỉ đạo của Viện phụ thứ hai là Guillaume d'Épiry, toàn bộ tu viện được dời xuống đáy thung lũng đầm lầy bên dưới, nơi các đan sĩ tiến hành đào kênh thoát nước, nắn dòng suối và quy hoạch mặt bằng đá vôi kiên cố như hiện thấy.

Khi đối chiếu các nguồn sử liệu về người bảo trợ tài chính lớn nhất giúp xây dựng nhà thờ tu viện Fontenay từ năm 1139 đến năm 1147, có một sự khác biệt thú vị giữa truyền thống biên niên sử vùng Bourgogne và sử liệu Giáo hội Anh. Các bảng giới thiệu tại đan viện và tài liệu địa phương Pháp gọi vị ân nhân này là Ebrard de Montfort, Giám mục giáo phận Norwich (Anh quốc), người thuộc dòng dõi quý tộc lâu đài Montfort gần Montbard, đã chạy sang Pháp tránh cuộc nội chiến tại Anh năm 1139 và đem tài sản cá nhân hiến tặng để xây nhà thờ Fontenay. Trong khi đó, các bộ sử liệu giáo hội Anh như Fasti Ecclesiae Anglicanae và Oxford Dictionary of National Biography xác định vị Giám mục Norwich từ nhiệm năm 1145 và lui về sống đời đan sĩ tại Fontenay là Everard of Calne (còn chép là Eborard de Montgomery, từng làm Tổng phó tế Salisbury). Dù tên họ gia tộc có hai cách chép khác nhau, cả hai nguồn đều thống nhất rằng vị cựu Giám mục Norwich này đã tài trợ phần lớn kinh phí xây dựng nhà thờ, qua đời tại Fontenay (vào ngày 12 tháng 10 năm 1146 hoặc 1147 tùy nguồn) và được an táng trang trọng ngay trước bàn thờ chính.

Chỗ hay hiểu lầm

Một điểm dễ gây hiểu lầm cho du khách khi đứng trước pho tượng Đức Mẹ Fontenay (Vierge de Fontenay) đặt trong gian cánh ngang phía bắc của nhà thờ là nhiều người nghĩ dòng Xitô hoàn toàn cấm tuyệt đối mọi pho tượng trong không gian thờ tự từ đầu đến cuối. Thực tế, quy định cấm tượng ảnh chỉ áp dụng nghiêm ngặt trong thế kỷ 12 lúc Thánh Bernard còn tại thế. Đến cuối thế kỷ 13 (khoảng năm 1280 tới 1300), các đan sĩ đã tạc pho tượng Đức Trinh Nữ Maria bế Chúa Hài Đồng bằng đá vôi cao khoảng 1,30 mét tới 1,40 mét. Dẫu vậy, pho tượng này vẫn giữ trọn tinh thần điêu khắc vùng Bourgogne: gương mặt Đức Mẹ hiền từ mỉm cười nhẹ nhàng với Chúa Hài Đồng, nếp áo rủ mềm mại, tự nhiên mà không hề phô trương nét vương giả nặng nề.

IIChín Thế Kỷ Từ Đan Viện Trung Cổ Tới Xưởng Giấy Và Di Sản Nhân Loại

Lịch sử của Tu viện Fontenay trải dài hơn chín trăm năm, đi qua thời kỳ hoàng kim của dòng Xitô dưới sự bảo hộ của các Giáo hoàng và Công tước xứ Bourgogne, chịu đựng những cuộc binh lửa thời Chiến tranh Trăm Năm, rồi bước qua một khúc quanh lịch sử đặc biệt sau Cách mạng Pháp: việc biến đan viện thành nhà máy sản xuất giấy của dòng họ Montgolfier chính là yếu tố bất ngờ giúp toàn bộ công trình thoát khỏi cảnh bị tháo dỡ lấy đá như hàng trăm tu viện khác trên đất Pháp.

