Bước qua cổng Nghi môn dưới chân đồi rồi thong thả men theo những bậc gạch cổ lên đỉnh núi Phúc Sơn (còn gọi là núi Phúc Đức hay núi Nác) giữa lòng đô thị Bắc Ninh, quý vị sẽ thấy một quần thể kiến trúc gỗ lim lợp ngói mũi hài thâm nghiêm ẩn mình dưới bóng thông và đại cổ thụ. Ngay giữa nhà Bi đình và hai dãy Tả vu, Hữu vu là những tấm bia đá xanh Thanh Hóa khắc chữ Hán sắc nét, lưu danh hàng trăm bậc hiền tài của vùng đất từng được dân gian ngợi ca bằng câu phương ngôn nổi tiếng: Một giỏ ông Đồ, một bồ ông Cống, một đống ông Nghè, một bè Tiến sĩ, một bị Trạng nguyên, một thuyền Bảng nhãn.
Trong hệ thống các văn miếu hàng tỉnh ở Việt Nam chỉ đứng sau Văn Miếu - Quốc Tử Giám tại kinh đô Thăng Long và Văn Miếu Huế, Văn Miếu Bắc Ninh giữ một vị thế độc tôn về mật độ khoa bảng. Suốt 845 năm lịch sử khoa cử Nho học Việt Nam từ khoa thi đầu tiên năm Ất Mão (1075) đến khoa thi cuối cùng năm Kỷ Mùi (1919), riêng vùng đất Kinh Bắc - Bắc Ninh đã đóng góp tới 677 vị Đại khoa, chiếm gần một phần ba tổng số Tiến sĩ của cả nước, bắt đầu từ vị khai khoa Lê Văn Thịnh cho đến những bậc danh nho cuối triều Nguyễn.
IThánh Đạo Nho Gia Và Truyền Thống Khoa Bảng Đứng Đầu Cả Nước Của Xứ Kinh Bắc
Văn Miếu Bắc Ninh là công trình thờ tự chính thống của Nho giáo tại trấn Kinh Bắc xưa (sau là tỉnh Bắc Ninh). Tại tòa Hậu đường và Tiền tế, trung tâm phụng thờ là Chí Thánh Tiên Sư Khổng Tử (551 đến 479 trước Công nguyên), bốn học trò xuất sắc nhất của ngài là Tứ Phối (Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử), các bậc Thập Triết cùng Chu Văn An, người thầy mẫu mực của nền giáo dục Việt Nam, và các vị Tiên hiền, Đại khoa quê hương Kinh Bắc.
Theo tư tưởng Nho giáo truyền thống, Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nếu Văn Miếu ở kinh đô là nơi nhà vua đích thân tế lễ Tiên thánh và mở trường Quốc Tử Giám đào tạo nhân tài cho thiên hạ, thì Văn Miếu hàng trấn, hàng tỉnh lại là nơi hội tụ văn mạch (văn mạch) của cả một vùng địa linh nhân kiệt. Việc lập Văn Miếu Bắc Ninh không chỉ để các quan Đốc học, Giáo thụ, Huấn đạo cùng hàng ngàn nho sinh hàng năm về tế lễ mùa xuân và mùa thu (xuân thu nhị kỳ), mà còn là thiết chế tôn vinh sự học, khuyến khích con em từ các làng quê nghèo bên bờ sông Cầu, sông Đuống dùi mài kinh sử để bước lên bảng vàng giúp dân giúp nước.