  • 1118Thánh Bernard thành Clairvaux sáng lập đan viện
    Thánh Bernard cử mười hai đan sĩ từ Clairvaux do người em họ Geoffroy de la Roche-Vanneau dẫn đầu tới lập đan viện tại khu rừng Marmagne, mở đầu lịch sử Fontenay.
  • 1130Dời xuống đáy thung lũng suối Fontenay
    Viện phụ Guillaume d'Épiry quyết định chuyển cơ sở từ sườn đồi xuống lòng thung lũng có mạch suối dồi dào, tiến hành cải tạo đầm lầy và quy hoạch hệ thống thủy lợi.
  • 1139 - 1147Xây dựng và thánh hiến nhà thờ tu viện
    Nhờ nguồn tài trợ của Giám mục Norwich là Ebrard (Everard), nhà thờ bằng đá vôi được xây dựng hoàn chỉnh. Ngày 21 tháng 9 năm 1147, Giáo hoàng Êugêniô III đích thân cử hành lễ thánh hiến trước sự hiện diện của Thánh Bernard, mười hồng y và tám giám mục.
  • 1259 - 1269Trở thành Đan viện Hoàng gia
    Vua nước Pháp Louis IX (Thánh Louis) ban quy chế miễn trừ thuế khóa năm 1259 và nâng Fontenay lên hàng Đan viện Hoàng gia (Abbaye royale) năm 1269. Giai đoạn cực thịnh này tu viện quy tụ khoảng ba trăm đan sĩ và tu huynh.
  • Thế kỷ 15Tái thiết mái phòng ngủ tập thể sau hỏa hoạn
    Sau các đợt cướp phá trong Chiến tranh Trăm Năm và một vụ hỏa hoạn làm hỏng phần mái cũ, các đan sĩ cho dựng lại bộ khung mái gỗ sồi và dẻ gai khổng lồ hình sống tàu úp ngược bên trên phòng ngủ tập thể.
  • 1791 - 1820Quốc hữu hóa và chuyển thành nhà máy giấy Montgolfier
    Cách mạng Pháp giải thể cộng đoàn đan tu chỉ còn tám đan sĩ cuối cùng và đem bán đấu giá tu viện năm 1791 với giá 78.000 franc cho Claude Hugot để mở xưởng giấy. Năm 1820, Élie de Montgolfier (cháu của hai anh em phát minh khinh khí cầu) mua lại và hiện đại hóa nhà máy.
  • 1906 - 1911Phục hồi nguyên trạng kiến trúc trung cổ
    Chủ ngân hàng kiêm nhà sưu tập nghệ thuật vùng Lyon là Édouard Aynard (con rể dòng họ Montgolfier) mua lại toàn bộ khu đất năm 1906, cho tháo dỡ toàn bộ các xưởng máy công nghiệp thế kỷ 19 để trả lại diện mạo Romanesque nguyên bản thế kỷ 12.
  • 1981Ghi danh Di sản Thế giới UNESCO
    Sau khi được Bộ Văn hóa Pháp xếp hạng Monument historique từ đợt đầu năm 1862 (mã PA00112529), Tu viện Xitô Fontenay chính thức được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới năm 1981 (mã số 165).
Theo sử liệu

Đại lễ thánh hiến ngày 21 tháng 9 năm 1147 tại Fontenay là một trong những sự kiện trọng đại nhất của lịch sử Giáo hội châu Âu giữa thế kỷ 12. Vị giáo hoàng chủ sự hôm ấy, Chân phước Êugêniô III (Bernardo Pignatelli), vốn chính là một cựu đan sĩ dòng Xitô từng tu học dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Thánh Bernard tại Clairvaux trước khi đắc cử Giáo hoàng năm 1145. Sau khi chủ trì công đồng tại Paris và cổ vũ cuộc Thập tự chinh thứ hai tại Vézelay, Giáo hoàng Êugêniô III đã dừng chân tại Fontenay, tự tay xức dầu thánh hiến bàn thờ chính trước sự chứng kiến của người thầy cũ là Thánh Bernard thành Clairvaux, mười vị hồng y, tám vị giám mục và hàng trăm viện phụ khắp châu Âu.

IIIBố Cục Chuẩn Mực Của Một Thành Phố Đan Tu Tự Cung Tự Cấp

Mặt bằng tổng thể của Tu viện Fontenay là sách giáo khoa bằng đá hoàn chỉnh nhất về quy hoạch kiến trúc dòng Xitô thế kỷ 12. Mọi hạng mục được sắp xếp chặt chẽ quanh một hành lang vuông trung tâm theo đúng trình tự sinh hoạt trong ngày của đan sĩ: phía bắc là nhà thờ dành cho giờ kinh thần vụ, phía đông là phòng hội và phòng ngủ tập thể, phía nam là khu nhà ăn và bếp (phần nhà ăn đã bị phá hủy một phần vào thế kỷ 18), còn phía cực nam tách biệt khỏi khu tĩnh tâm là khu vực sản xuất công nghiệp chạy dọc theo suối nước.

Nhà thờ tu viện (Église abbatiale) năm 1147

Xây theo mặt bằng hình chữ thập Latinh hướng về phía đông, dài 66 mét, cánh ngang rộng 30 mét, gian lòng giữa rộng 8 mét và vòm trần cao 16,7 mét (thường làm tròn 17 mét). Toàn bộ mái gian giữa lợp vòm nôi nhọn (berceau brisé) bằng đá vôi đỡ bởi các đai vòm ngang chắc khỏe. Cung thánh hình vuông phẳng lì, hai bên cánh ngang mở ra bốn nhà nguyện nhỏ ngăn vách kín. Nền cung thánh vẫn giữ được các viên gạch lát đất nung tráng men hoa văn hình học từ thế kỷ 13.

Hành lang tu viện bốn cạnh (Cloître)

Trái tim của đời sống đan tu, có mặt bằng gần vuông (các nguồn ghi kích thước phủ bì 36 mét nhân 38 mét, hoặc kích thước lòng hành lang 36 mét nhân 28 mét). Bốn dãy hành lang lợp vòm đá mở ra sân cỏ ở giữa qua tám nhịp cuốn mỗi cạnh, mỗi nhịp lại chia đôi bởi các cặp cột đôi mang đầu cột chạm khắc hình lá cây sậy và búp hoa khép kín vô cùng thanh nhã.

Phòng hội (Salle capitulaire) và Phòng sao chép kinh sách (Scriptorium)

Mở thẳng ra dãy hành lang phía đông qua những khung vòm không lắp cánh cửa, phòng hội lợp vòm gân chéo đỡ trên các trụ đá thấp là nơi cộng đoàn họp mỗi sáng nghe đọc một chương (capitulum) trong Tu luật Thánh Biển Đức và phân công lao động. Kế bên là Phòng chung (Salle des moines) dài 30 mét, nơi các đan sĩ ngồi sao chép thủ bản và làm việc trong nhà.

Phòng ngủ tập thể (Dortoir) với mái gỗ hình sống tàu

Nằm trên tầng lầu chạy suốt chiều dài 56 mét phía trên phòng hội. Các đan sĩ ngủ chung trên các tấm nệm rơm đặt sát sàn không có vách ngăn, đi xuống thẳng cánh ngang nhà thờ bằng cầu thang đá ban đêm để hát kinh Đêm (Matines) lúc 2 giờ sáng. Điểm nhấn ngoạn mục nhất là hệ khung mái bằng gỗ sồi và dẻ gai dựng lại vào cuối thế kỷ 15 mà không dùng đinh sắt, uốn cong như thân một con tàu lớn úp ngược.

Xưởng rèn thủy lực (La Forge) cuối thế kỷ 12

Nằm ở rìa phía nam bên dòng kênh dẫn nước, tòa nhà dài 53 mét tới 53,5 mét, rộng 13,5 mét, chia thành bốn gian lợp vòm gân đá có tám trụ chống kiên cố. Đây là một trong những nhà máy luyện kim công nghiệp cổ nhất châu Âu: các đan sĩ khai thác quặng sắt trên ngọn đồi phía trên tu viện, rồi dùng bánh xe nước quay búa máy đập quặng, vận hành ống bễ lò nung và rèn nông cụ cung cấp cho cả vùng.