Những con số thống kê từ sử liệu đăng khoa lục và hệ thống văn bia tại Văn Miếu Bắc Ninh cho thấy sức vóc phi thường của vùng đất cổ Bắc Ninh - Kinh Bắc. Trong tổng số 189 khoa thi đại khoa của các triều đại phong kiến Việt Nam với khoảng gần 2.900 vị đỗ Tiến sĩ, riêng vùng đất Kinh Bắc (bao gồm tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Bắc Giang cũ và một số huyện thuộc Gia Lâm, Đông Anh, Văn Lâm) đã có tới 677 vị đỗ Đại khoa (từ Tiến sĩ, Hoàng giáp cho đến Tam khôi), trong đó có 17 vị Trạng nguyên trên tổng số 47 vị Trạng nguyên của cả nước (chiếm hơn một phần ba). Người mở đầu cho nền khoa cử Đại Việt chính là Thái sư Lê Văn Thịnh (quê ở xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh), vị Thủ khoa của kỳ thi Minh kinh bác học đầu tiên do vua Lý Nhân Tông mở vào tháng 2 năm Ất Mão (1075). Những làng khoa bảng lừng danh như Kim Đôi (25 Tiến sĩ), Mộ Trạch, Tam Sơn (17 Tiến sĩ, có đủ Tam khôi), Hương Mặc, Nội Duệ, Đông Ngàn đã làm nên diện mạo văn hiến rực rỡ được khắc ghi vĩnh cửu tại ngôi miếu này.
Nhiều người thường nghĩ rằng danh sách các vị Tiến sĩ khắc tại Văn Miếu Bắc Ninh chỉ là bản sao chép rút gọn từ 82 bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội. Thực tế hoàn toàn ngược lại: tại Văn Miếu Hà Nội hiện chỉ còn bia từ khoa thi năm 1442 (triều Lê Thái Tông) đến năm 1779, thiếu toàn bộ các khoa thi thời Lý, thời Trần, thời Hồ, đầu thời Lê sơ, thời Mạc và thời Nguyễn. Chính bộ 12 bia Kim bảng lưu phương tại Văn Miếu Bắc Ninh đã bổ khuyết vô giá cho lịch sử khoa cử Việt Nam khi ghi chép đầy đủ danh tính các vị đại khoa Kinh Bắc xuyên suốt từ khoa thi năm 1075 thời Lý cho đến tận cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
IITừ Núi Châu Sơn Thời Lê Sơ Đến Cuộc Đại Di Dời Về Núi Phúc Sơn Năm 1893
Trải qua hơn năm thế kỷ tồn tại, Văn Miếu Bắc Ninh đã hai lần thay đổi vị trí tọa lạc giữa các ngọn núi linh thiêng của vùng đất Kinh Bắc, gắn liền với tâm huyết gìn giữ đạo học của các thế hệ quan Đốc học và Hội Tư văn hàng tỉnh.
Theo sách Đại Nam nhất thống chí và Bắc Ninh tỉnh địa dư chí, Văn Miếu trấn Kinh Bắc được khởi dựng từ thời Lê sơ (thế kỷ 15) tại khu vực núi Châu Sơn thuộc sơn phận xã Thị Cầu, huyện Võ Giàng (nay thuộc phường Thị Cầu). Đến năm Gia Long nguyên niên (1802) và năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), triều đình nhà Nguyễn hai lần cho đại trùng tu Văn Miếu tại Thị Cầu với quy mô bề thế. Năm Kỷ Sửu, niên hiệu Thành Thái nguyên niên (1889), quan Đốc học tỉnh Bắc Ninh là Cử nhân Đỗ Trọng Vĩ (người làng Do Nha, huyện Quế Dương) đã dày công sưu tầm các bộ đăng khoa lục và gia phả các dòng họ để biên soạn và cho khắc dựng bộ 12 tấm bia đá Kim bảng lưu phương cùng tấm bia bài tựa đặt tại Văn Miếu Thị Cầu.