Nhà khách, Bệnh xá và Tháp chim bồ câu (Colombier)

Bao quanh khu lõi tu viện là nhà cổng đón khách hành hương, nhà nguyện người lạ (Chapelle des Étrangers) có gác chuông nhỏ thế kỷ 13 dành cho giáo dân không được vào trong nội vi đan viện, tòa bệnh xá (Infirmerie), chuồng chó săn thời các công tước Bourgogne và ngọn tháp tròn nuôi chim bồ câu xây từ thời Trung cổ.

Các hạng mục kiến trúc và kỹ thuật nguyên bản còn bảo tồn tại Tu viện Xitô Fontenay. Nguồn: Hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO (mã 165) và Bộ Văn hóa Pháp (Base Mérimée PA00112529)..
Hạng mục kiến trúcNiên đại xây dựngKích thước và đặc điểm kỹ thuật chính
Nhà thờ tu viện (Église abbatiale)1139 đến 1147Dài 66 m, cánh ngang 30 m, vòm nôi nhọn cao 16,7 m, cung thánh vuông phẳng, 8 cửa sổ mặt tiền biểu trưng Bát Phúc
Hành lang tu viện (Cloître)Nửa sau thế kỷ 12Kích thước 36 x 38 m (hoặc 36 x 28 m tùy cách đo), bốn dãy vòm cuốn đôi bằng đá vôi vàng Bourgogne
Phòng ngủ tập thể (Dortoir)Thế kỷ 12, mái gỗ thế kỷ 15Dài 56 m trên tầng hai, lợp khung vòm gỗ sồi và dẻ gai hình sống tàu úp ngược nối thẳng xuống nhà thờ
Phòng hội và Phòng các đan sĩThế kỷ 12Vòm gân chéo sớm của vùng Bourgogne, phòng các đan sĩ dài 30 m dùng làm nơi sao chép sách
Xưởng rèn và xay lúa (La Forge)Cuối thế kỷ 12 (khoảng 1190 đến 1200)Dài 53 đến 53,5 m, rộng 13,5 m, bốn gian vòm đá, vận hành búa rèn sắt và cối xay bằng bánh xe sức nước
Vườn cảnh quan và hệ thống hồ nướcThế kỷ 12, tôn tạo 1996Kênh đào dẫn nước suối, hồ nuôi cá chép phục vụ mùa chay và khu vườn cây thuốc xếp hạng Jardin remarquable năm 2004

IVThế Đất Và Hướng

Trước hết cần nói rõ rằng Công giáo và dòng Xitô không dạy phong thủy theo lý thuyết âm dương ngũ hành Á Đông. Việc các đan sĩ dòng Xitô luôn chọn xây tu viện dưới đáy thung lũng xuất phát từ quy định thực tiễn trong Tu luật Thánh Biển Đức (Chương 66 đòi hỏi trong khuôn viên đan viện phải có sẵn nguồn nước, cối xay và vườn tược để đan sĩ không phải đi ra ngoài thế gian) và truyền thống riêng của Thánh Bernard, được đúc kết trong câu ngạn ngữ Latinh thời Trung cổ: Bernardus valles, colles Benedictus amabat (Bernard yêu thung lũng, Biển Đức chuộng đồi cao). Những phân tích dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép hình thế cổ truyền của thư viện Vạn Đạo Đường để quý vị thấy sự gặp gỡ kỳ thú giữa quy hoạch thủy lợi đan viện phương Tây và nguyên lý tàng phong tụ khí phương Đông.

Thế đất và hướng

Xét trên bình đồ địa lý vùng Châtillonnais và Auxois, Tu viện Fontenay tọa lạc tại tọa độ 47,6397 độ vĩ bắc, 4,3893 độ kinh đông, nằm gọn trong một thung lũng hẹp hình chiếc nôi ở độ cao khoảng 240 mét so với mực nước biển, bốn bề bao bọc bởi những sườn đồi đá vôi phủ rừng rậm cao trên 300 mét. Trong phép xem hình thế cổ truyền, cấu trúc địa hình bốn mặt núi rừng khép kín và trũng ở giữa như lòng chảo được gọi là oa huyệt (huyệt tổ chim) hay cách cục sơn hoàn thủy bão. Các dãy đồi rừng xã Marmagne ở phía bắc, phía đông và phía nam đóng vai trò là hậu chẩm, tả Thanh Long và hữu Bạch Hổ ôm chặt lấy nội vi đan viện, chặn đứng những luồng gió lạnh mùa đông của vùng cao nguyên Bourgogne, giúp sinh khí và hơi ấm của mạch nước ngầm hội tụ yên tĩnh dưới lòng thung lũng.

Về thủy pháp, chính địa danh Fontanetum (vùng đất nhiều mạch suối) đã chỉ rõ yếu tố quyết định linh khí của nơi này. Hai dòng suối tự nhiên là suối Fontenay (Ruisseau de Fontenay) chảy từ phía đông và suối Étang (Ruisseau de l'Étang) chảy từ phía đông bắc hợp lưu ngay tại đầu thung lũng, trước khi chảy về phía tây để đổ vào sông Brenne. Khi dời tu viện từ sườn đồi xuống đáy thung lũng năm 1130, các đan sĩ đã thực hiện một công trình trị thủy chuẩn mực theo phép dẫn thủy nhập đường: họ đắp đập giữ nước ở thượng nguồn phía đông làm hồ nuôi cá (tạo thành một tụ thủy minh đường phẳng lặng như gương), sau đó chia nước thành các kênh ngầm và mương đá chảy dọc theo rìa phía nam của tu viện. Dòng nước trong sạch đi qua nhà bếp, cuốn trôi chất thải ở khu vệ sinh rồi dồn sức quay bánh xe gỗ tại Xưởng rèn trước khi thoát ra thủy khẩu phía tây theo hướng uốn khúc mềm mại.

Về trục hướng, nhà thờ tu viện được định vị chuẩn xác theo trục tọa tây hướng đông (lối vào ở mặt tây, cung thánh và bàn thờ chính hướng về phía đông hơi chếch nam theo vị trí Mặt Trời mọc vào dịp thu phân khi thánh hiến tháng 9 năm 1147). Vào buổi sáng, ánh nắng xuyên qua năm ô cửa sổ vòm tròn ở tường hậu cung thánh, còn vào buổi chiều tà, nắng chiếu qua bảy ô cửa sổ xếp thành hai tầng ở mặt tiền phía tây (tổng cộng mười hai ô cửa ứng với Mười Hai Tông Đồ, hoặc tám ô cửa sổ lớn nhỏ ở đầu hồi ứng với Bát Phúc). Sự vận hành của ánh sáng mặt trời và tiếng nước chảy hiền hòa quanh bốn hành lang đã biến đáy đầm lầy hoang sơ xưa kia thành một đạo tràng thanh tịnh bậc nhất phương Tây.

VCác Ngày Kỷ Niệm Lịch Sử, Hòa Nhạc Thánh Và Đời Sống Văn Hóa

Do cộng đoàn đan sĩ dòng Xitô tại Fontenay đã ngừng hoạt động sau cuộc Cách mạng Pháp năm 1791 và khu di tích hiện do gia đình Aynard trực tiếp bảo tồn như một quần thể di sản văn hóa lịch sử, nơi đây không còn cử hành các giờ kinh thần vụ hàng ngày của đan viện. Tuy nhiên, lịch văn hóa và tâm linh hàng năm tại Fontenay vẫn gắn chặt với các mốc kỷ niệm lịch sử của dòng Xitô theo dương lịch, kết hợp với các chương trình âm nhạc cổ điển và thánh ca vang vọng dưới mái vòm đá Romanesque có độ vang âm (acoustics) tuyệt hảo.