Về niên đại di dời Văn Miếu về núi Phúc Sơn và đợt đại trùng tu năm Bảo Đại thứ 3 (1928), các nguồn sử liệu và văn bia tại di tích cho phép tái dựng mạch lạc hai dấu mốc thường bị một số bài báo gộp chung. Năm Thành Thái thứ 5 (1893), do khu vực đồi Thị Cầu bị quân Pháp chiếm đóng làm đồn binh và pháo đài, các bậc thân hào và Hội Tư văn tỉnh Bắc Ninh đã quyết định di dời toàn bộ Văn Miếu cùng hệ thống 12 bia Tiến sĩ từ Thị Cầu về dựng lại trên đỉnh núi Phúc Sơn thuộc khu Thị Chung (xưa thuộc xã Thị Chung, tổng Đỗ Xá, sau thuộc phường Tiền An / Đại Phúc, nay thuộc khu vực phường Võ Cường / Kinh Bắc). Đến năm Mậu Thìn, niên hiệu Bảo Đại thứ 3 (1928), Văn Miếu Bắc Ninh được đại trùng tu một lần nữa với kiến trúc gỗ lim hoàn chỉnh như ngày nay, nhân dịp này, tỉnh Bắc Ninh đã dựng tấm bia đá lớn Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn Miếu bi ký đặt tại nhà Bi đình ở trung tâm và hoàn thiện việc khắc bổ sung các vị đỗ đại khoa cho đến khoa thi cuối cùng năm 1919.
- 1075Lê Văn Thịnh đỗ đầu khoa thi Nho học đầu tiênTháng 2 năm Ất Mão (1075), vua Lý Nhân Tông mở khoa thi Minh kinh bác học đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, danh nho Lê Văn Thịnh (quê Gia Bình, Bắc Ninh) đỗ Thủ khoa, mở đầu truyền thống khoa bảng Kinh Bắc.
- Thế kỷ 15Khởi dựng Văn Miếu trấn Kinh Bắc tại Thị CầuDưới triều Lê sơ, Văn Miếu của xứ Kinh Bắc được khởi dựng trên sườn núi Châu Sơn thuộc sơn phận xã Thị Cầu, huyện Võ Giàng để tế tự Khổng Tử và các bậc tiên hiền.
- 1802 & 1844Hai đợt trùng tu lớn dưới triều Gia Long và Thiệu TrịNăm Gia Long thứ nhất (1802) và năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), Văn Miếu Bắc Ninh tại Thị Cầu được triều đình nhà Nguyễn và quan tỉnh tu bổ, mở rộng quy mô thờ tự.
- 1889Đốc học Đỗ Trọng Vĩ khắc dựng 12 bia Kim bảng lưu phươngNăm Kỷ Sửu (Thành Thái thứ nhất), Cử nhân Đỗ Trọng Vĩ, Đốc học tỉnh Bắc Ninh, chủ trì biên soạn và khắc dựng 12 tấm bia đá Kim bảng lưu phương ghi danh các vị Đại khoa Kinh Bắc.
- 1893Di dời Văn Miếu từ Thị Cầu về núi Phúc SơnNăm Thành Thái thứ 5 (Quý Tỵ), do đồi Thị Cầu trở thành khu quân sự của Pháp, nhân dân và văn thân Bắc Ninh di dời toàn bộ Văn Miếu và 12 tấm bia Tiến sĩ về tọa lạc trên núi Phúc Sơn.
- 1928Đại trùng tu năm Bảo Đại thứ 3 và dựng bia Bi đìnhNăm Mậu Thìn (Bảo Đại thứ 3), Văn Miếu được đại trùng tu toàn diện gồm Tiền tế, Hậu đường, Bi đình, Tả - Hữu vu và dựng tấm bia bình phong Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn Miếu bi ký.
- 1988Xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa quốc giaNgày 18 tháng 01 năm 1988, Bộ Văn hóa ban hành Quyết định số 28-VH/QĐ công nhận Văn Miếu Bắc Ninh là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.
- 2020Công nhận Bảo vật quốc gia 12 bia Tiến sĩNgày 15 tháng 01 năm 2020, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 88/QĐ-TTg công nhận bộ 12 bia Tiến sĩ Kim bảng lưu phương tại Văn Miếu Bắc Ninh là Bảo vật quốc gia.