Các kỳ sinh hoạt văn hóa, âm nhạc và ngày kỷ niệm truyền thống gắn với Tu viện Xitô Fontenay. Nguồn: Trang chính thức Abbaye de Fontenay và lịch sự kiện Bộ Văn hóa Pháp..
Thời gianTheo lịch nàoSự kiện / Lễ kỷ niệmNội dung
Tháng 5 và tháng 6Dương lịchLễ hội Âm nhạc tại Tu viện Fontenay (Festival Musique à Fontenay) và Ngày hội Vườn (Rendez-vous aux jardins)Chuỗi hòa nhạc thánh ca, nhạc bình ca Gregorian và nhạc cổ điển trình diễn trực tiếp trong lòng nhà thờ tu viện năm 1147 có âm học tự nhiên xuất sắc, kết hợp trưng bày nghệ thuật làm vườn truyền thống.
15 tháng 8Dương lịchĐại lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (bổn mạng các đan viện Xitô)Ngày lễ tôn kính Đức Trinh Nữ Maria, vị bảo trợ tối cao của toàn thể dòng Xitô và của ngôi nhà thờ tu viện Fontenay cũng như pho tượng Đức Mẹ thế kỷ 13.
20 tháng 8Dương lịchLễ kính Thánh Bernard thành ClairvauxNgày lễ phụng vụ Công giáo tưởng nhớ vị Tiến sĩ Hội Thánh đã đích thân sáng lập đan viện Fontenay năm 1118 và định hình kiến trúc khổ hạnh của toàn khu di tích.
Thứ Bảy và Chủ Nhật tuần thứ ba tháng 9Dương lịchNgày Di sản châu Âu (Journées européennes du patrimoine) và kỷ niệm thánh hiến nhà thờ (21 tháng 9)Trùng với dịp kỷ niệm ngày Giáo hoàng Êugêniô III thánh hiến nhà thờ (21 tháng 9 năm 1147), đan viện tổ chức các buổi trình diễn rèn sắt thủ công bằng búa máy thủy lực tại Xưởng rèn thế kỷ 12 và thuyết minh khảo cổ chuyên sâu.

Trong bức tranh chung của các đại thánh địa Công giáo tại Pháp, nếu Nhà thờ Đức Bà Paris thể hiện đỉnh cao của nghệ thuật Gothic đô thị, Đan viện Mont-Saint-Michel sừng sững trên đảo đá giữa thủy triều Normandy, và Đền thánh Rocamadour treo mình trên vách vực đá vôi đón hàng vạn khách hành hương, thì Tu viện Fontenay lại đại diện cho chiều kích chiêm niệm hướng nội trong tĩnh lặng của các đan sĩ ẩn mình giữa rừng sâu. Nhiều đoàn tu sĩ, chủng sinh và khách hành hương Việt Nam khi tìm hiểu lịch sử các dòng tu chiêm niệm tại Pháp (như dòng Xitô và dòng khổ tu Trappist, vốn hiện diện tại Việt Nam qua Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn và Phước Sơn) đều tìm về Fontenay như một cuộc trở về cội nguồn thế kỷ 12 của gia đình đan tu.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đường tới
Từ ga tàu cao tốc Gare de Lyon ở Paris, quý vị đi tàu TGV khoảng 1 giờ đồng hồ tới thẳng ga Montbard (tỉnh Côte-d'Or), từ ga Montbard đi taxi, xe đạp hoặc đi bộ xuyên rừng theo đường D32 qua xã Marmagne khoảng 5,5 km về phía đông bắc là tới thung lũng Tu viện Fontenay.
Toạ độ
47.6397, 4.3893
Khi tới nơi