IIIKiến Trúc Chữ Công Trên Núi Phúc Sơn Và Bảo Vật Quốc Gia Mười Hai Bia Kim Bảng Lưu Phương
Văn Miếu Bắc Ninh hiện tọa lạc trên khuôn viên rộng khoảng 5.000 mét vuông phủ kín cây xanh trên đỉnh núi Phúc Sơn. Toàn bộ công trình được quy hoạch đăng đối nghiêm ngặt theo trục thần đạo từ chân núi lên đỉnh núi, chia thành ba lớp không gian cao dần theo địa hình sườn đồi: lớp ngoài là Nghi môn và sân hội, lớp giữa là nhà Bi đình cùng hai dãy Tả vu - Hữu vu, lớp trong cùng trên nền cao nhất là khu nội tự Tiền tế - Ống muống - Hậu đường kết cấu theo mặt bằng hình chữ Công (工) truyền thống.
Thông số khảo cổ của Bảo vật quốc gia 12 tấm bia đá Kim bảng lưu phương
Trái tim di sản của Văn Miếu Bắc Ninh là hệ thống 15 tấm bia đá cổ hiện còn lưu giữ tại khu vực trung tâm, nổi bật nhất là Bảo vật quốc gia bộ 12 tấm bia Tiến sĩ mang tiêu đề Kim bảng lưu phương (金榜流芳, nghĩa là Bảng vàng lưu danh thơm). Toàn bộ 12 tấm bia được chế tác từ đá xanh nguyên khối núi Nhội (Thanh Hóa), có kiểu dáng bia dẹt trán cong, kích thước đồng đều nhau: chiều cao khoảng 110 cm (1,10 m đến 1,15 m), chiều rộng 75 cm, độ dày từ 9 cm đến 15 cm. Trán bia chạm nổi hình lưỡng long chầu nguyệt hoặc mặt trời giữa vân mây xoắn, diềm bia chạm hoa dây cúc vạn thọ mềm mại. Sáu tấm bia đánh số lẻ (từ số 1 đến số 11) được đặt trang trọng trong nhà Tả vu (bên trái từ trong nhìn ra), sáu tấm bia đánh số chẵn (từ số 2 đến số 12) đặt trong nhà Hữu vu (bên phải), đi kèm tấm bia thứ 13 là Kim bảng lưu phương tự khắc bài tựa của Đốc học Đỗ Trọng Vĩ nêu rõ mục đích lập bia.
Trên bề mặt đá xanh của 12 tấm bia là hàng vạn chữ Hán khắc chân phương tuyệt đẹp, phân chia khoa mục theo từng triều đại (Lý, Trần, Hồ, Lê, Mạc, Nguyễn) và theo từng huyện của trấn Kinh Bắc xưa. Bia ghi chép tỉ mỉ họ tên, năm đỗ, học vị (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sĩ), quê quán (xã, huyện) và chức vụ cao nhất của 677 vị Đại khoa từ khoa thi năm 1075 đến năm 1919. Ngay giữa trục chính trước sân Tiền tế là tòa Bi đình (nhà bia 4 mái đao cong), nơi đặt tấm bia đại tự Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn Miếu bi ký khắc năm Bảo Đại thứ 3 (1928) có kích thước đồ sộ (cao 200 cm, rộng 160 cm, dày 20 cm) đóng vai trò như một bức bình phong đá che chắn cho tòa Tiền tế 5 gian 2 dĩ và Hậu đường 5 gian bằng gỗ lim chạm khắc tứ linh, tứ quý tinh xảo ở phía sau.
Xây dựng theo thức tứ trụ truyền thống ở chân núi Phúc Sơn, dẫn lối qua những bậc gạch rêu phong lên khoảng sân trung tâm rợp bóng thông và đại cổ thụ.
Nằm chính giữa trục thần đạo, kiến trúc chồng diêm 2 tầng 8 mái đao cong, bên trong dựng tấm bia đá lớn Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn Miếu bi ký cao 2 mét đóng vai trò bình phong tiền án.
Hai dãy nhà 5 gian gỗ lim nằm đối xứng hai bên sân Bi đình, bảo quản Bảo vật quốc gia 12 tấm bia Tiến sĩ khắc năm 1889 (cao 110 cm, rộng 75 cm) ghi danh 677 vị Đại khoa Kinh Bắc.
Làm hoàn toàn bằng gỗ lim theo lối vì kèo giá chiêng chồng rường, treo bức đại tự Vạn Thế Sư Biểu và hệ thống hoành phi câu đối ca ngợi đạo học Khổng Mạnh.
Nằm ở vị trí cao và thâm nghiêm nhất của kết cấu chữ Công, nơi đặt khám thờ và bài vị Chí Thánh Tiên Sư Khổng Tử, Tứ Phối, Thập Triết, Chu Văn An cùng các bậc Tiên hiền Kinh Bắc.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền trên địa hình thực tế của núi Phúc Sơn và vùng đất Bắc Ninh, không phải nội dung chép trong văn bia của Văn Miếu. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt giữa tư liệu lịch sử và kiến giải phong thủy.
Khảo sát tại tọa độ 21,17472 độ vĩ Bắc, 106,06896 độ kinh Đông, việc các bậc danh nho Bắc Ninh năm 1893 chọn núi Phúc Sơn làm nơi tái thiết Văn Miếu thể hiện trình độ tầm long điểmệt bậc thầy của giới khoa bảng Kinh Bắc. Giữa vùng đồng bằng Bắc Ninh có hàng chục ngọn đồi thấp nhấp nhô (vốn được cổ nhân gọi là thế quần tinh tụ hội), núi Phúc Sơn nổi lên như một Kim tinh sơn (núi đầu tròn đầy đặn như chiếc chuông úp) kết hợp với thế Mộc tinh văn bút vươn lên thanh tú. Lưng của khu nội tự Hậu đường và Tiền tế tựa thẳng vào đỉnh cao nhất của núi Phúc Sơn làm hậu chẩm vững chãi, trong khi các lớp nhà Bi đình, Nghi môn hạ thấp dần theo sườn thoải của ngọn núi, tạo thành thế tiền thấp hậu cao, bộ bộ đăng cao (mỗi bước đi vào là một bước thăng tiến lên tầm cao đạo học).
Về sơn hướng và minh đường, trục thần đạo của Văn Miếu Bắc Ninh xoay mặt về hướng Nam chếch Đông (tọa Bắc Tây Bắc hướng Nam Đông Nam), hướng chuẩn mực của các bậc thánh nhân và vương đạo trong Kinh Dịch (Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ), vừa đón trọn gió mát mùa hạ vừa hội tụ dương khí sáng sủa cho chốn văn từ. Phía trước chân núi Phúc Sơn là vùng đất trũng và hồ nước cổ của khu Thị Chung làm nội minh đường tụ thủy, nhìn xa hơn về phương nam và đông nam là các ngọn đồi cổ của vùng Võ Giàng, Tiên Du (như núi Bất Lự, núi Lim - Hồng Vân sơn) nổi lên làm tiền án và triều sơn chầu về như những giá bút nghiên mực đặt trước bàn đọc sách của bậc đại nho. Phía bắc có dòng sông Cầu (Như Nguyệt giang) và phía nam có dòng sông Đuống (Thiên Đức giang) uốn lượn bao bọc toàn bộ châu thổ Kinh Bắc như hai dải ngọc đới khổng lồ, dưỡng nuôi văn xương long mạch để vùng đất này suốt gần một thiên niên kỷ liên tục sản sinh ra gần một phần ba số Tiến sĩ của cả nước.