Toàn bộ Tu viện Fontenay nằm giữa khu rừng và thung lũng suối tự nhiên có nhiều đường sỏi đá, bậc thang gỗ cổ và thảm cỏ ẩm, vì vậy quý vị nên mang giày đi bộ êm chân và áo khoác nhẹ ngay cả trong mùa hè vì lòng nhà thờ đá vôi và khu xưởng rèn cạnh suối luôn mát lạnh. Khi bước vào nhà thờ tu viện, hành lang bốn cạnh và phòng ngủ tập thể trên lầu, quý vị xin giữ giọng nói trầm khẽ để cảm nhận trọn vẹn bầu không khí tĩnh lặng và độ vang âm tự nhiên mà các đan sĩ thế kỷ 12 đã dày công kiến tạo, đồng thời không bước lên các mảng gạch lát nền tráng men cổ từ thế kỷ 13 đang được bảo vệ trong cung thánh.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tu viện Xitô Fontenay (Abbaye de Fontenay)

Contribute photos, information or video for Fontenay Abbey

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tu viện Xitô Fontenay do ai sáng lập và vào năm nào?

Tu viện Fontenay được sáng lập vào năm 1118 bởi chính Thánh Bernard thành Clairvaux, vị Tiến sĩ Hội Thánh và nhà cải cách lớn của dòng Xitô (Cistercian). Ngài đã cử mười hai đan sĩ từ đan viện Clairvaux do người em họ là Geoffroy de la Roche-Vanneau dẫn đầu tới vùng rừng Marmagne lập đan viện, sau đó công trình được dời xuống đáy thung lũng suối hiện nay vào năm 1130.

Vì sao nhà thờ của Tu viện Fontenay không có tháp chuông cao và không có kính màu sặc sỡ?

Theo lý tưởng khổ hạnh và cải cách đan tu của Thánh Bernard thành Clairvaux, kiến trúc dòng Xitô loại bỏ hoàn toàn tháp chuông lớn, kính màu sặc sỡ, tranh bích họa và phù điêu quái thú nhằm tránh làm phân tán tâm trí đan sĩ trong giờ cầu nguyện. Mọi vẻ đẹp của nhà thờ chỉ dựa vào tỷ lệ hình học thuần khiết của đá vôi vàng và ánh sáng tự nhiên.

Ai là người đã tài trợ xây dựng và ai đã thánh hiến nhà thờ Tu viện Fontenay?

Nhà thờ tu viện được xây dựng từ năm 1139 đến năm 1147 nhờ nguồn tài trợ lớn của Giám mục giáo phận Norwich (Anh quốc) sang tị nạn tại đây, người được biên niên sử Pháp gọi là Ebrard de Montfort và sử liệu Anh ghi là Everard of Calne. Ngày 21 tháng 9 năm 1147, Giáo hoàng Êugêniô III đã đích thân thánh hiến nhà thờ trước sự hiện diện của Thánh Bernard cùng mười hồng y.

Xưởng rèn tại Tu viện Fontenay có giá trị lịch sử đặc biệt như thế nào?

Xưởng rèn (La Forge) xây dựng vào cuối thế kỷ 12 tại phía nam tu viện dài khoảng 53 mét là một trong những nhà máy luyện kim công nghiệp chạy bằng sức nước cổ xưa nhất còn tồn tại ở châu Âu. Các đan sĩ đã khai thác quặng sắt trên đồi và dẫn nước suối Fontenay làm quay bánh xe vận hành búa máy đập quặng và ống bễ lò rèn.

Nhờ đâu Tu viện Fontenay không bị phá hủy sau cuộc Cách mạng Pháp năm 1789?

Năm 1791, chính quyền Cách mạng Pháp giải thể đan viện và đem bán đấu giá khu đất. Thay vì bị tháo dỡ lấy đá xây dựng như nhiều tu viện khác, Fontenay được chuyển đổi thành nhà máy sản xuất giấy và thuộc quyền sở hữu của dòng họ Montgolfier từ năm 1820. Đến năm 1906, ông Édouard Aynard mua lại và tháo dỡ toàn bộ xưởng máy để phục hồi nguyên trạng kiến trúc thế kỷ 12.

›Đọc Tiếp