VLễ Tế Đinh Xuân Thu Và Truyền Thống Dâng Hương Khuyến Học Đầu Xuân
Theo điển lễ Nho giáo cổ truyền từ thời Lê - Nguyễn, Văn Miếu Bắc Ninh cử hành hai kỳ đại lễ quan trọng nhất trong năm vào ngày Đinh đầu tiên của tháng Hai âm lịch (Tế Xuân) và ngày Đinh đầu tiên của tháng Tám âm lịch (Tế Thu), gọi chung là lễ Tế Đinh (Xuân thu nhị kỳ). Ngày nay, bên cạnh các nghi thức tưởng niệm truyền thống, Văn Miếu Bắc Ninh còn là trung tâm của các hoạt động khuyến học, vinh danh nhân tài vào mỗi dịp Tết Nguyên đán và mùa thi cử.
| Thời điểm trong năm | Nghi lễ và Sự kiện | Nội dung và Ý nghĩa văn hóa |
|---|---|---|
| Mùng 1 đến Rằm tháng Giêng âm lịch | Lễ Dâng hương Khai xuân và Xin chữ đầu năm | Nhân dân, học sinh, sinh viên và du khách thập phương về dâng hương Đức Khổng Tử, Chu Văn An và các vị Đại khoa Kinh Bắc, kết hợp hoạt động ông Đồ cho chữ Nho truyền thống tại sân Văn Miếu. |
| Ngày Đinh tháng Hai âm lịch (Mùa xuân) | Lễ Tế Xuân (Xuân tế cổ truyền) | Nghi lễ tế Văn Miếu mùa xuân theo truyền thống Hội Tư văn xứ Kinh Bắc, đọc chúc văn ca ngợi đạo học và tưởng niệm 677 vị Tiến sĩ quê hương được khắc tên trên 12 bia Kim bảng lưu phương. |
| Tháng 5 - Tháng 6 dương lịch (Mùa thi) | Lễ Dâng hương Báo công và Cầu khoa danh | Các trường học, dòng họ khoa bảng và sĩ tử trong tỉnh về dâng hương báo công học tập, tiếp nối truyền thống hiếu học ngàn năm của cha ông. |
| Ngày Đinh tháng Tám âm lịch (Mùa thu) | Lễ Tế Thu (Thu tế cổ truyền) | Kỳ đại tế mùa thu tương ứng với lễ Tế Xuân trong quy chế Xuân thu nhị kỳ của Văn Miếu hàng tỉnh thời phong kiến. |
| Dịp kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11) | Lễ Tôn vinh các nhà giáo và học sinh xuất sắc | Tỉnh Bắc Ninh tổ chức lễ dâng hương tri ân Vạn thế sư biểu và trao thưởng cho các học sinh đạt giải quốc gia, quốc tế ngay trước nhà Bi đình. |
Mỗi độ xuân về, hình ảnh các thế hệ học trò xứ Kinh Bắc đứng lặng trước hai dãy nhà Tả vu, Hữu vu để tìm đọc tên tuổi vị Tiến sĩ của làng mình, dòng họ mình trên những tấm bia đá xanh trăm tuổi đã trở thành một nét đẹp văn hóa sâu lắng. Mười hai tấm bia Kim bảng lưu phương vì thế không phải là những phiến đá lạnh lùng của quá khứ, mà là ngọn lửa truyền đời nhắc nhở hậu thế về giá trị vĩnh cửu của tri thức và nhân cách kẻ sĩ.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Núi Phúc Sơn, khu Thị Chung, phường Võ Cường / phường Kinh Bắc (phường Đại Phúc / phường Tiền An / phường Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh cũ), tỉnh Bắc Ninh
- Đường tới
- Văn Miếu tọa lạc trên núi Phúc Sơn thuộc khu Thị Chung (khu vực phường Võ Cường / phường Kinh Bắc, tức phường Đại Phúc và phường Tiền An cũ), ngay trung tâm đô thị Bắc Ninh. Từ Quốc lộ 1A (cao tốc Hà Nội - Bắc Giang) rẽ vào đường Ngô Gia Tự hoặc đường Nguyễn Trãi - Lý Thái Tổ vào trung tâm Bắc Ninh khoảng 2 km là tới chân núi Phúc Sơn.
- Toạ độ
- 21.17472, 106.06896
Văn Miếu Bắc Ninh nằm trên đỉnh núi Phúc Sơn yên tĩnh, là không gian tôn nghiêm của đạo học Nho gia. Khi tới thăm miếu, xin quý vị mặc trang phục lịch sự, đi nhẹ nói khẽ khi bước vào khu vực Tiền tế, Hậu đường và hai nhà Tả vu, Hữu vu. Đặc biệt, bộ 12 tấm bia Tiến sĩ Kim bảng lưu phương là Bảo vật quốc gia độc bản bằng đá xanh, xin quý vị tuyệt đối không sờ tay lên mặt chữ Hán, không tì dựa hay dùng vật cứng cọ xát lên thân bia.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Văn Miếu Bắc Ninh
Contribute photos, information or video for Bắc Ninh Temple of LiteratureThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Văn Miếu Bắc Ninh thờ những ai?
Văn Miếu Bắc Ninh là công trình thờ tự của Nho giáo, thờ chính Chí Thánh Tiên Sư Khổng Tử, Tứ Phối (Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử), Thập Triết, Vạn thế sư biểu Chu Văn An và đặc biệt là tôn vinh 677 vị Đại khoa (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sĩ) của quê hương Kinh Bắc - Bắc Ninh.
Bộ 12 tấm bia đá Kim bảng lưu phương tại Văn Miếu Bắc Ninh có giá trị gì đặc biệt?
Bộ 12 tấm bia đá Kim bảng lưu phương (Bảng vàng lưu danh thơm) do Đốc học Bắc Ninh Đỗ Trọng Vĩ chủ trì biên soạn năm 1889 và được quy tập, tu bổ hoàn chỉnh qua các năm 1893, 1928. Bia khắc tên tuổi, quê quán, chức tước của 677 vị Tiến sĩ xứ Kinh Bắc từ khoa thi đầu tiên năm 1075 (Thái sư Lê Văn Thịnh) đến năm 1919. Ngày 15/01/2020, bộ 12 bia được công nhận là Bảo vật quốc gia.
Vì sao nói xứ Kinh Bắc - Bắc Ninh là vùng đất khoa bảng đứng đầu cả nước?
Trong suốt lịch sử khoa cử phong kiến Việt Nam từ năm 1075 đến năm 1919, vùng đất Kinh Bắc có tới 677 vị đỗ Đại khoa (chiếm gần 1/3 tổng số Tiến sĩ cả nước) và 17 vị đỗ Trạng nguyên trên tổng số 47 Trạng nguyên cả nước. Câu ca dân gian Một đống ông Nghè, một bè Tiến sĩ chính là nói về truyền thống khoa bảng độc nhất vô nhị này.
Văn Miếu Bắc Ninh được xây dựng từ bao giờ và vì sao lại dời về núi Phúc Sơn?
Văn Miếu được khởi dựng từ thời Lê sơ (thế kỷ 15) tại núi Châu Sơn thuộc xã Thị Cầu, huyện Võ Giàng. Đến năm Thành Thái thứ 5 (1893), do đồi Thị Cầu bị quân Pháp chiếm đóng làm đồn binh, nhân dân và Hội Tư văn Bắc Ninh đã di dời toàn bộ Văn Miếu cùng 12 tấm bia Tiến sĩ về dựng lại trên núi Phúc Sơn (khu Thị Chung) và đại trùng tu vào năm Bảo Đại thứ 3 (1928).
Văn Miếu Bắc Ninh được xếp hạng di tích quốc gia vào năm nào?
Văn Miếu Bắc Ninh được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 28-VH/QĐ ngày 18 tháng 01 năm 1988. Sau đó ngày 15 tháng 01 năm 2020, bộ 12 tấm bia Tiến sĩ Kim bảng lưu phương tại Văn Miếu được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 88/QĐ-TTg.